Tác phẩm đạt Giải Ba
Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”
Bút kí dự thi của VŨ NGUYỆT KHÁNH PHƯỢNG
Có một miền đất khi tôi bước chân đến, dù chỉ một lần, mà dường như cả tâm hồn tôi, cả thể phách tôi còn nấn ná, chùng chình mãi không muốn rời. Đó chính là mảnh đất Cồn Thoi - xứ đạo bình yên nằm nép mình bên con đê biển thuộc địa phận xã Bình Minh, tỉnh Ninh Bình. Nơi đây, câu chuyện về những người trao đi “sự giàu có”, trao truyền ánh sáng khi rời cõi tạm đã trở thành nốt nhạc trầm xao xuyến trong bản hoà âm dịu dàng của cuộc sống. Thanh âm ấy còn ngân vang mãi trong lòng tôi…
Cồn Thoi là một giáo xứ thuộc vùng đất mở Kim Sơn, bãi bồi lấn biển, mang vẻ đẹp kháng đạt, hoang sơ như miền Tây của Bắc Bộ bởi không gian sông nước mênh mông cùng với những cánh rừng sú vẹt bạt ngàn đến chân trời. Nơi đây, phần lớn người dân đều bươn chải, kiếm sống bằng nghề trồng lúa, trồng cói, mò cua bắt ốc, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản. Cuộc sống vất vả khó khăn là thế nhưng tình người luôn ăm ắp. Ở đó, người ta suy nghĩ đơn giản, sống cũng đơn giản và quan niệm về hạnh phúc thật giản đơn. Có lẽ vì vậy mà mỗi khi tiếp xúc với bất kì người dân nào nơi đây, ta cũng thấy được sự nồng hậu và chân thành trong từng ánh mắt, từng lời nói.
Tôi đến Cồn Thoi vào một buổi sáng cuối thu hanh hao và lạnh lẽo. Đứng trên triền một con đê dẫn vào xóm đạo bình yên nghe hơi mặn từ biển phả vào mặt, luồn vào tóc mà lòng tôi mơn man dâng lên những cảm xúc thật lạ. Cảnh tượng yên bình quá, ngoài tiếng vi vu của gió, đâu đó lễnh lãng một vài thanh âm của tiếng gà gáy, tiếng của chú chó nhỏ nào “ắng” lên khe khẽ. Sương sớm vẫn giăng mắc, phủ lên khắp không gian một lớp voan huyền ảo, thơ mộng. Tôi đứng hít một hơi thật sâu cho căng đầy lồng ngực thứ hương của cuộc sống vừa quen vừa lạ, tâm trí như lạc vào một cõi mơ mộng nào. Sương dần tan, nắng ửng lên vàng óng. Nắng hong mặt đất làm bật lên mùi của bùn non, mùi nồng mặn của tôm cá ướp, lẫn cả mùi thơm toả ra từ những bó cỏ lác nằm phơi bên đường. Tất cả mỗi lúc một nồng đậm và quyện hoà tạo nên một thức hương vị riêng được gió đem đi ban phát cho khắp dân làng. Phải chăng, từng nhịp thở của con người nơi đây đã thấm đẫm cái dư vị mặn mòi, ấm áp của không gian sống nên ở họ luôn có cái nồng hậu, bao dung sâu nặng nghĩa tình đến vậy.

Bác sĩ thực hiện thao tác lấy giác mạc
Tôi bước chân vào căn nhà của chị Bùi Thị Nhung, một gia đình hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Căn nhà lúp xúp, tuềnh toàng được lợp bằng ngói bro xi - măng nằm lặng lẽ, khiêm nhường cuối khu vườn cằn cỗi. Bức tường vôi trắng đã bong tróc nhiều đám, mái ngói khô giòn chắp vá - chứng tích còn mới từ trận giông lốc vừa quét qua chưa đầy một tháng. Chị đón tôi với cái cười ngại ngùng, có lẽ bởi ít tiếp xúc với người xa lạ. Dù tôi chưa từng gặp chị nhưng nhìn chị quen quá, mái tóc búi tó sau đầu, làn da ngăm ngăm, hai má chàm sạm vì nắng gió. Nhưng ánh mắt và nụ cười hiền lành lắm. Chị lúng túng mời tôi vào nhà, xách vội chiếc ghế nhựa đã ngả màu nâu sậm cho tôi ngồi. Tôi ngước lên nhìn khắp căn nhà như muốn khẳng định lại một điều cứ lấn cấn trong lòng rằng đây chính là mái ấm của năm mẹ con nhà chị? Căn nhà trống trải quá, chẳng có gì ngoài một bộ bàn ghế bằng nhựa, một chiếc giường và một chiếc chạn dùng vừa để chiếc tivi đen trắng - thứ đồ vật duy nhất trong nhà - vừa để vài thứ lặt vặt. Trên tường, treo trang trọng rất nhiều giấy khen và ở vị trí chính giữa, ngay dưới ban thờ người chồng quá cố của chị là Tấm bằng ghi nhận của Bệnh viện Trung ương ghi dòng chữ: “Ghi nhận Nghĩa cử cao đẹp - Ông Vũ Văn Nhất, Xóm 4, Xã Cồn Thoi, Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã hiến tặng giác mạc, đem lại ánh sáng cho người mù.” Tôi bỗng nhận thấy, trong căn nhà nhỏ bé chỉ hơn 30 mét vuông, mưa dột khắp nơi, tài sản quý giá nhất của gia đình nghèo khó này chính là tấm lòng. Chị nhìn tôi phân trần: “Đã mười lăm năm trôi qua kể từ ngày anh ấy ra đi rồi cô ạ! Các cháu đã lớn cả rồi, có đứa đi học, đứa đi làm rồi nhưng chúng vẫn luôn tự hào về bố của chúng. Tấm bằng ghi nhận và những giấy khen của các cháu vẫn nguyên đó, thỉnh thoảng tôi gỡ xuống lau rồi lại treo lên.”
Nét chân chất mộc mạc của chị kéo tôi vào cuộc trò chuyện thân tình như với người chị quen biết từ lâu. Chị bắt đầu cởi mở hơn: “Anh ấy hiền lành lắm. Tôi cứ nhớ mãi câu dặn của anh trước lúc mất: Nhớ hiến giác mạc cho anh nhé. Cứ nhắc đi nhắc lại vậy đấy, sợ tôi quên hoặc sợ tôi vì thương quá mà không làm theo. Bận đầu, tôi cũng sợ lắm. Nghĩ nhiều. Không biết làm thế thì có nên không! Tôi nói với anh ấy: Anh hiến giác mạc rồi sợ không tìm được đường về nhà ta. Anh ấy cười và bảo: Về được chứ, chỉ cần nhớ là tâm hồn có thể trở về…”. Chị nói mà giọng lạc đi nghẹn ngào.
Tôi cũng lặng đi trong tiếng sụt sùi của chị. Quả thực, có những điều tưởng như là không thể, nhưng với những con người nơi đây, những suy nghĩ giản đơn, không tính toán hơn thiệt đã khiến họ biến những điều không thể thành những điều thường nhật, quen thuộc. Chị quệt nhanh giọt nước mắt đang chực rơi xuống, giọng bỗng vút lên: “Tôi tưởng phải làm đại phẫu hay gì gì… Mà nhanh lắm cô ạ. Ngay sau khi anh mất vài giờ, người ta đến làm thủ thuật khoảng vài chục phút rồi đi ngay. Nhẹ nhàng như không có gì xảy ra. Anh nằm đó, gương mặt bình thản, đôi mắt nhắm lại như đang ngủ. Nhìn gương mặt anh lần cuối, tôi mới giải toả được những lo âu trăn trở… Hoá ra, việc hiến giác mạc đơn giản hơn người ta vẫn nghĩ và ý nghĩa của nó thật lớn lao. Anh ấy cho đi, hai người sẽ tìm lại được ánh sáng…”
Đôi mắt chị nhìn ra xa xăm như đang trò chuyện với anh trong cõi nào: “Tôi cũng đăng kí hiến giác mạc rồi cô ạ. Xã hội mình còn nhiều người khổ quá. Họ mù loà, không thấy được ánh sáng, không nhìn thấy được gương mặt người thân. Cha xứ nói, có hàng vạn người đang rất cần giác mạc để cấy ghép mà nguồn thì khan hiếm quá. Làm được gì cho đời mình sẽ cố gắng làm. Miễn sao họ thấy được ánh sáng là mình vui cô ạ!”
Anh Vũ Văn Nhất, chồng chị Bùi Thị Nhung, không phải là người hiến giác mạc đầu tiên ở Cồn Thoi khi ấy. Anh là người thứ 20 ở xã quyết định hiến tặng giác mạc. Người đầu tiên hiến giác mạc thành công là cụ bà Nguyễn Thị Hoa, người cùng ở Cồn Thoi (Kim Sơn, Ninh Bình cũ). Đến nay, đã gần hai mươi năm, người dân Cồn Thoi vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện về bà như một tấm gương sáng tiên phong, thúc đẩy phong trào hiến tặng giác mạc trong cả nước phát triển, lan rộng. Người phụ nữ nhỏ bé mà kiên cường ấy đã một mình chèo chống nuôi tám người con khôn lớn trong tình cảnh chiến tranh, loạn lạc. Cũng chính người phụ nữ ấy đã dũng cảm quyết định hiến tặng giác mạc của mình cho người khiếm thị vào năm 2007. Câu chuyện bắt đầu từ một lời cầu xin gọi ra từ Đắk Lăk, nơi vợ chồng người bạn cũ của con trai cụ, anh Mai Văn Vinh, đang sống. Vợ người bạn là chị Nguyễn Thị Khuy bị mù mắt trái do bệnh lý giác mạc, và cuộc sống của họ vô cùng khổ cực vì chị là lao động chính. Họ khẩn cầu anh Vinh thuyết phục bà cụ hiến tặng giác mạc khi qua đời, một phương cách duy nhất để chị thấy lại được ánh sáng. Thoạt đầu, nghe lời khẩn cầu ấy, anh Vinh kiên quyết từ chối, bởi anh tưởng rằng việc đó đồng nghĩa với hai con mắt của mẹ mình sẽ bị khoét đi. Anh không thể chấp nhận điều đó. Thời ấy, “hiến giác mạc” là một cụm từ vô cùng xa lạ với hầu hết người dân. Họ rùng mình khi nghĩ đến, họ mỉa mai, họ nghi hoặc… Không phải chỉ bởi họ hình dung cái cách người ta đến và mang giác mạc của mình đi khi mình chết, mà còn bởi quan niệm ăn sâu vào tiềm thức của người Việt về cái chết “toàn thây”. Việc chấp nhận mất đi một bộ phận trên cơ thể người chết là điều bất hạnh, vô phúc…
Nhưng rồi, giữa những ngày mẹ lâm bệnh nặng, những lời khẩn cầu của vợ chồng chị Khuy cứ day dứt mãi trong lòng anh. Nhờ những tài liệu tìm hiểu, anh Vinh mới vỡ lẽ rằng các bác sĩ sẽ chỉ lấy đi một màng mỏng trong suốt trên đôi mắt người hiến, hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến con ngươi. Dẫu đã hiểu, anh vẫn sợ mẹ tủi thân, cả nghĩ trong phút lâm chung, nên đã đem nỗi lòng giằng xé tâm sự với Cha Antôn Đoàn Minh Hải, linh mục Chính xứ Cồn Thoi.
Trước sự giải thích thấu đáo của vị linh mục, bà Nguyễn Thị Hoa, người giáo dân kính Chúa, yêu nước và có lòng nhân ái tuyệt vời ấy, đã không mảy may do dự, gật đầu đồng ý hiến tặng giác mạc của mình. Quyết định ấy đã là tấm thẻ ánh sáng đầu tiên được trao đi. Và từ đôi mắt đã khép lại của cụ, chị Nguyễn Thị Khuy cùng chị Lê Thị Tuyết, 23 tuổi, ở Thanh Hóa, đã may mắn là hai bệnh nhân đầu tiên được đón nhận nguồn sáng từ nghĩa cử đẹp đẽ ấy. Đứng trước di ảnh của cụ Hoa, chị Khuy đã vô cùng xúc động và xin được làm con của cụ, nguyện “sống để bụng, chết mang theo” ân đức lớn lao ấy. Dù sau đó có những “điều ra tiếng vào” ác ý cho rằng giác mạc bán được tiền, nhưng nghĩa cử cao đẹp của cụ Hoa vẫn là ngọn hải đăng, soi rọi cho phong trào nhân ái lan rộng, đưa Cồn Thoi trở thành tấm gương sáng về tinh thần “thương người như thể thương thân” của cả nước.
Theo bước chân chị Phạm Ngọc Bích - cán bộ Chữ thập đỏ Cồn Thoi - trên con đường liên xóm đang làm thênh thang, tôi vẫn miên man trong suy nghĩ về những con người và mảnh đất nơi đây. Kì lạ thay, vùng đất nghèo này lại trở thành một “địa chỉ đỏ”, nơi có nhiều người đăng ký hiến giác mạc nhất cả nước. Giữa bao nhiêu rào cản, khó khăn trong việc tuyên truyền động viên người dân tham gia phong trào hiến giác mạc, có những con người không quản ngày đêm, không ngại mưa lũ với tinh thần sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ 24/24. Họ là những “tuyên truyền viên” không lương, mang theo mình niềm tin vào nghĩa cử cao đẹp, đi gõ cửa từng mái nhà, từng số phận.
Người dân nơi đây ai cũng biết đến Cha Antôn Đoàn Minh Hải, linh mục Chính xứ Cồn Thoi, người đã không ngần ngại xuống tận nhà cụ Hoa để giải thích và thuyết phục gia đình đồng ý hiến giác mạc, đem đến ánh sáng cho người khác. Ông từng khẳng định: “Đến khi nào Chúa gọi tôi đi, tôi cũng xin hiến toàn bộ thân thể cho ngành y tế”. Đó là ông Trần Đức Hiệp, nguyên Chánh trương Giáo xứ Văn Hải, ở tuổi 85 vẫn kiên trì tới tận từng nhà để phổ biến, vận động tư vấn, phân tích cho người dân, “không kể ban ngày mà ban đêm cũng phải đi”.
Nhưng có lẽ, câu chuyện về người Chi hội trưởng Hội Chữ thập đỏ xã Cồn Thoi, ông Nguyễn Đình Tú, lại là một minh chứng hùng hồn nhất cho triết lý “sống làm gương” ấy. Theo lời chị Bích kể lại, ông Tú là một trong những cộng tác viên tích cực nhất, hiệu quả nhất của phong trào ý nghĩa này. Trong hành trình lẻ loi đơn độc và đầy rẫy những thử thách, ông vẫn kiên trì, bền bỉ thuyết phục người dân qua những cuộc trò chuyện thân tình, những buổi hội họp… Ông luôn tâm niệm một điều là “sống làm gương, làm mẫu”, giúp mọi người hiểu bằng hành động thiết thực và những trải nghiệm quý giá. Vượt qua nỗi đau mất mát, ông đã vận động được chính đứa con gái thiếu may mắn của mình. Người con gái 20 tuổi của ông, một đóa hoa vừa chớm nở, đã phải đối diện với cái chết vì bệnh tim bẩm sinh. Chính giây phút sinh tử ấy, cô gái trẻ đã tự nguyện hiến tặng giác mạc, ghi tên vào cuốn sổ vàng truyền thống ngành mắt Việt Nam. Bằng việc làm cao cả của người con gái, ông Tú đã biến nghĩa cử nhân đạo từ lý thuyết thành máu thịt, từ lời rao giảng thành những sự thật hiện hữu có sức lan toả mạnh mẽ nhất.
Ông Tú tự hào về đứa con gái bé nhỏ của mình bởi cô đã nối dài tuổi 20 trong mắt nhìn của hai người khác. Đó là những tấm thẻ ánh sáng tinh thần vô giá, món quà của tình người được trao đi. Từ câu chuyện của gia đình ông, người dân thêm tin yêu và tin tưởng vào những điều ông Tú nói, những việc ông Tú làm. Hiến giác mạc, dần dần không còn là chuyện xa lạ, mà trở thành câu chuyện chung của những người dân nơi đây, nơi họ nhận thấy một điều rất đơn giản, không phải là “cho đi để nhận lại” mà “cho đi để thêm nhiều người bớt khổ”…. Hành động của người tuyên truyền viên này, không chỉ là lời nói, mà là cả một sự chấp nhận hi sinh, đã định hình nên một niềm tin sống mãnh liệt và cao quý trong cộng đồng.
Phong trào lan rộng như triều cường lấn biển, biển Cồn Thoi không chỉ là nơi có người hiến đầu tiên (cụ Nguyễn Thị Hoa) mà còn là nơi tập trung số lượng người hiến tặng đông nhất cả nước. Nếu như toàn quốc đã có hơn 10.000 người đăng ký hiến tặng giác mạc, thì riêng Cồn Thoi, cho đến nay, đã có 460/985 người hiến giác mạc trên cả nước (số liệu do Ban Tổ chức cung cấp), một con số vượt xa tưởng tượng đối với một xã nghèo ven biển.
Nhìn lại hành trình của tấm thẻ ánh sáng, chúng ta không thể nào không cúi mình trước những người đã miệt mài gieo mầm hy vọng. Người hiến tặng vĩnh viễn không bao giờ được nhìn thấy niềm hạnh phúc của người mang giác mạc mình hiến tặng, nhưng nghĩa cử cao đẹp của họ sẽ còn sống mãi trong lòng mọi người, như những tấm gương sáng về tinh thần “thương người như thể thương thân”, sống tốt đời đẹp đạo. Bởi lẽ, sự hi sinh thầm lặng của họ chính là “con đường sáng đầy ý nghĩa”, mở ra hy vọng cho hàng trăm nghìn bệnh nhân đang mòn mỏi chờ đợi giác mạc ở nước ta. Họ đã mang lại hạnh phúc cho những người khác, cho cuộc đời mới. Chính họ đã chứng minh một điều: dù thân xác có hóa thành cát bụi, nhưng tấm lòng vì mọi người sẽ lưu lại một thứ ánh sáng vĩnh cửu, soi rọi vào tận cùng tâm hồn của chúng ta.
Chiều xuống dần. Màu nắng cuối ngày trải dài trên đê biển, mềm như khăn lụa ai phơi. Tôi rời Cồn Thoi khi cả cánh rừng sú vẹt chỉ còn là một dải màu sẫm lại trong hoàng hôn, kẻ một đường thẳng tắp dưới chân trời. Trên đường về, tôi cứ nghĩ mãi: Ánh sáng, có lẽ không bắt đầu từ đôi mắt mà nó được thắp lên từ trái tim của con người. Nơi ấy, những con người không toan tính vụ lợi, những con người sẵn sàng sẻ chia vô điều kiện đã giúp tôi hiểu rằng: có thứ ánh sáng không bao giờ tắt ngay cả khi con người rời bỏ cuộc đời. Ánh sáng ở cuối con đường vẫn tiếp tục được nhen lên trong một hành trình khác… Đó là những phép màu cuộc sống được tạo ra từ những tấm lòng nhân hậu, giàu yêu thương – mở ra muôn vàn con đường sáng cho mọi ngả đường hạnh phúc bừng lên.
V.N.K.P
(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)