Tác phẩm đạt Giải Khuyến khích
Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”
Bút ký dự thi của PHẠM NGA
Chúng tôi đến thăm bảo tàng Nguyễn Tử Lan của gia đình anh Nguyễn Tử Chương vào một ngày đầu xuân khi mưa còn giăng, trời còn mang mang lạnh. Bên chén trà ấm dường xua tan cái rét ngày đông còn dư sót lại, những câu chuyện về bảo tàng về ông Nguyễn Tử Lan, người chiến sĩ Điện Biên cứ râm ran mãi không thôi.

Ông Nguyễn Văn Hà - Phó giám đốc Bảo tàng lịch sử quốc gia, ông Tô Văn Tú - Giám đốc bảo tàng Hùng Vương cùng các cán bộ Cục di sản - Bộ văn hóa,… về dâng hương, tham quan, góp ý bảo tồn di sản về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tử Lan.
Bảo tàng Nguyễn Tử Lan là một bảo tàng đặc biệt, bởi ở đó không chỉ lưu giữ những hiện vật, những tư liệu gốc có giá trị về lịch sử, văn hóa về truyền thống gia đình, dòng tộc, quê hương Hoa Lư, mà những tư liệu, chứng tích lịch sử của bảo tàng còn là những mảnh ghép quan trọng cho quốc sử để chúng ta có được bức tranh toàn cảnh và đầy đủ hơn về lịch sử dân tộc, đồng thời đây cũng là nơi con cháu tụ về hiếu kính với tổ tiên, nơi các em học sinh đến tham quan, học tập, nơi kết giao gặp gỡ bạn bè, nơi các nhà sử học quan tâm nghiên cứu, nơi mỗi tư liệu đều mang theo những câu chuyện lịch sử, những thời khắc đáng nhớ. Đến với bảo tàng Nguyễn Tử Lan, mỗi người có một tâm trạng, một dấu ấn, một cảm xúc riêng, nhưng điều mà mọi người có cảm nhận chung là sự ấm áp thiêng liêng, tự hào và cảm phục bởi ngoài kia cuộc sống có vội vã xô bồ, thì vẫn còn đây một không gian tĩnh lặng những giá trị của lịch sử, văn hóa vẫn luôn được nâng niu, giữ gìn, nuôi dưỡng.
Với hàng nghìn trang tư liệu, hàng trăm hiện vật quý giá, được sắp xếp, trưng bày một cách bài bản, hài hòa, khoa học. Từ những tư liệu của dòng họ: bức chân dung của các bậc tiền nhân, cuốn gia phả dòng họ Nguyễn Tử; “Châu bản triều Nguyễn - di sản thế giới, bổ dụng cụ Nguyễn Tử Mỹ làm Lại mục huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định”, từ hiện vật như; nghiên mài mực, chiếc gậy của cụ Nguyễn Tử Mẫn, bút tích của cụ Nguyễn Tử Mỹ; bản sắc phong triều Nguyễn ban cho Anh Hoa công chúa (tên húy Phạm Thị Ngọc Anh - ông Nguyễn Tử Lan là chắt nội). Trong bảo tàng hiện còn lưu giữ những tư liệu, hiện vật quý có tuổi đời trên hai trăm năm.
Phần lớn tư liệu, hiện vật được lưu giữ trong bảo tàng gia đình là những tư liệu về gia thế, cuộc đời, sự nghiệp của ông Nguyễn Tử Lan, một chiến sĩ Điện Biên, một người thầy, một nhà cải cách nông nghiệp. Từ những bức thư (bộ sưu tập thư ông viết cho gia đình, cho anh em họ hàng, bạn bè làng xóm), những bài thơ viết trên đường hành quân, đến những cuốn nhật kí chiến trường, cuốn lịch túi là cuốn nhật kí ghi vắn tắt những dấu mốc những chặng đường hành quân, những thời khắc lịch sử trọng đại của chiến dịch, cuốn: “những dòng Lưu - Niệm”, “DéLicas” được ông Lan ghi chép khi ở chiến trường, khi làm báo đã ố màu thời gian, đến cuốn lý lịch cán bộ 50 trang đều là những tư liệu quý giá, để mọi người hiểu rõ hơn về cuộc đời, những công lao những cống hiến của ông. Những hiện vật như chiếc ba lô, bình bi đông theo ông Nguyễn Tử Lan suốt chặng đường kháng chiến và cả sau khi xuất ngũ. Từ chiếc đài Orionton, chiếc xe đạp Thống Nhất đến những cuốn từ điển Larousse của Pháp có tuổi đời hơn 100 năm, cuốn “Les Míerables” (Những người khốn khổ) của Victor Hugo nguyên bản tiếng Pháp, đến nhiều cuốn sách, những bài báo, tài liệu về Điện Biên Phủ về các vị tướng Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn, đại đoàn chủ lực 312... Từ bức tranh Hoa ban, đến tranh panorama “Chiến dịch Điện Biên Phủ” đây là tờ phụ san 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ của báo Nhân Dân được ban giám đốc Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ và họa sĩ Nguyễn Văn Mạc là kiến trúc sư trưởng của bức tranh panorama ký và trao tặng. Và cả bộ sưu tập về những bức ảnh thời trẻ của ông, những bức tranh chân dung do các họa sĩ vẽ tặng, đặc biệt có bức tượng bán thân được nghệ nhân nhân dân, nhà điêu khắc Nguyễn Văn Trúc tạc chân dung ông rất tinh tế, họa được thần thái cốt cách của ông.
Có những con người mà số phận gắn liền với sự thăng trầm biến cải của lịch sử dân tộc, ông Nguyễn Tử Lan là một điển hình. Ông sinh ngày ngày 24 tháng 06 năm 1935 tại làng Thư Điền, xã Ninh Nhất, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, nay thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình một ngôi làng nổi tiếng có bề dày truyền thống văn hóa, nơi có nhiều người đỗ đạt, thành danh, trong đó phải kể đến những người con trong dòng họ Nguyễn Tử. Xuất thân trong một gia tộc có truyền thống khoa bảng, ông là hậu duệ của Tham nghị Nguyễn Tử Dự - một nhân vật trong Tràng An thất hào, chắt nội của danh nhân Nguyễn Tử Mẫn (cụ Nguyễn Tử Mẫn (1816-1901) là một nhà địa lý học của tỉnh Ninh Bình và Việt Nam, cụ đỗ cử nhân năm 1841, làm tri huyện Kim Anh (Vĩnh Phúc), Hiệp Hòa (Bắc Ninh) và Gia Viễn (Ninh Bình)), cháu nội cụ Nguyễn Tử Mỹ (cụ Mỹ làm Lại mục ở Bình Định), cụ tổ họ ngoại là Hà Công Bích theo các sắc phong của triều đình được bảo quản tại nhà thờ, cụ làm Quan câu kê trong triều Lê Thần Tông, cụ vừa là công thần của triều Lê, vừa là bậc tiên hiền khai sáng làng Sở Thượng, xã Vọng Doanh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (nay là xã Phong Doanh tỉnh Ninh Bình), thân phụ ông là cụ đồ Nguyễn Tử Thiệu, (một nhà khoa bảng cuối cùng của dòng họ Nguyễn Tử, là một người thầy thuộc thế hệ sau cùng của nền học vấn Nho giáo, ông dành cả cuộc đời để dạy học và viết sách, nhiều học trò của ông sau này cũng là người đỗ đạt, cụ từng thi đỗ cả ba kỳ của khoa thi hương, nhân dân trong vùng thường gọi là cụ đồ Thiệu, làm lương y và mở trường dạy học ở quê nhà).
Ông Nguyễn Tử Lan được giáo dục bởi nền học vấn Nho giáo, và hệ thống giáo dục Pháp Việt, vì vậy ông không những giỏi chữ Hán thông thạo tiếng Pháp biết cả tiếng Anh, tiếng Nga. Sống trong một gia đình có điều kiện, lại là con trai độc nhất của cụ đồ Thiệu nhưng đến ngày 01 tháng 1 năm 1953, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ với nguyện vọng được vào bộ đội chủ lực và niềm mong muốn của ông đã trở thành hiện thực khi ông được đứng trong hàng ngũ của đại đoàn 312, một trong những đại đoàn bộ đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Việc ông rời xa gia đình, người thương, bỏ dở việc học hành (khi đó ông đang học tú tài Pháp - Việt), từ bỏ những điều kiện tốt nhất cho một tương lai đầy hứa hẹn, một cuộc sống an nhàn để dấn thân vào con đường binh nghiệp đầy gian nan thử thách, có lẽ do chứng kiến cảnh quân Pháp nhiều lần càn quét, tàn phá quê hương, tàn sát dân làng, đốt gần hết nhà cửa ở làng Thư Điền, bọn chúng còn đốt chùa Hưng Long, đốt nhà thờ tổ, đốt bỏ nhiều văn tự, tàn phá nhiều công trình văn hóa mà ông cha đã bao đời gây dựng. Là người có học thức, trọng văn hóa ông ý thức được rằng “Văn hóa còn là dân tộc còn” nên hành động tàn ác thâm hiểm của thực dân Pháp càng khơi lên lòng căm thù giặc nơi ông. Mặt khác dù sống trong môi trường giáo dục tiên tiến nhất lúc bấy giờ - những người cậu của ông là trí thức Tây học - sớm tiếp thu nền văn minh phương Tây, nhưng ông lại sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học, được thừa hưởng hai nền giáo dục nên những giá trị cốt lõi, phẩm chất của người “quân tử” vẫn được nuôi dưỡng, rèn luyện. Trong ông vừa có khí chất của “bậc nam nhi đại trượng phu”:“Tôi quyết dâng cuộc sống!/ Cho lý tưởng thanh cao” vừa có một Paven Coocsaghin: “Đem thân mình thử thách với gian lao”... Ông từng viết trong bài thơ: “Tôi yêu đời”: Tâm hồn tôi mang tâm tình bát ngát/ Yêu non sông, yêu tổ quốc, nhân dân/ Hạnh phúc tôi trong trẻo vô ngần/ Tôi tìm nó trong cuộc đời tranh đấu/ Ai hỏi tôi anh hy sinh xương máu/ Đến bao giờ thì hạnh phúc về anh?/ Tôi sẽ đáp rằng: Tất cả tuổi xanh/ Tôi hiến trọn cho non sông đất nước/ Đến khi nào tổ quốc bình yên... Giản dị, mộc mạc là vậy nhưng đó là phương châm là lý tưởng là lẽ sống cao đẹp mà ông đã lựa chọn. Nên khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang bước vào giai đoạn cam go và quyết liệt việc ông quyết tâm lên đường nhập ngũ cũng là điều dễ hiểu.
Sau thời gian huấn luyện ở trung đoàn 55 đóng tại Thọ Xuân - Thanh Hóa, ông cùng đơn vị hành quân lên Điện Biên Phủ. Trải qua bao gian khổ lúc lội suối băng rừng, khi vượt đèo leo dốc, bao thử thách, qua những cung đường hiểm trở, “Lang Chánh - Hồ Xuân - La Hán - Mộc Châu - Sơn La - Tuần Giáo - đèo Pha Đin... có lúc trời sắp sáng còn ở lưng đèo, phải vắt chân lên cổ mà chạy. Có những quãng đường đầy bom nổ chậm, đoàn hành quân phải lội xuống khe, xuống vực mà đi. Đằng đẵng những đêm mù sương, đùng đùng gió bấc, trời lạnh thấu xương mà áo trấn thủ đầm đìa mồ hôi như tắm”. Khó khăn gian khổ hiểm nguy là thế nhưng sức mạnh từ lòng yêu nước căm thù giặc, cùng những lời ca trong ca khúc “Hành quân xa” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận như tiếng kèn xung trận thúc giục những người lính “Mắt ta sáng chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước! Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi” ...
Thử thách càng nhân lên khi chàng thư sinh Nguyễn Tử Lan vừa rời ghế nhà trường, chưa từng trải qua khó khăn thiếu thốn, chưa từng biết đến gian khổ hiểm nguy nhưng với lòng quyết tâm cao độ, ông là một trong những người xung phong vào chiến dịch ngay đợt đầu, sau khóa huấn luyện. Khi vừa đặt chân đến mảnh đất Điện Biên, Bộ chỉ huy chiến dịch đang cần bổ sung quân số cho trận địa, đã vận động những chiến sĩ mới xem ai xung phong thì đi ngay trong đêm, ngay lập tức cách tay của ông Nguyễn Tử Lan giơ lên. Có lẽ đó là phép thử ý chí quyết tâm cũng như lòng can đảm của chiến sĩ (vì sau đó không có đợt bổ sung quân nào cả), có lẽ do hành động cũng như lý lịch của ông đã “lọt mắt xanh” của đại đoàn trưởng đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn. Ngày 25 tháng 11 năm 1953 ông được phong đặc cách là trung đội trưởng trung đội quân báo, sự kiện đó không chỉ là niềm vui, niềm vinh dự của gia đình dòng họ mà còn là niềm tự hào của quê hương Hoa Lư - Ninh Bình. Trung đội quân báo do ông Nguyễn Tử Lan được tướng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ phải bắt được viên chỉ huy để khai thác thông tin, phục vụ cho kế hoạch đánh chiếm cứ điểm Him Lam, cứ điểm được coi là “Pháo đài bất khả xâm phạm” do đội quân tinh nhuệ bậc nhất của Pháp chưa từng thua trận là “Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn Lê dương số 13” đóng giữ. Sau vài đêm phục kích trước khi nổ ra trận đánh hai ngày, trung đội do ông chỉ huy đã bắt được một tốp lính Pháp trong đó có tên chỉ huy là thiếu úy Jacques. Ông Nguyễn Tử Lan được giao nhiệm vụ khai thác thông tin từ những tù binh Pháp, đặc biệt những thông tin có giá trị do tên thiếu úy Jacques cung cấp, ta đã biết được địa thế, địa hình, cách bố phòng lực lượng của địch, cách bố trí hỏa lực, vũ khí nhìn đêm của địch, và bọn địch thường có cuộc họp giao ban ở phân khu trung tâm Him Lam thường diễn ra vào 17 giờ hàng ngày. Chiến công của ông và đồng đội đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng trung tâm đề kháng Him Lam, một trận đánh mở màn được đánh giá là quyết định cho chiến thắng Điện Biên Phủ, “nhiều phát đạn pháo 105 đã nã “trúng điểm đen” phá vỡ nóc hầm, khiến các sĩ quan chỉ huy quân đội Pháp ở Him Lam chết ngay tại chỗ, trong đó có trung tá Gaucher chỉ huy phân khu trung tâm, đồn trưởng Pégot và đồn phó Paedi cùng với trung úy Lungier”…. Chiến thắng trận đầu ở cứ điểm Him Lam mang ý nghĩa tinh thần to lớn đối với bộ đội ta đồng thời cũng giáng một đòn nặng nề vào sự ngạo mạn của kẻ thù, Him Lam được ví như cánh cửa thép nhưng những người lính của đại đoàn 312 nói chung và trung đội quân báo do Nguyễn Tử Lan chỉ huy nói riêng với ý chí quyết tâm bằng sự mưu lược dũng cảm đã phá toang cánh cửa thép của kẻ thù, đã khiến những kẻ xâm lược sừng sỏ nhất phải “tâm phục khẩu phục”. ‘Trong cuốn “Tôi đã là thầy thuốc ở Điện Biên Phủ”, thiếu tá quân y Pon Grouyn đã gọi “đó là những cú bắn bậc thầy”. Với chiến công bắt sống tù binh trước ngày mở màn chiến dịch để khai thác thông tin, trung đội trưởng Nguyễn Tử Lan đã được Bộ quốc phòng trao thưởng Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, đây là một phần thưởng cao quý dành cho người lập được thành tích đặc biệt xuất sắc có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả của trận đánh.
Một trong những lý do mà quân Pháp thua phải “tâm phục khẩu phục” và sau này khi trao trả tù binh rời khỏi Việt Nam họ rất xúc động và tỏ lòng biết ơn đối với bộ đội Việt Nam cũng một phần bởi cái cách mà ông Nguyễn Tử Lan đối đãi với tù binh Pháp rất nhân văn. Những người lính Pháp sau khi bại trận, đầu hàng, bị dẫn giải về các trại giam, một cực hình đối với họ là phải đi chân đất trên nền đá sỏi gồ ghề, vì đi như thế họ không quen, da bị trầy xước, dễ bị nhiễm trùng, nhiễm bệnh, ông đã hiểu thông cảm và “linh động” cho họ đi giày, bởi ông nghĩ “khi họ đã chịu khuất phục hoàn toàn thì đâu có nhất thiết phải hành hạ họ thêm làm gì”. Sở dĩ ông làm như thế mà không lo tù bình Pháp bỏ trốn bởi ông rất hiểu người Pháp, hiểu văn hóa Pháp. Với vốn tri thức hiểu biết sâu rộng được tích lũy từ sách vở nhà trường và cả kinh nghiệm trong chiến đấu và những lợi thế về ngoại ngữ đặc biệt tiếng Pháp, ông được đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng đôi khi vượt quá giới hạn về cấp bậc. Những lần áp giải tù binh Pháp từ Điện Biên về trại giam chỉ có ông là một trong số rất ít người giao tiếp được với họ, họ có nguyện vọng gì đều đề xuất với ông, dù ông không phải là thủ trưởng cao nhất.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, một vinh dự đến với ông và đồng đội những người lính đại đoàn 312 khi tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 10 tháng 10 năm 1954, được nhân dân chào đón nồng nhiệt, (đây là sự kiện lớn thứ hai được lịch sử ghi nhận, chỉ sau sự kiện vua Quang Trung với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vào chiều mồng 5 tết Kỷ Dậu năm 1789). Sau đó ông Nguyễn Tử Lan ở lại quân đội dạy học và làm báo với bút danh Hoài Nam. Ông đảm nhận vai trò giáo dục giúp những người lính có đủ kiến thức để tham gia các khóa đào tạo sĩ quan đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến năm 1957, ghi nhận những cống hiến to lớn và vốn tri thức sâu rộng, quân đội đã cử ông đi học lớp chế độ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để áp dụng phong quân hàm, được Đại tướng Lê Trọng Tấn quan tâm động viên mong muốn ông tiếp tục ở lại quân đội. Nhưng trong đơn đề nghị của mình gửi lên cấp trên ông đã viết “Nhưng dù sao tôi cũng phải về” bởi thời điểm đó song thân của ông ở quê nhà tuổi đã cao lại hay đau yếu, từ khi lên đường nhập ngũ đến khi kết thúc chiến tranh rồi mấy năm sau vì nhiệm vụ đặc biệt ông chưa từng được về thăm nhà, chưa có điều kiện chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ chính vì vậy mà ông đã lựa chọn chuyển ngành, thay vì tiếp tục con đường binh nghiệp.
Trong cuộc đời của mình để giữ trọn đạo hiếu ông đã không ít lần bỏ qua cơ hội thăng tiến và phát triển sự nghiệp, ngày 24 tháng 9 năm 1960 ông nhận được quyết định của bộ Quốc gia giáo dục do bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên ký, đặc cách điều động ông về nhận công tác tại cơ quan bộ, vì hoàn cảnh gia đình lúc đó ông xin hoãn mười ngày, nhưng bệnh tình của cụ đồ Thiệu ngày càng trở nặng khiến ông không thể về Bộ giáo dục như đã hứa. Sau đó ông chuyển về công tác tại ty giáo dục tỉnh Ninh Bình và trường Trung cấp sư phạm Khánh Nhạc (nay là trường Đại học Hoa Lư). Một lần nữa ông lại chọn chữ hiếu, làm tròn bổn phận của người làm con.
Khi xuất ngũ trở về quê nhà ông vẫn tiếp tục mang tài năng, trí tuệ của mình cống hiến cho sự phát triển của quê hương trên nhiều lĩnh vực. Với vai trò là người thầy ông Nguyễn Tử Lan đã có đóng góp không nhỏ đối với sự nghiệp giáo dục của địa phương. Trong bài xã luận “Vài suy ngẫm về sự nghiệp giáo dục” ông viết:“Trí tuệ con người ngày càng phát triển với những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật kỳ diệu. Trong khi nhà trường là nơi đào tạo và giáo dục nên những tinh hoa trí tuệ, đòi hỏi những nhà giáo phải tự mở rộng trình độ và nghiên cứu bằng tư duy mới cao hơn, phải có những nỗ lực nâng cao kỹ năng giáo dục nhằm đào tạo con người mới sao cho ngang tầm với thời đại…”. Những nhận định của ông cách đây hơn 60 năm vừa mang tính dự báo vừa thể hiện sự nhìn xa trông rộng. Ông luôn đề cao vai trò cũng như đề ra yêu cầu giáo dục phải đi trước một bước thì xã hội mới phát triển. Đó là cái nhìn tiến bộ, đổi mới mà giáo dục Việt Nam hiện nay đang hướng tới.
Đào tạo những con người có tri thức có vốn hiểu biết đã khó để "trồng người" vừa có tài vừa có đức như lời Bác Hồ căn dặn, thật không dễ dàng gì. Trong quân đội ông đã trang bị kiến thức cho những người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến để sau này nhiều người trong số họ được đào tạo bài bản trở thành những sĩ quan cao cấp đầu tiên góp phần kiện toàn cán bộ chủ chốt và tinh nhuệ hóa quân đội, vì vậy mà những người am hiểu và yêu mến ông đã ví ông như người thầy Sorbonne của Việt Nam. Ông đã dạy những người học trò của mình không chỉ bằng vốn kiến thức, vốn hiểu biết mà dạy bằng cả vốn văn hóa sâu rộng, bằng trái tim bao dung nhân hậu, bằng lòng kiên trì và độ lượng. Ngay cả với cậu con trai của mình - Nguyễn Tử Chương, ông cũng dạy hết sức tỉ mỉ cẩn trọng và nghiêm khắc từ lời ăn tiếng nói đến cách đối nhân xử thế, từ những điều nhỏ nhặt “Ông dạy cho tôi hiểu từ việc tại sao dép không được để phía đầu giường, gối không được để xuống chân giường, tại sao phải cắt ảnh và tên người ra nếu muốn sử dụng giấy báo vào việc khác” đến những vấn đề lớn lao như: Phân công lao động trong xã hội. Ông từng đọc tác phẩm: “Những người khốn khổ” nối tiếng của đại văn hào Victor Hugo bằng tiếng Pháp, rồi phỏng dịch, giảng giải cắt nghĩa cho con hiểu, đủ thấy ông đã dạy con bằng vốn hiểu biết sâu rộng, bằng tất cả tình yêu thương, từ những điều hàng ngày cha con trò truyện, gần gũi giản dị thế thôi mà thấm mà ngấm sâu. “Ông đã dạy tôi cách dùng ngôn từ sao cho sang trọng mà lại hết sức dễ hiểu, ví dụ sao cho thật dí dỏm, sinh động, dễ hình dung, làm người nghe hứng khởi, và không bao giờ thôi mở rộng tấm lòng và luôn bao dung với mọi người”. “Mãi sau này tôi mới nhận ra rằng, hoá ra ông đã dạy tôi nhiều kiến thức đến thế, với những tư tưởng có ảnh hưởng xa đến thế, xa đến mức cho đến tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị, hàn lâm đến mức có những điều sau mấy mươi năm tôi mới hiểu”.
Điều mà các nhà giáo dục thời nay cần học hỏi tư tưởng, phương pháp giáo dục của ông bởi cách giáo dục của ông không chỉ tiến bộ mà còn sâu sắc và nhân văn, giáo dục con người từ trong cốt lõi đề cao giá trị đạo đức, nhân cách, lối sống. Cái mà giáo dục hiện đại gọi là “kĩ năng sống”, là “kĩ năng mềm” thực chất là giáo dục từ gốc từ bên trong từ những điều nhỏ nhặt để hình thành nhân cách, cốt cách đồng thời hình thành vốn tri thức, hiểu biết và giáo dục là cả một quá trình kiên trì bền bỉ bằng tài năng và đức độ của người thầy.
Trong quá trình chiến đấu và công tác ông Nguyễn Tử Lan đã được Bộ quốc phòng, Hội đồng nhà nước, Hội đồng chính phủ, thưởng tặng huân, huy chương: Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huy chương chiến sỹ vẻ vang, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất... nhưng có lẽ phần thưởng vinh dự, cao quý và cảm động nhất đó chính là tình cảm sự yêu quý kính trọng của mọi người đối với ông, nhất là những người dân xã Khánh Trung - Yên Khánh - Ninh Bình (nay là xã Khánh Trung tỉnh Ninh Bình) nơi ông từng công tác, gắn bó.
Với vốn kiến thức được tích lũy từ môi trường giáo dục của gia đình, nhà trường và quân đội, đã tạo nên một con người có đủ khả năng và trình độ để đáp ứng sự phân công đa dạng trong yêu cầu thực tiễn nhằm phát triển xã hội. Sau khi được điều động về làm Trưởng Ban kinh tế của tỉnh Ninh Bình năm 1964, nhằm phát triển kinh tế và cải tiến quản lý Hợp tác xã nông nghiệp, ông Nguyễn Tử Lan đã có những cống hiến không nhỏ góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển kinh tế địa phương thời đó. Nhờ cải tiến phương thức canh tác: Ứng dụng kỹ thuật thâm canh lúa nước: từ giống lúa mới, cách sử dụng phân bón, đến việc cải tiến kỹ thuật gieo trồng, thâm canh tăng vụ, trồng xen canh cây lương thực, cây công nghiệp, kết quả tăng nguồn lương thực, góp phần tạo nên thành quả của công cuộc đổi mới nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh, giảm thiểu tình trạng thiếu đói giáp hạt vào mùa đông - xuân, đồng thời góp một phần chi viện cho chiến trường miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Trước đây, hầu hết công việc thu hoạch và chế biến nông sản đều làm bằng tay, mất nhiều thời gian và công sức. Ông cũng nghiên cứu sản xuất trục lăn lúa, máy tuốt lúa đạp chân và đưa vào sử dụng thay cho đập lúa thủ công, giảm thất thoát lúa, rút ngắn thời gian thu hoạch. Ông Nguyễn Tử Lan đã đề xuất và triển khai việc sử dụng xe đạp thồ, những chiếc xe xuất hiện trong chiến dịch Điện Biên Phủ giờ đây tham gia vào “chiến dịch phát triển nông nghiệp” đã giảm bớt lao động thủ công, nâng cao hiệu suất vận chuyển gấp 5 lần so với gánh bộ. Dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, với chiếc xe đạp Thống Nhất ông đã ra tận Hà Nội, Hải Phòng... nhờ tỉnh bạn giúp đỡ nên Ninh Bình là một trong rất ít tỉnh lần đầu có sử dụng máy cày, và có những bước đi đầu tiên trong cơ giới hóa nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp ông Nguyễn Tử Lan cũng rất chú ý ứng dụng khoa học vào phòng trừ sâu bệnh, thay vì phụ thuộc vào thuốc trừ sâu, ông khuyến khích nuôi thiên địch như bọ rùa, nhện bắt mồi, trồng các loại cây xua đuổi sâu hại (cúc vạn thọ, ớt) xung quanh ruộng lúa.
Có thể nói những giải pháp kỹ thuật nông nghiệp của ông Nguyễn Tử Lan ở thời điểm đó là một cuộc “cách mạng trong sản xuất nông nghiệp”, bởi ông đã thay đổi được cách nghĩ, cách làm lạc hậu tồn tại bao đời nay, mạnh dạn ứng dựng những tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp không chỉ thể hiện sự quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám đổi mới mà còn thể hiện trình độ của người cán bộ trên mặt trận sản xuất, phát triển kinh tế.
Với nhiệm vụ cải cách hợp tác xã nông nghiệp ông Lan triển khai ở tất cả các xã trong tỉnh Ninh Bình. Nhưng Khánh Trung là nơi ông ở lâu nhất vì ông chọn làm nơi sản xuất lúa giống, giống cây trồng, vật nuôi cho cả tỉnh và ông cũng được bà con nơi đây đồng lòng ủng hộ, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng ông vẫn hoàn thành tốt công việc. Đến nay dù ông đã rời xa cõi tạm 25 năm nhưng mỗi dịp lễ tết, mỗi lần giỗ chạp con cháu cụ Phạm Thị Nụ thôn Quyết Trung, xã Khánh Trung, tỉnh Ninh Bình (gia đình đã nuôi giấu và nhận ông làm con nuôi) đều lên nhà và tự tay làm giỗ, thắp hương cho ông. Những ân tình đậm sâu, giản dị, chân thành đó không phải tự nhiên mà có được, đó là “trái ngọt” là những thành quả ông đã “gieo trồng” bằng tài năng và đức độ, bằng sự gắn bó gần gũi với người dân trong suốt cuộc đời mình. Những giá trị ông đã gây dựng đã đem đến cho người dân, khiến cuộc sống của họ thay đổi, đỡ vất vả hơn, họ trả lại cho ông bằng những ân tình bền sâu, để rồi đến tận bây giờ mỗi khi nhắc đến ông họ đều gọi ông bằng lòng biết ơn chân thành bằng sự gần gũi thân thương “ông chuyên gia”.
Ông chưa khi nào phàn nàn về những thiệt thòi hay những khó khăn mà mình phải trải qua, chỉ một lòng âm thầm cống hiến vì dân vì nước. Cảm phục tấm lòng của cha, tri ân những cống hiến mà cha và thế hệ của ông dành cho quê hương đất nước, một phần cũng muốn lưu giữ lại những giá trị lịch sử, văn hóa của dòng họ gia đình mình đã thôi thúc Nguyễn Tử Chương luôn giữ gìn “bảo vật” của gia đình luôn tìm kiếm và lưu lại những tư liệu liên quan đến người cha thân yêu của mình. Qua những tài liệu tôi đọc được trong bảo tàng Nguyễn Tử Lan tôi luôn hình dung mường tượng về một nhân vật điển hình của thời đại Hồ Chí Minh, ở ông luôn hội tụ những phẩm chất một người lính, một nhà tri thức, nhà văn hóa và một nhà khoa học, một người cán bộ gần dân. Ông và những người như ông đã viết những trang lịch sử mà khi đọc lên chúng tôi những thế hệ sinh ra sau chiến tranh luôn cảm phục, trân trọng và biết ơn.
Nguyễn Tử Chương người sáng lập ra bảo tàng Nguyễn Tử Lan, thuộc thế hệ 7X, xuất thân “vốn dòng nho gia”, thuộc dòng dõi khoa bảng, khi đặt tên cho con có lẽ cha anh - ông Nguyễn Tử Lan đã kì vọng ở anh rất nhiều, mong muốn con trai nối nghiệp ông cha, phát huy truyền thống gia đình. Anh rời bỏ vị trí quan trọng trong nhà nước để bước vào thương trường đầy khó khăn thử thách, gây dựng công ty riêng; Công ty Dược phẩm Lạc Hồng (năm 2008), và anh đã thành công bằng tư chất thông minh, trí tuệ, bằng sự quyết đoán, mạnh dạn và bằng cái tâm, cái tầm, chữ tín trong kinh doanh. Anh đã nhiều lần được xướng tên trong những chương trình: tôn vinh doanh nhân được Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch tặng cúp vàng văn hóa (2010). Anh tự nguyện làm một “con ong chăm chỉ” rút ruột mình để đem đến cho xã hội cho cộng đồng những giá trị đích thực, những điều tốt đẹp nhất. Trong khi xã hội vẫn còn nhiều giá trị bị đánh tráo, vàng thau lẫn lộn thì anh vẫn luôn trung thành với một tôn chỉ mục đích giữ vững tâm, giữ chữ tín trong kinh doanh. Những phẩm chất đáng quý đó bởi anh chịu ảnh hưởng từ nền giáo dục gia đình, từ dạy bảo của người cha, người đã dành tất cả tình thương yêu để bù đắp những thiệt thòi mất mát của anh trong những năm tháng tuổi thơ. Những bài học từ cha cứ ngấm dần, ngấm dần vào anh để có một Nguyễn Tử Chương như ngày hôm nay, thành đạt mà khiêm tốn, chân thành giản dị. Có lúc Nguyễn Tử Chương xuất hiện là một giám đốc công ty với phong thái ung dung đĩnh đạc, có lúc lại bắt gặp anh trong vai trò một tư vấn viên về dược phẩm đầy trách nhiệm nhiệt tình. Có khi lại bắt gặp anh bâng khuâng giữa cảnh quê, trầm ngâm nhìn mái chùa Hưng Long nghìn năm tuổi mà bồi hồi nhớ về tổ tiên, nhớ về người cha thân yêu của mình. Cũng có khi bắt gặp anh ngồi lặng lẽ nơi quán vắng hay đi dọc những triền lau của đất cố đô mà miên man với những dòng suy tư, dòng cảm xúc như một thi sỹ lãng mạn. Có khi lại bắt gặp anh say sưa thuyết trình trong những cuộc hội thảo về khoa học lịch sử ở trung ương hoặc ở tỉnh nhà. Có khi là hướng dẫn viên du lịch trong bảo tàng gia đình mình do chính anh sáng lập nên. Anh thân tình, gần gũi quảng giao nên được bạn bè quý mến. Dù ở cương vị nào, thời khắc nào cũng thấy anh, một con người giàu năng lượng, nhiệt huyết và đam mê. Nhiều lần tôi tự hỏi công việc bận rộn là thế, áp lực là thế, khó khăn là thế anh lấy đâu ra thời gian, sức lực để chu toàn mọi việc, vừa lo cho công ty có chỗ đứng trên thương trường vừa chăm sóc bảo tàng gia đình. Ngay cả việc bảo quản những tư liệu cũng là một điều không dễ dàng gì. Khi mưa dột, muối mọt tài liệu bị ẩm mốc hư hại, khi nhiệt độ cao chỉ cần không để ý tư liệu cũng bị bạc trắng. Tôi cũng không biết anh đã đọc bao nhiêu tài liệu mà nói về vấn đề gì anh cũng thông tỏ, kiến thức sâu rộng thật đáng nể. Nhiều bài viết về vấn đề lịch sử được anh nghiên cứu, sưu tầm kỹ lưỡng tỉ mỉ và đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các tạp chí trung ương và địa phương.
Những tư liệu, những hiện vật mà gia đình anh có được ngoài những tư liệu mà anh cất giữ, bảo quản được còn có những tư liệu mà anh đã dày công tìm kiếm với hành trình đầy kiên trì, nhẫn nại và may mắn nữa, may mắn vì những ngày tháng dong duổi theo dấu chân của người cha đi khắp nơi những lúc vào Thanh Hóa, những khi lên Điện Biên, lúc Hải Dương, Hà Nội, khi lại Nam Định, Bắc Ninh, lần theo dấu chân của cha, đến những nơi ông từng chiến đấu, công tác, gắn bó để tìm tư liệu về ông, Nguyễn Tử Chương đã gặp được đồng đội của ông, hoặc những người con của đồng đội, và nhiều lần may mắn được họ trao gửi lại những kỷ vật liên quan đến cha mình. Để có được những tư liệu chính xác với tư cách là thành viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, anh đã đi rất nhiều bảo tàng, gặp gỡ rất nhiều nhân chứng, gặp gỡ nhiều nhà sử học, đọc rất nhiều tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, từ những tài liệu do ông Nguyễn Tử Lan ghi chép lại, đến những cuốn lịch sử về Điện Biên Phủ: từ Cuốn hồi ức “Từ Đồng Quan đến Điện Biên” của Đại tướng Lê Trọng Tấn, cũng như tìm gặp những gia đình ông Nguyễn Tử Lan từng lưu trú trong quá trình công tác, để có được những tài liệu đáng tin cậy nhất, để từ đó có những thông tin đầy đủ trọn vẹn về cha mình.
Có những điều kì lạ mà đến anh cũng không lý giải nổi, số là có những lần anh định tìm tài liệu về cha thì lập tức có người mách bảo, thậm chí có người còn mang đến tặng anh như cuốn “Lý lịch quân nhân” của cha anh, mặc dù người đó chưa từng gặp gỡ, chưa từng quen biết. Bạn bè cứ thế mà tìm đến mà thân quen mà trao gửi những ân tình, nên anh thường nói: phàm những việc liên quan đến các cụ thường thuận tiện, hanh thông. Cũng có lẽ các cụ linh thiêng mà phù hộ cho anh sức khỏe, và mọi điều thuận lợi để anh có thể hoàn thành tâm nguyện của cha anh, làm tiếp những việc mà cha anh còn đang dang dở.
Có những câu chuyện, những sự kiện lịch sử nếu không được làm sống lại sẽ bị lớp bụi thời gian phủ mờ và sẽ chìm vào quên lãng, đó không chỉ là điều đáng tiếc thậm chí đáng lo ngại bởi khi thế hệ tương lai không biết gì, không nhớ gì về lịch sử về truyền thống văn hóa của dân tộc, của quê hương dòng tộc gia đình, chỉ mải mê chạy theo những phù phiếm, sống vị kỉ thì cũng có nghĩa là lớp trẻ đã và đang dời xa quá khứ, những khái niệm, bản chất của lịch sử, của văn hóa sẽ trở nên mơ hồ, mờ nhạt, dần mai một đi những giá trị căn cốt của đạo lý, của truyền thống dân tộc sẽ không được coi trọng, lớp trẻ không còn khái niệm "uống nước nhớ nguồn" và như vậy những giá trị đạo đức bị đảo lộn, xã hội bất ổn là điều khó tránh khỏi. Tôi vừa lướt web thấy cô cháu đang chia sẻ dòng trạng thái đầy hạnh phúc khi được cha tặng cho “quả táo” phiên bản mới nhất của một hãng điện thoại nổi tiếng, dù mới đang học phổ thông. Đó chỉ là một ví dụ nhỏ nếu mọi người để ý một chút sẽ thấy lớp trẻ bây giờ phần lớn họ hay chia sẻ về cuộc sống vật chất, họ hạnh phúc khi vật chất đủ đầy, đó cũng là điều bình thường trong xã hội hiện đại, nhưng sẽ là bất bình thường khi những giá trị tinh thần bị xem nhẹ, bị thay thế bằng lối sống thực dụng, ích kỉ. Một câu hỏi đặt ra chúng ta sẽ phải làm gì để giữ lại những giá trị truyền thống tốt đẹp, làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn như cách mà ông cha ta đã từng sống. Thì hãy xem cách những con người tích cực họ đã và đang làm, mà Nguyễn Tử Chương là một ví dụ.
Nguyễn Tử Chương không chỉ là người nghiên cứu sưu tầm và “giải mã” những tư liệu lịch sử, anh còn là sứ giả lặng thầm của lịch sử, anh kết nối quá khứ hiện tại và tương lai, anh khai thông mạch nguồn lịch sử để mạch nguồn đó chảy cùng thời gian, trường tồn cùng thời gian, quyết không để lớp bụi thời gian xóa nhòa quá khứ. Những lớp người đi trước như danh nhân Nguyễn Tử Dự, Nguyễn Tử Mẫn là những người dựng xây gốc cội, nền tảng văn hóa của dòng họ của quê hương, đất nước đến thế hệ của cha anh, ông Nguyễn Tử Lan vừa làm nhiệm vụ của người lính bảo vệ Tổ Quốc, xây dựng đất nước vừa giữ gìn truyền thống tốt đẹp gia đình dòng tộc, còn thế hệ Nguyễn Tử Chương bằng tài năng và tâm sức của mình anh đã và đang góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội làm giàu cho quê hương, đất nước, đồng thời bảo tồn, lan tỏa những giá trị văn hóa ông cha để lại. Trên trục thời gian những con người trong dòng họ Nguyễn Tử cứ lặng lẽ dựng xây - bảo vệ - phát triển góp phần nâng cao giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc.
Nguyễn Tử Chương lấy tên người cha thân yêu của mình đặt cho bảo tàng không chỉ để trưng bày những kỉ vật của cha để lại mà còn muốn lan tỏa những giá trị lịch sử, văn hóa, giá trị tinh thần của xã hội, mà cha anh đã để lại cho con cháu đời sau. Anh muốn truyền đến mọi người cảm hứng, thông điệp tốt đẹp, tích cực và nhân văn mà ông cha đã dày công xây dựng, vun đắp, không phải để chúng ta ngắm nghía, thưởng thức như một ly rượu vang để “say trong chốc lát” mà phải nuôi dưỡng từ trong huyết mạch để những giá trị đích thực được lan tỏa, phát triển một cách tự nhiên, bền vững để có thể cảm nhận tình yêu cuộc sống như cách ông Nguyễn Tử Lan đã từng nói cách đây 68 năm: “Je ne comprends que l’amour et la liberté de la vie.” (W.T. Lane, 15-12-1957) “Tôi chỉ hiểu tình yêu và tự do của cuộc sống.” ông đâu chỉ có nói, sự thực là ông đã hành động đã sống, sống một cuộc đời thanh cao, cống hiến hy sinh để hiểu thế nào là giá trị đích thực của “tình yêu” và “tự do”. Soi vào bảo tàng Nguyễn Tử Lan để nghe mạch nguồn lịch sử đang chảy theo dòng thời gian để thấy được mỗi trang sách cuộc sống mới đáng quý, đáng giá đáng trân trọng biết bao.
P.N
(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)