Truyện ngắn dự thi của BÙI HỒNG
Những lúc ông Thấc chèo đò sang sông, thằng Nhật ngồi mũi thuyền quay mặt lại phía khách, vểnh tai lên hóng chuyện. Chuyện nghe nhiều nhất, chủ yếu vẫn là giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống, thi thoảng cũng có những người đàn ông nói với nhau về giá cả xe ô tô, hay bất động sản, hoặc chuyện chính trị… Những chuyện ấy thằng Nhật chẳng hiểu nhưng vẫn thích nghe. Ông Thấc cũng thích nghe, nghe cho đỡ buồn.
Làng Đào, làng Hạ cách nhau con sông Yên, mỗi tuần mỗi làng có một chợ phiên, chợ Đào thứ bảy, chủ nhật là chợ Hạ. Vì cách trở, phải qua đò nên lượng khách đi chợ hai bên cũng không đông, bến đò không ồn ào, không tấp nập, nhưng với thằng Nhật đây là nơi nó thấy vui hơn mọi nơi. Những ngày nghỉ học thằng Nhật chỉ quanh quẩn trên đò, lúc giúp cha việc này việc nọ, lúc giúp khách đẩy xe hoặc bê hàng,
Buổi tối khi nằm bên nhau trong khoang thuyền, hai cha con ông Thấc lại mang chuyện nghe được trên đò ra bàn luận. Một hôm thằng Nhật nói:
- Có mấy người bảo họ sắp bắc cầu chỗ bến đò đấy cha ạ!
Ông Thấc bảo:
- Không đâu! Sông Yên bé như mắt muỗi, thưa thớt người qua lại bắc cầu làm gì cho phí. - Tuy nhiên, ông trầm ngâm, thở dài đánh thượt, nói như an ủi: - Mà nếu có bắc cầu cũng còn lâu. - Ông lại thở dài cái nữa: - Khi đó chắc gì cha còn sống,
Tối nay, sau khi con cà con kê đủ thứ chuyện nghe lỏm được, bỗng thằng Nhật, nhổm người dậy bảo cha:
- Mấy bà đi chợ Hạ bảo có đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi ở cổng chợ cha ạ!
Ông Thấc giật thót, cảm giác như mặt mày tối sầm. Trong bóng tối của cảm giác, quá khứ như cái kim đồng hồ kéo ông ngược trở lại khoảng thời gian của hơn mười năm trước.
***
Quãng gần 3 giờ sáng đang co ro trong khoang thuyền, bỗng ông Thấc nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc từ phía quán nước nhà bà Sương, một cái quán nhỏ kề bến đò, bà Sương bán nước ban ngày, tối về để quán trống. Thi thoảng có những người sang sông sớm nhưng chưa có đò, họ vào quán ngồi chờ. Nghe trẻ khóc, ông Thấc nghĩ bụng “Sao mẹ con nhà nào đi chợ sớm vậy”, ông định không dậy, song đứa trẻ không ngừng khóc, khiến ông bồn chồn. Trời lạnh, bên bờ sông gió lồng lộng, càng thêm lạnh hơn. “Thôi dậy xem mẹ con nhà nào? Nếu họ muốn sang sớm thì đành chở họ vậy”. Ông nghĩ tiếp thế, buông chăn khỏi mình, ông nhẹ nhàng chui ra khỏi khoang đò. Ông lên bờ, đi lại phía quán nước, cất tiếng:
- Ai ở trong ấy đấy?
Không có người trả lời, chỉ tiếng gió ào ào trên những hàng cây ven sông và tiếng “oe oe” của đứa trẻ. “Quái nhỉ”, ông Thấc vừa lẩm bẩm, vừa bước vào quán, căng mắt nhìn. Trên cái bàn nhựa có một đứa trẻ sơ sinh được quấn trong một cái áo bông khá to, kề bên là một cái bình sữa, đầu bình là núm vú cao su. Ông Thấc hỏi:
- Ai để con ở đây thế?
Im lặng. Ông cất tiếng lần nữa:
- Ai để con ở đây? - Vẫn im lặng. Một chút lo lắng thêm một chút hoảng sợ loang loáng trong đầu. Có lẽ nào đứa bé bị bỏ rơi. Ông chạy ra khỏi quán, ngó nghiêng tìm kiếm. Màn đêm đen kịt, không thấy rõ bất cứ một thứ hình thù nào. “Oe … Oe…” trong quán đứa trẻ khóc to hơn. Hình như nó đói. Hình như nó rét. Không biết nó có đói không, chứ rét thì chắc chắn rồi. Ông Thấc lại chui vào quán. Ông nhìn đứa trẻ, rồi lại ngó ra ngoài. Ông nấn ná, do dự, đầu óc tràn ngập những ý nghĩ lộn xộn. Xử lý thế nào bây giờ? Thôi trước hết cứ cho đứa bé xuống thuyền cho đỡ gió. Nghĩ vậy, làm luôn, ông cúi người, lựa tay ôm lấy đứa nhỏ. Đây là lần đầu tiên trong đời ông ôm một đứa trẻ. Ông ghì chặt nó vào lòng, vì sợ lỏng tay nó sẽ rơi, ông chầm chậm từng bước, thận trọng chui vào khoang thuyền. Ông nhè nhẹ đặt đứa trẻ xuống. Đứa bé thôi khóc, cái miệng nho nhỏ chép chép, dường như nó đòi ăn. Ông Thấc lại chạy lên quán cầm cái bình sữa, Đứa trẻ mún mún vào cái đầu vú cao su. Bỗng nhiên trong ông Thấc lại chộn rộn lên một điều gì đó mà ông không sao hiểu nổi là mình chộn rộn điều gì.
Sau khi trình báo ủy ban xã ông Thấc xin nuôi thằng bé bị bỏ rơi. Lúc đi làm giấy khai sinh ông định đặt tên nó là thằng Nhặt. Ông chủ tịch xã bảo: “Sợ sau này nó tủi thân! Đặt tên là Nhật ông ạ”. Thoắt cái đã hơn mười năm, cả quãng thời gian dằng dặc vừa qua, ông Thấc luôn để ý xem ai có ý định thăm dò hoặc tìm kiếm đứa trẻ năm xưa. Nhưng không ai cả, và cũng từ đó đến nay ông yên tâm và yêu quý thằng Nhật như chính con đẻ.
Cha mẹ ông là dân chẳng biết ở đâu đưa thuyền về đây rồi neo lại trên bến đò Yên. Đúng khi ông lái đò cũ mất, bến đò trống vắng, dân làng Đào không ai muốn làm nghề chở đò vì ở đây sông nhỏ, hưu hắt, khách qua lại thưa thớt, thu nhập chẳng đáng là bao. Cha mẹ ông tiếp quản bến đò Yên.
Ông Thấc bị thọt từ khi lọt lòng. Thương con, nhưng cha mẹ ông cũng chẳng biết làm sao, ngoài than ngắn, thở dài, đổ lỗi cho số phận. Một lần có ông thầy lang đi đò nhìn Thấc bảo: “Khổ thân thằng bé, sau này vô sinh”. Cha mẹ ông càng thêm ngán ngẩm, rầu rĩ. Năm ông Thấc bước vào tuổi mười sáu, cha mẹ ông đều mắc bệnh rồi lần lượt qua đời. Ông bỏ học rồi tiếp quản cái đò cùng cái nghề chở đò từ đó đến nay.
Ông bị thọt hơn nữa là dân ngụ cư không nhà cửa ruộng vườn nên con gái khắp vùng chẳng ai để ý. Biết thân biết phận, ông chẳng kêu ca phàn nàn với ai, ngày lại ngày ông lầm lũi chở đò kiếm sống. Có lẽ sự xuất hiện của thằng Nhật đã thay đổi cuộc đời ông. Ông bỗng trở thành một người cha, thậm chí trở thành cả một người mẹ. Thằng bé khát sữa khóc ngặt nghẽo, ông bế nó vào làng, tìm đến nhà những sản phụ mới sinh con xin họ sữa thừa, hoặc cho nó bú trực. Những hôm thằng Nhật “hắt hơi sổ mũi” ông Thấc lo thắt ruột, thắt gan. Đưa nó đi trạm xá, đến nhà các ông lang trong vùng, ông không tiếc công tiếc của, chữa chạy cho nó bằng được. Có lẽ đáp lại công sức của ông thằng Nhật lớn nhanh, càng lớn nó càng khỏe mạnh. Thằng Nhật đến tuổi đi học, ông xin cho nó đến lớp như những đứa trẻ cùng trang lứa trong làng. Thằng Nhật là đứa sáng dạ, thông minh, nó tiếp thu bài giảng của cô giáo nhanh hơn chúng bạn. Năm nào nó cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi, cuối năm đi họp phụ huynh trong ông cũng vui mừng và có đôi chút hãnh diện.
Một hôm thằng Nhật đi học về vẻ mặt buồn thiu, ăn cơm uể oải ngang bữa bỏ dở. Nhìn con, ông Thấc thấy lo:
- Con khó chịu trong người à?
Thằng Nhật lắc đầu. Ông Thấc lại hỏi:
- Hay hôm nay ở trường có chuyện gì?
Thằng Nhật vẫn lắc dầu. Ông Thấc càng thêm lo. Hồi lâu sau thằng Nhật ngước nhìn ông. Hai mắt nó mong mọng nước. Nó buồn buồn hỏi:
- Cha ơi… Cha có biết mẹ con là ai không?
Như có cái gì từ trong cơ thể trồi lên chặn ngang cổ họng, bỗng ông Thấc thấy khó thở. Ông nhún người lại, đôi mắt ông hoang hoải nhìn dòng sông.
Sông Yên vẫn vậy, dòng nước lẳng lặng trôi về phía hạ lưu. Những đám lộc bình trên đầu nở tím hoa cũng lững thững trôi theo dòng nước bàng bạc. Có con chim bói cá lông xanh mỏ dài đậu trên một đám lộc bình, ngơ ngáo nhìn xuống sông.
Hồi lâu, không thấy cha nói gì, thằng Nhật hỏi lại:
- Cha ơi, mẹ con là ai?
Ông Nhật uể oải lắc đầu, giọng buồn bã:
- Sao tự dưng bữa nay con lại hỏi cha điều đó?
Dường như không ghìm nổi nỗi lòng mình, nỗi lòng bị ghim lại bởi bao năm hẫng hụt vì thiếu thốn tình cảm của một người mẹ, thằng Nhật bỗng bật lên khóc. Lúc đầu chỉ thút thít, rồi bỗng nhiên nó òa lên nức nở. Ông Thấc lúng túng, không biết phải xử lý như thế nào, sau hồi loay hoay do dự, ông mở tay ôm chặt thằng Nhật vào lòng. Trong lòng ông thằng Nhật vẫn giần giật từng hồi theo sự tấm tức. Ông Thấc cảm nhận được những giọt nước mắt thấm qua làn áo mỏng, ngấm tận vào con tim già nua yếu ớt.
***
Mấy buổi chiều, lúc đi học về ngang qua đình chợ làng Đào, thằng Nhật phát hiện có một người đàn bà nhìn nó lạ lắm. Người ấy cứ lững thững đi đằng sau, thằng Nhật nghi ngờ có gì khuất tất, nó đi nhanh hơn, liếc mắt lại, thấy người ấy lập tức rảo chân. Nó đi chậm hoặc giả vờ dừng lại làm một việc gì đó, ngay lập tức người kia cũng như muốn làm một việc gì không đi nữa. Bây giờ cũng lớn rồi nên thằng Nhật không thấy sợ, nó chỉ tò mò và băn khoăn, không biết người đàn bà kia là ai và tại sao bà ấy lại theo mình. Có hôm thấy bà ấy lơ đãng, thằng Nhật vội lẩn vào một bụi cây đưa mắt ra quan sát. Người bà gầy, dong dỏng cao, tóc dài, da nhớt nhát. Trên khuôn mặt hơi gãy có đôi mắt tròn khá to, sống mũi cao và đôi môi thâm. Thằng Nhật cho là người đàn bà ấy cũng na ná như những người đàn bà khác khi xuống đò sang sông. Tuy nhiên Nhật nhận ra có điều đặc biệt, ở đôi mắt tròn to mỗi khi nhìn trộm nó. Trong đôi mắt ấy ẩn chứa điều gì thằng Nhật không sao lý giải nổi. Nó chỉ cảm nhận được trong cái nhìn của bà có vẻ như xót xa, có vẻ như nuối tiếc và cũng có vẻ như ăn năn… Bằng linh cảm, thằng Nhật cho rằng người đàn bà kia với nó hình như có một sợi giây vô hình nào đó chằng níu hai người.
Hôm nay, người đàn bà kia vẫn tiếp tục hành trình như không biết chán, bà lững thững theo thằng Nhật. Qua cổng chợ Đào một đoạn xa, gần đến bến đò Yên, tức là chỉ cách “nhà” thằng Nhật một đoạn ngắn nữa, người đàn bà nhanh chân, vượt lên trước mặt thằng Nhật, mặc dù không chủ định, xong bà vẫn ngáng lối:
- Cháu à… Nói chuyện với cô chút xíu được không?
Thằng Nhật dừng bước, nó ngước lên, thấy trong đôi mắt to của người đàn bà kia long lanh hai giọt lệ. Thằng Nhật chưa kịp nói gì, người đàn bà đã nhỏ nhẹ:
- Cô tên là Trinh, cô mới ở xa về.
Ở xa hay ở gần với thằng Nhật cũng không là gì cả, vì người đàn bà này cũng mới xuất hiện mấy ngày nay, với những hành vi “mờ ám”, chính những hành vi ấy khiến thằng Nhật băn khoăn và kích thích trí tò mò. Trước cử chỉ nhẹ nhàng và ánh mắt không biểu hiện sự gian trá, độc ác, thằng Nhật yên tâm. Nó nhẹ nhàng đáp lại:
- Cô muốn nói gì với cháu ạ?
Người bà ấp úng, định nói gì đó, nhưng không hiểu sao lại lúng túng. Thằng Nhật ngạc nhiên, nó bảo:
- Cô muốn nói gì ạ…
Người đàn bà chợt mạnh bạo hơn, bà đến sát người thằng Nhật, bất giác bà nhanh nhẹn túm tay thằng bé, rồi cũng rất nhanh, vén cao tay áo của nó lên. Trong khoảnh khắc chân tay, mình mẩy run rẩy. Thằng Nhật sợ quá, hốt hoảng:
- Cô ơi, cô làm sao vậy?
Mấy phút sau người đàn bà lập bập:
- Cô… Cô không sao… Cô xin lỗi… Thôi… Cháu về đi…
***
Thằng Nhật kể xong, ổn định cảm xúc hơn, chậm rãi hỏi lại cha:
- Cha có biết cô Trinh ấy là ai không?
- À… ờ… hình như mười mấy năm trước cô ấy người làng Đào… bỗng có dạo người ta xì xào với nhau, cô Trinh bỏ đi đâu mất tích.
Thằng Nhật bặm môi, thì ra cô ấy đi đâu xa lắm giờ mới trở lại quê. Ông Thấc trầm tư một lúc, đột ngột hỏi thằng Nhật:
- Cô ấy vạch tay áo của con lên à?
- Vâng!
Ông Thấc lại thở dài. Tiếng thở dài của ông lúc này thật não nùng. Ông biết trên cánh tay thằng Nhật, từ chỗ khửu tay lên bả vai có một vết chàm thâm to bằng cái nắp hộp cao sao vàng. Hồi bế đứa trẻ sơ sinh bị bỏ lại trong quán nước bà Sương xuống thuyền ông đã nhìn thấy vết chàm đó. Tại sao người đàn bà tên là Trinh kia lại muốn xem vết chàm trên tay thằng Nhật. “Hay là…” một ý nghĩ nghi ngờ xuất hiện trong đầu. “chả nhẽ…” rồi “có khi…”. Suy nghĩ như một mảng mây đen, phút chốc loang rộng trong đầu. Ông Thấc thấy choáng váng, mắt hoa lên… Thằng Nhật cuống quýt:
- Cha… Cha bị sao vậy?
Ông Thấc cố lấy lại sự cân bằng, ông khẽ mỉm cười:
- Cha không sao!
Đột nhiên thằng Nhật bảo:
- Cha ơi, có khi nào cô Trinh ấy lại là… - Nó định nói “là mẹ con không”, xong nói đến đấy lưỡi nó tê cứng, hai hàm răng đóng sập vào nhau.
Ông Thấc bảo:
- Con đừng nghĩ linh tinh… Ngày mai đi học tìm cách tránh xa bà ấy ra…” - Rồi ông bảo - Hôm nọ có mấy người đi đò nói chuyện, bọn bắt cóc hay dụ dỗ người rồi mang đi bán nội tạng… phải cảnh giác con nhé.
Thằng Nhật: “Vâng” - từ từ gỡ người ra khỏi vòng tay của ông Thấc rồi ra ngồi đầu mũi thuyền.
Đêm đã phủ xuống bến đò và dòng sông màu đen quạnh. Những vì sao li ti trên bầu trời có cố le lói cũng chỉ phát ra một thứ ánh sáng mờ mờ, nhờn nhợt. Vài con cá vọt lên khỏi mặt nước rồi lại tự rơi “tõm” xuống. Thằng Nhật ngồi bó gối, đôi mắt mở to nhìn chăm chăm vào khoảng mênh mông đen kịt phía trước. Nó tưởng tượng ra mẹ nó đang bơi từ phía thượng lưu dòng sông Yên về bến đò. Mẹ gầy, dong dỏng cao, tóc dài, da nhớt nhát. Trên khuôn mặt hơi gãy có đôi mắt tròn khá to, sống mũi cao và đôi môi thâm. Mẹ nó bơi đến mũi thuyền, giơ tay lên vẫy vẫy. Ô hay sao mẹ nó lại là cô Trinh, người đàn bà mấy hôm nay gần như luôn bám sát nó. Cô Trinh là mẹ nó thì cũng có sao đâu. Có mẹ là tốt rồi, bọn thằng Lâm, thằng Cường, thằng Thắng, con Phượng, con Hồng ở lớp sẽ không trêu chọc nó là đứa không mẹ nữa. Nghĩ đến đấy nó tủm tỉm cười. Chợt tiếng ông Thấc từ khoang thuyền vọng ra: “Muộn rồi vào ngủ đi con!”.
***
Ngồi đối diện với ông Thấc trong khoang thuyền là Trinh. Ông Thấc đã định không tiếp khách, nhưng khi Trinh năn nỉ rằng cô muốn nói chuyện với ông, vì có lẽ đây là cơ hội cuối cùng của cuộc đời cô… Thấy nước mắt tuôn chảy từ khuôn mặt bộc lộ vẻ khổ đau day dứt của cô ấy, ông Thấc đổi ý cho Trinh xuống thuyền. Trước khi vào chuyện ông sẵng giọng: “Cô nói gì thì nói đi”. Cô Trinh gạt nước mắt: “Anh ạ, có lẽ bắt đầu từ hồi em là cô thôn nữ vừa tròn mười tám tuổi…”
Tuổi mười tám là tuổi đẹp nhất của đời người con gái. Trinh biết, hồi ấy cô không xinh đẹp như nhiều đứa cùng trang lứa, song người ta bảo Trinh có duyên thầm. Học xong cấp ba trường huyện, mặc dù đủ điểm vào khoa sư phạm mầm non trường Đại học Cố Đô nhưng vì nhà không có điều kiện, nên Trinh không được bước vào giảng đường đại học. Bố Trinh mất sớm vì bạo bệnh, một mình mẹ làm lụng nuôi bốn đứa con. Trinh là con trưởng, nên đành bỏ lại ước mơ trở thành cô giáo mầm non, xin vào làm công nhân công ty giày da của Đài Loan đóng chân ở khu công nghiệp Đại Phú. Từ làng Đào lên khu công nghiệp hơn hai mươi cây số, cô không có xe máy, đi lại bằng xe buyt vừa tốn tiền lại có hôm bị trễ giờ làm. Mẹ bảo cô thuê nhà, ngày nghỉ hãy về. Trinh chọn một phòng trọ ở phố huyện, không xa công ty giày da. Phòng trọ chỉ hơn mười mét vuông, được cái xinh xắn mà vẫn có nhà vệ sinh và một góc làm bếp. Cuộc sống bình lặng và yên ổn chầm chậm trôi đi, nếu như không xảy ra một biến cố.
Một tối thứ bảy, người ở trọ về quê gần hết, chỉ còn Trinh và vài ba người ở lại. Mấy hôm rồi cô không về nhà vì quản đốc cho làm thêm ca thứ bảy, chủ nhật. Với cô, được làm thêm, có thêm thu nhập là tốt lắm.
Đi làm về muộn, tắm rửa, nấu nướng ăn uống xong, Trinh lên giường mở Youtube trên điện thoại xem clip hài. Chừng gần tiếng sau, bất chợt có tiếng đẩy cửa, (có lẽ biến cố xuất phát là do cô quên chốt cửa) cửa bật mở, dưới ánh đèn mờ mờ từ bên ngoài hắt vào, cô loáng thoáng nhận ra đó là một người đàn ông. Hắn ta không nói không rằng lao vào rồi như một con thú hoang khát tình hắn nhảy lên giường, ôm chặt lấy cô, hắn mở mồm sặc sụa hơi rượu: “Trinh ơi, anh thích em…”! Cô hét lên: “Anh là ai?” Gã đàn ông lè nhè: “Lâu nay anh để ý đến em, và anh muốn được ngủ với em” Vừa nói hắn vừa gục mặt xuống mặt cô định hôn. Trinh ghê tởm với mùi rượu, mùi mồ hôi chua loét của hắn, cô hét to: “Có ai không cứu tôi với!” Bất giác gã đàn ông giở mặt: “Nằm im, kêu lên là toi đời đấy!”. Trinh dùng hết sức đẩy, nhưng hắn to khỏe và đang độ hung hãn nên thân xác hắn vẫn đè nặng người cô. Hắn đưa tay lên ngực cô, bàn tay thô ráp chộp mạnh vào bầu vú vừa xoa vừa day. Trinh hét lên: “Đồ biến thái!” Hắn cười sằng sặc: “Nằm im… Anh thích em từ lâu rồi… Rình rập mãi hôm nay mới có cơ hội…”. Đoạn hắn đưa tay xuống phía dưới, túm lấy cái chun quần lót, hắn định giật cho đứt… Đúng lúc ấy, bất chợt Độ từ ngoài lao vào. Độ là công nhân ở công ty Điện tử, anh trọ cùng khu với Trinh, hai anh em biết nhau từ ngày cùng về đây ở trọ, thi thoảng anh cũng có mời Trinh đi cà phê phố huyện. Vài lần Độ sang phòng cô giúp vài ba việc sửa chữa đồ sinh hoạt lặt vặt. Anh bật công tắc điện lao vào tên “biến thái”, tên kia thấy người cũng hoảng sợ, hắn thu mình, tung ra một cú đá trúng mặt Độ, sau đó cuống cuồng bỏ chạy. Hồi lâu, Độ mới hết choáng sau cú đá mạnh, Trinh lo lắng hỏi: “Anh có sao không?” Độ bảo: “Hơi đau tí thôi, tiếc là không bắt được tên đồi bại”. Trinh bảo: “Nay thật may có anh, không thì…”. Độ gật đầu: “Cũng may, anh vừa về, thấy phòng em có tiếng ồn nên chạy đến…”
Độ cao to, tóc xoăn, trán rộng, lông mày đậm, cằm vuông vắn, gương mặt anh chất phác, hiền từ. Độ hơn Trinh gần mười tuổi, độc thân. Không biết có phải vì hành động “anh hùng cứu mỹ nhân” hay là vì anh Độ là người đức độ, chất phát, tử tế, một thời gian sau ngày “biến cố” Độ nói với Trinh rằng anh ấy yêu cô. Dường như Trinh đã không hề có sự đắn đo, do dự hoặc thể tính toán gì, mà đã ngả vào lòng Độ ngay. Rồi hai người tan vào nhau trong những ngày tràn đầy niềm hân hoan mãn nguyện. Họ đã tính về thưa chuyện với hai bên gia đình. Nhưng dự tính chưa thực hiện được thì lại “biến cố”. Do sơ ý khi làm việc Độ bị tai nạn điện giật, dù được đi cấp cứu khẩn trương, song anh vẫn không qua được. Mười tám tuổi đầu còn non nớt quá, Trinh không biết làm sao. Cái thai trong bụng mỗi ngày một lớn lên. Trinh đã định đến nhà Độ để thưa chuyện, nhưng nghĩ ngợi sợ các bác ấy không tin đuổi đi thì bẽ bàng nên thôi. Trinh càng không dám nói với mẹ, sợ mẹ lo lắng và xấu hổ với xóm làng, hồi ấy ở làng Đào gái chửa hoang là một vết nhọ ô uế, ảnh hưởng cả đến dòng tộc. Trinh buộc chặt bụng, đi làm thêm vài tháng nữa rồi xin nghỉ, lên thành phố làm thuê. Khi sinh con, Trinh đã có một quyết định điên rồ và vô đạo đức nhất, cô đã bế con về đặt trong quán hoang gần bến đò Yên. Trinh chỉ nhớ đến con mình có một vết chàm trên cánh tay phải. Đêm hôm ấy, từ trong bóng tối của một bụi cây gần bến đò, Trinh đã nhìn thấy người lái đò thọt chân bế đứa nhỏ xuống thuyền. Lúc ấy Trinh đã định chạy đến xin lại sinh linh bé nhỏ, nhưng rồi như có tảng đá khổng lồ níu chặt chân…
- Anh Thấc ơi em là một người tồi tệ và khốn nạn. Trên đời người đàn bà bỏ đi đứa con mình đứt ruột đẻ ra là người đáng nhận tội chết nhất!
Trinh bật lên khóc nức nở. Nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt gãy khắc khổ. Ông Thấc lúng túng, quả thật ông chưa từng gặp cảnh nào khó xử như hoàn cảnh hiện tại. Một người đàn bà xa lạ đang nức nở trong khoang thuyền như căn phòng nhỏ luôn bập bồng trên sông nước của ông. Để cô Trinh trấn tĩnh lại, ông Thấc khẽ khàng hỏi:
- Để đứa bé lại rồi cô đi đâu?
Trinh lấy tay quệt nước mắt:
- Tiếp đó là một hành trình dài vất vả, khốn khổ của con người tồi tệ. Em bỏ tiền nhờ mấy người ở công ty da giày nơi trước đấy em làm việc, mối lái sang Đài Loan làm ô sin. Sang đó em vào làm người hầu cho một nhà có ba người đàn ông già nua ốm yếu. Em cơm bưng nước rót, tắm rửa, thay quần áo và cả có lúc trở thành trò tiêu khiển cho họ. Cực chẳng đã nhưng em vẫn phải gồng mình, để kiếm miếng cơm manh áo và tích cóp một số vốn. Hơn mười năm qua em cũng kiếm được một số tiền kha khá, vậy là em trở về. Em muốn bù đắp lại cho con em và cả cho người đã nuôi nấng nó…
Trinh mở phooc mo tuya túi xách định lấy tiền, ông Thấc xua tay:
- Cô định mang tiền về chuộc thằng Nhật ư!
Trinh xị mặt, cúi đầu xuống, lí nhí:
- Em đã một lần khốn nạn rồi, em sẽ không khốn nạn như vậy nữa.
Ông Thấc hỏi:
- Vậy cô tưởng tôi cần tiền sao?
Trinh trầm tĩnh hơn, cô bùi ngùi:
- Thực ra, em cũng đã định không nói, nhưng bây giờ thì em không muốn giấu anh nữa… Trước khi về nước em bắt đầu thấy trong người có những biểu hiện lạ, em nghĩ có lẽ tại mình lao động cật lực quá mà suy nhược sức khỏe. Nhưng khi đi khám, mới biết em mắc bệnh hiểm nghèo…
Ông Thấc lúc lắc đầu, nhìn người đàn bà giơ cả hai bàn tay ôm ngực không biết có phải do xúc động hay do đau đớn! Ông hỏi:
- Vậy bây giờ cô định thế nào? Đi đâu? Ở đâu? Sống ra sao?
Trinh ngước mắt nhìn ông Thấc:
- Biết được thằng Nhật là con em, nó lại khỏe mạnh, ngoan ngoãn, em biết ơn anh vô cùng và em cũng toại nguyện lắm rồi. Hôm nay em đến chuộc lỗi với anh, với con và cầu mong anh và con tha lỗi cho em. Em cũng chẳng sống được bao lâu nữa, nên em cũng không đi đâu xa nữa, em sẽ ở lại làng Đào… để được ngày ngày nhìn thấy núm ruột của mình.
Ông Thấc trầm ngâm, trong đầu ông vừa lóe lên một ý nghĩ. Một ý nghĩ khác thường…
***
Thằng Nhật ngồi bó gói như pho tượng nơi đầu thuyền. Trời đang chuyển dần vào đêm. Bầu trời, dòng sông đều ngả màu sâu thẳm. Trên mặt nước những đám lộc bình vẫn lặng lẽ trôi như vốn thế. Thi thoảng vài con cá ngóc đầu lên đớp khí khẽ chóp chép.
Cái thuyền chòng chành, ông Thấc từ trong khoang bước ra. Ông lẳng lặng ngồi xuống kề bên thằng Nhật. Nấn ná một lúc ông đưa tay bá lấy vai con trai. Thằng Nhật khẽ cựa mình rồi lại trở về bất động. Nấn ná thêm một hồi nữa ông Thấc khẽ khàng nói:
- Chắc con đã biết hết chuyện rồi… Là thế đấy… Cô Trinh chính là mẹ đẻ của con…
Thằng Nhật vẫn chưa có biểu hiện gì khi nghe cha nói. Đôi mắt của nó lúc này căng to nhìn vô hồn vào khoảng mênh mông trước mặt. Thân xác bất động nhưng trong cái đầu non nớt của nó bão dông đang dồn dập đổ về. Những con gió giận hờn. Những con gió trách móc. Những con gió thù hận. Những con gió xa xót… tất cả xoắn vào nhau cùng gào rít, cùng ào ạt, cùng đồng thanh rít lên những tiếng rú rợn người.
Ông Thấc khẽ khàng nói:
Con trai à… không ai thay đổi được chuyện đã qua. Cha con mình phải chấp nhận hiện thực thôi. Không có cô Trinh thì con cũng không có mặt trên đời để làm con của cha. Oán trách giận hờn cũng chỉ để thỏa mãn cảm xúc nhất thời thôi. Con hãy cùng cha tính việc trước mắt…
Thằng Nhật từ từ quay người lại phía ông Thấc. Mặc dù bóng đêm dày đặc nó vẫn nhìn thấy khuôn mặt lấp loáng ánh sáng của cha. Lâu nay nó biết khuôn mặt phúc hậu ấy đã cho nó cuộc đời. Cha nói đúng, nó cũng đã từng âm thầm trách móc, oán hờn và căm giận người đẻ ra nó. Nhưng rồi sau những cơn giận dữ ấy nó lại khao khát và mong ngóng một ngày nào đó nó được ôm lấy mẹ và thốt lên những tiếng “Mẹ ơi!”. Bây giờ thì mẹ nó đã hiện diện ở đây rồi. Nó sẽ đón nhận như thế nào mà thôi.
Ông Thấc thì thào:
- Khi chiều lúc nói chuyện với mẹ con, trong đầu cha nẩy ra một ý nghĩ…
- Cha nghĩ gì cơ?
- Hay là… bảo mẹ con xuống thuyền ở với cha con mình, để mẹ con sống những ngày tháng còn lại với chính con trai của bà!
Vừa nghe cha nói xong, thằng Nhật bật khóc. Tiếng khóc như bị ghìm nén lâu ngày giờ mới bung ra, ào ạt, thổn thức…
Dòng sông Yên vẫn lặng lẽ trôi về hạ lưu.
Ngày mai thứ bảy, phiên chợ làng Đào. Hẳn khách sang đò sẽ đông và rộn ràng, ríu ran.
B.H
(Nguồn: TC VNNB số 302/2/2025)