Thứ năm, 19/02/2026

Căn nhà và khu vườn họ Lâm

Thứ sáu, 30/01/2026

Tác phẩm đạt Giải Khuyến khích

Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”

 

Truyện ngắn dự thi của MAI VĂN BÉ EM

 

Ở quê Lâm hía có căn nhà, và mảnh vườn của ông nội và cha của lão để lại. Cha của lão ngày xưa cũng muốn làm quan, giàu có nên nghe theo lời pháp sư luyện phép, chế linh đơn để có sức khỏe đầu quân giết giặc, nhưng chưa kịp thực hiện thì bị trúng phong mà chết tức tưởi.

                                                                                                                                                                                                Minh hoạ: ĐỖ KÍCH

Lão đi quanh khu vườn rộng cả héc ta, chung quanh bao bọc bởi hàng tre gai vây kín như bưng. Trừ khoảng cổng ngõ hơn ba mét có bụi bông giấy màu đỏ và hàng rào bê tông tiếp giáp phía trước lộ. Ngôi nhà ngói xưa có nhà ngang, nhà kho, nhà bếp của một thời huy hoàng tấp nập kẻ ra, người vào. Cái thời cha của lão thường xuyên tổ chức tiệc tùng, cúng giỗ rình rang, với đủ các loại quan khách họ tộc.

Ngôi nhà lợp mái ngói, cột gỗ chạm trổ công phu, nền gạch tàu, vách tường, cửa nẻo đều hai lớp. Cha lão nói: Ngày xưa ông nội lão đưa những nghệ nhân giỏi về làm hơn ba năm ròng mới xong và sau đó những bác thợ này đã trở thành người thân của gia chủ. Cúng giỗ tiệc tùng quan trọng là lão phải về, có lúc mấy thằng con trai lão tranh nhau về tiếp quản mùa vụ trái cây...

Mỗi lần về thăm nom, lão nhắc nhở người làm thuê và thu hoạch cây trái trong vườn là chỉ được ở nhà dưới, đó là phận hiển nhiên của kẻ ăn người làm. Cửa nhà chính lão luôn đóng kín.

Lần này lão phát hiện ngôi nhà ẩm mốc đã bị mối mọt bắt đầu xông, chúng đục khoét làm những thớ gỗ rỗng tuếch, nhẹ tênh. Những bức hoành phi, câu đối, gỗ hương đục chạm long phụng, chim thú, giá trị không tính bằng tiền đã bị rớt mất. Lão rủa thằng cháu inh lên: Chúng mày là bọn ăn hại. Nhưng thực ra bọn phá hoại nhà lão là hai thằng con trai “báo gia - chi tử” và đứa con gái “hư hỏng” vì cờ bạc. Đứa về đục lấy tấm gỗ của cây giá trị dày cả gang tay về làm phòng the, đứa lấy cái tràng kỷ trạm khắc xà cừ về kê nằm, đứa lấy cái mâm đồng, đứa lấy mấy cái chậu hơn trăm năm đưa về nhà rồi cũng chẳng còn. Có những món đồ cổ giá trị hàng tỷ đồng, chúng nó đem về nhà để vợ con bán cho đám đồ cổ hoặc đi thay đồ hiện đại. Như cặp giường nóng lạnh cẩn xà cừ của ông bà nội lão để lại cho cha lão, mấy thằng con lão bán cho bọn đồ cổ để có tiền đầu tư vào chứng khoán.

Tan hoang này có lỗi của lão, lão phải thấy hết giá trị ngôi nhà và của cải của ông nội và cha lão để lại. Ba đứa con không đứa nào chịu nhận từ đường và lão cũng hùa theo vào Nam ở với chúng cho tới cái ngày lão sắp chết, cho tới khi lão gặp Khịa đệ tử của pháp sư Tía mà cha của lão ngày xưa tin nhờ. Khịa nhắc tới linh đơn “Trường thọ” sẽ giúp lão duy trì sự sống, chữa khỏi bệnh nan y. Khịa nói: Linh đơn “Trường thọ” sư phụ hắn đã chôn cất dưới lồng đất nhiều năm. Linh đơn “Trường thọ” gồm có: Ngưu hoàng, là viên sỏi trong mật của con trâu cò nấu nó với long vĩ và xương hổ. Hồi đó lão Lâm Hía và thầy Khịa còn nhỏ, ông nội và cha của lão đưa cho pháp sư Tía rất nhiều ngân lượng để thuê người đi săn bắt cọp, ra biển tìm long vĩ.

Long vĩ thực chất là tên gọi của long diên hương, một chất sáp được tạo ra trong hệ tiêu hóa của cá nhà táng, một loài cá voi có răng. Nó còn được biết đến với các tên gọi khác như “cục phân cá” hay “trầm hương của biển cả”.

Pháp sư Tía, sư phụ của Khịa còn dạy cho cha lão Hía bộ “Binh pháp Tôn Tử”, để cha lão dạy con mình về binh pháp, để làm tướng tạo tiếng thơm cho gia tộc. Nghe đâu pháp sư Tía còn tặng cuốn “Pháp thuật bí truyền của Trung Quốc cổ đại”, cuốn sách pháp thuật này đem lại sự giàu có thịnh vượng của gia tộc.

Lão Lâm Hía quyết định tự cứu mình uống linh đơn, cứu ngôi nhà tổ tiên, lão làm theo lời dạy của pháp sư Khịa nghiên cứu cuốn “Pháp thuật bí truyền của Trung Quốc cổ đại”. Lão bắt thằng cháu đích tôn học cuốn binh pháp Tôn Tử, để đúng 18 tuổi thì tòng quân làm nghĩa vụ người trai.

Lão cố nhớ lại: Năm đó gã mới 17 tuổi và mới lấy vợ, ông Khả cha lão phải chật vật lắm mới dàn xếp được cho mọi thứ đầu xuôi, đuôi lọt, mấy cô gái ở xóm trên, xóm dưới không đến quấy phá đám cưới. Cha lão nghe lời ông pháp sư, đêm khuya trời tối phải ra vườn ăn nằm với ma cái để luyện phép.

Vợ lão Lâm Hía là con nhà dòng dõi quan quyền thời cuối mùa, gia thế vợ lão sừng sự hàng trăm mẫu ruộng, cũng gọi là môn đăng hộ đối. Vợ lão đẹp sắc xảo, được nuôi dạy tử tế về tam tòng tứ đức. Nhưng một lần vợ lão nổi loạn, cha lão có ba vợ ông thường xuyên bênh vực bà vợ bé trẻ đẹp và ức hiếp vợ cả mẹ lão Lâm Hía. Bữa ăn đó ông quát mắng bà vợ lớn vì một lý do ấm ức không đâu.

Thanh Lam vợ lão Lâm Hía hét:

- Cha mà còn ăn hiếp má nữa, con báo quan trên về đây bắt dì út đấy.

 Cả nhà sửng sốt, vợ lão Hía cô con dâu lâu nay hiếu thuận ngoan ngoãn, lành hiền nay dám cảnh cáo cha chồng và bằng cái giọng cực kỳ láo xược.

Lão Khả, cha Lâm Hía há hốc mồm kinh ngạc rồi đứng bật dậy, ông vớ ngay cây chổi sau lưng định đánh con dâu, nhưng sợ đụng đến gia đình nhà sui, lão quay qua bà Hương:

- Bà dạy dâu con ăn nói với cha chồng vậy ư?

Bà Hương chạy vội lên nhà trên, bà chui xuống gầm bàn thờ trốn. Lão Lâm Hía chạy theo nắm lấy cây chổi trên tay của cha, hai người kéo qua, đẩy lại “rầm” bàn thờ cửu huyền ngã đổ. Bà Hương vợ ông Khả hét lên:

- Nhà mình tới hồi mạt chủ rồi.

 Lão Khả giận run tím, mặt ông lần trần một chút rồi vứt cây chổi, lẩy bẩy đi ra vườn. Mọi người đang sợ hãi nép dọc lối lên, mâm cơm cũng giải tán không ai còn tha thiết động đũa. Vợ lão Lâm Hía cũng cuốn gói chạy về nhà mẹ ruột, mấy ngày sau bà sui đưa con gái qua nhà trai để xin lỗi cha chồng, ông Khả không nói gì. Và cũng tư đó ông không còn ăn hiếp bà Hương nữa. Ông cứ ngơ ngác luyện phép, tìm kiếm phép màu trong cuốn phép thuật bí truyền của pháp sư để làm giàu.

Rồi một hôm trời mưa to, sấm sét rền vang, một tiếng nổ to. Khu vườn của ông được ngăn đôi bởi một con suối xuyên qua rào tre, nước chảy qua nó ngoằn ngoèo theo một hình thể của con mãng xà.

Hồi còn nhỏ lão có nghe cha Khả nói: Pháp sư khơi long mạch, hình loằng ngoằng là thế ếm dữ không cho âm giới tràn sang nữa. Ông Khả cha dặn lão, không cho bất cứ ai được qua cầu tre sang bên kia con suối, bên kia là những cây xoài, cây vú sữa, cây nhãn lâu đời rợp bóng, để pháp sư luyện phép. Ngoài rào tre phía ấy là ngọn đồi thấp, trước đây có một ngôi cổ tháp, nơi chôn xương cốt cha mẹ ông nội của lão Hía để đời con cháu làm quan, sung sướng. Pháp sư nói đó là đỉnh đầu của Rồng, giờ đã sụp đổ hoàn toàn chỉ còn vết tích gạch vỡ, những mảnh đá trang trí sứt sẹo hình thù không ra người, không ra thú. Sau này, lúc cha con ông ra phố ở nhiều người tới đào bới thu nhặt rồi mang đi đâu chẳng rõ.

Lão nghe cha Khả kể rất nhiều chuyện rùng rợn, từ khu vườn nhà lão. Trên kia ngọn đồi vào những đêm trời tối có ma nữ khóc văng vẳng, tiếng rì rầm, giọng ru con hời hời. Một lần chạng vạng tối ông nội lão và những người làm thuê đi ngang ao nước được đào để lấy nước tưới vườn, bỗng chồm lên nửa thân hình người phụ nữ trẻ áo bà ba trắng, tóc dài êm không tiếng động, phần tóc còn khuất sâu dưới nước. Con ma dùng tóc đan thành võng, ru con, ông nội lão hét lên hãi hùng rồi ngất ở bờ ao. Khi tỉnh dậy ông về Phú Quốc mua con chó mực xích sau nhà, đêm đêm nó sủa vọng vào bóng tối, ông cấm tiệt mọi người không được vượt qua mương nước, trèo lên đỉnh đồi. Không ai sang bên ấy, đó là một thế giới u huyền, chỉ để thầy trò pháp sư Tía luyện phép bắt ma, đồn ra khắp nơi.

***

Ngày đầu tiên về lại ngôi nhà lão cũng ra vườn, chiếc chõng tre ngày xưa đã mục nát từ lâu, mấy chục cây xoài, vú sữa, cây nhãn vẫn còn đó, già cỗi và ít trái, đã có nhiều cành khô, nhiều mảng gãy đổ vì những cơn bão lớn. Con suối nước đã khô cạn, cỏ mọc um tùm. Rào tre còi cọc thưa thớt, hoang tàn, tấm cửa gỗ nặng nề khó mở. Trong ngôi nhà chính tất cả mọi vật phủ dày lớp bụi. Lão hết sợ những tán cây rậm rạp, hết sợ người nữ tóc dài áo trắng. Lão móc lại chiếc võng vải thay cho chiếc chõng tre, dưới tán cây vú sữa rợp mát. Trong làn hương nhẹ của hoa sữa trầm xuống quanh lão, nó vừa rộng rãi bừng thức của đồng cỏ, vừa kín đáo thanh u của vườn đêm thấp thoáng trăng, nó đâu đó thoảng chợt không thể nắm bắt. Lão nhớ lại ngày xưa cũng tại nơi này, từng tế bào căng tràn, rộn rực sinh sôi của lão, lão rụt rè đón chờ sự ngây ngất đầu đời, rã rời bên tình nhân lớn hơn mình mười tuổi, nỗi sướng vui mà bà bếp chấp nhận để được cậu chủ quan tâm, ân ái.

Lão giật mình tỉnh dậy rã rời, nỗi sướng vui bẽn lẽn. Quay nhìn quanh quất khu vườn tuyệt đối yên tĩnh, lão ngồi dậy nghếch mũi, một dãy nước dẻo nhèm nhẹp với máu giữa hai đùi. Lão lẽo đẽo vào nhà, lão nói với Khịa: Hồi Pháp qua đánh chiếm đất nước ta, chúng săn lùng tìm vàng, đá quí, ngọc trai. Ông nội của lão đã cất giấu đâu đó vàng bạc trong khu vườn mênh mông kỳ bí này.

Khịa đứng ngẩn người quan sát thêm một lát rồi chỉ lên đỉnh đồi, hắn ta lẩm bẩm: Có khi nào các cụ chôn kho báu ở trên đỉnh đồi không hả? Tới khi nắng gắt hẳn mới nhảy lồng lên sung sướng mạnh mẽ, hắn lấy chiếc la bàn phong thủy màu vàng, hình tròn, bằng ngà voi, có khắc các ký tự bằng chữ Hán. Hắn ngó mặt trời, vái lầm thầm rồi để la bàn cho xoay theo hướng đất, mạch đất. Gã làm vậy mấy ngày mà không thấy gì hơn. Rồi hắn bỏ đi, hơn tuần sau hắn đưa anh thợ dò vàng bằng máy về. Một cuộc truy tìm kho báu trong nhà, ngoài vườn bắt đầu. Pháp sư Khịa và lão Hía hy vọng tận hưởng cảm giác hồi hộp khi nghe thiết bị phát ra tiếng với nhiều âm khác nhau. Họ bới dưới gốc cây vú sữa lên một hủ tiền đồng rỉ xét.

Cũng như ngôi nhà và khu vườn của lão, lúc này cơ thể đang rệu rã của lão như ngôi nhà mối xông và khu vườn đang tàn lụi. Nhưng lão vẫn tin vào năng lực thần kỳ của pháp sư Khịa, hắn sẽ làm sức khỏe của lão rạng rỡ, huy hoàng như xưa.

Lão gọi mấy đưa cháu họ tới, cho chúng nó hưởng một phần từ hoa lợi và nguồn tiền riêng lão giành dụm được từ mấy món cổ vật bán trước đây. Lão phân việc cụ thể cho chúng nó tôn tạo khu vườn, ngôi nhà. Chủ yếu là thuê mướn người làm dặm giá lại những chỗ dột nát, quét dọn bụi bặm, lau rửa. Lão nói:

- Phải làm lại, phải cho nhà này trở về với những gì đã từng có. Chỉ cần ta tìm lại được sức khỏe, tìm gặp kho báu của họ Lâm, ta sẽ tặng tiền cho các con có được sống sung sướng.

Thằng Hai làm thuê cho ông, nó mạnh miệng nói:

- Ông thuê việc thì con làm thôi, ông cha con cũng làm thuê làm mướn kiếm sống, đời chúng con giờ cũng vậy. Trước gọi là đầy tớ, giờ làm thuê cũng chỉ khác nhau cách gọi. Chúng con cần tiền, cần việc làm để sống chứ còn sung sướng đời đời thì chưa mơ tới. Ông ơi! Ông nghĩ kỹ đi chứ thời đại này nghèo như con còn xây được nhà, ông giữ mãi khu vườn âm u, ngôi nhà cũ kỹ để làm gì. Con nghĩ hay là ông gọi mấy cậu về để thừa hưởng…

- Ngày nào tao tìm được kho báu, tao xây lại ngôi nhà khang trang, làm hàng rào bằng trụ bê tông, lưới sắt chung quanh; biến khu vườn này thành địa đàng có một hòn đảo, một rặng núi, một thung lũng; một nơi tận hưởng hạnh phúc lý tưởng mà con người khao khát kiếm tìm.

Nhưng rất nhiều lần, ngày cũng như đêm, lão không tìm thấy kho báu, chỉ thấy ở khu vườn xum xuê cảm giác hiu quạnh, ẩm thấp của lá cây.

Vợ lão một tay trèo trống nhà chồng, vợ chết lão lơ ngơ đi theo đám con phá gia chi tử; ở nhà đứa con trai nào lão cũng thấy từ những cô con dâu tràn đầy sinh khí. Vợ thằng hai hành nghề hớt tóc, gội đầu, lấy ráy tai. Nó đứng bên này, chồm qua bên kia ngoáy tai khách, khuôn ngực nở nang, chạm mặt đám đàn ông. Vợ thằng ba bán quán nhậu, ăn mặc gợi cảm, tiếng cười, tiếng cụng ly rôm rả với khách. Hai thằng con trai của lão có thấy, có biết nhưng cũng không dám la rầy vì sợ vợ.

Thi thoảng con gái của lão cử dì Hai đến lui cui quét dọn nhà cửa và nấu nướng bữa ăn cho lão. Lão đang ở ngôi nhà ông cha, ngôi nhà của lão và dì Hai có thân hình căng rưng rức. Lão ngợp thở, dì Hai lúc nào cũng giản dị và thân thiện, mơn man để lão quen cái mùi nước hoa của dì.

Bọn đồ cổ tới trả giá mớ chén bát cổ, còn rất nhiều. Dì Hai há mồm, trợn mắt ngó cái giá, lão chỉ bán một ít để hai người chi dùng. Và hàng ngày càng lúc càng gần gũi, lão nhìn lâu thấy mặt mũi dì Hai đẹp như là cái đẹp riêng cho lão. Rồi một hôm lão ra vườn, nằm trên cái chõng tre mới, dì Hai ấy theo ra. Lão hồi hộp chờ điều kỳ diệu xảy ra trên cái chõng của lão.

Khu vườn mới dọn dẹp lại đã hết vẻ hoang tàn, nhưng chỉ còn ý nghĩa thời gian trên các gốc cây cổ thụ đã có nhiều vệt nắng, rào tre rách từng mảng thấy loáng thoáng. Ngoài kia trên đồi đám trẻ chăn bò ríu rít, những ngôi nhà sáng đẹp.

Thi thoảng đám con của các anh chị có về thăm, lão hiểu chúng nó thăm chừng lão chết chưa rồi sẽ tri hô lên, vẻ hớt hải đau đớn giả tạo để mà phân chia. Đừng hòng, gã pháp sư Khịa thế nào cũng luyện linh đơn trường sanh cho lão uống. Lão không còn khái niệm thời gian chỉ sự tồn tại là có thật, sự tồn tại cũng có lúc nhập nhằng giữa thực và ảo. Điều không lạ trong ngôi nhà và khu vườn này từ lâu vốn đã vậy, vẫn trống rỗng, không dãy chuồng bò, chuồng heo, kho lẫm, mối xông không có kìn kìn sản vật của vô vàn ruộng.

Lão không nhớ đã đưa cho dì Hai bao nhiêu món, tự thâm tâm lão nghĩ: “Dì Hai là chỗ dựa duy nhất của lão, của ngôi nhà”. Dì Hai suốt ngày ríu rít như chim sáo, chiều chuộng lão, từ những ý muốn đơn giản đến ý nghĩ tranh tối, tranh sáng trong toàn thể những hiện diện, dù rằng lão không còn khả năng duy trì nòi giống, nhưng dì Hai ấy vẫn phục vụ từ a đến z để lão vui. Dì ta là dì Thúy, sợi dây nối lão hiện tại với trước đây. Có lần dì Thúy đề nghị lão khơi lại cái long mạch, lão đã gọi nhân công, khơi một dòng nước nhỏ rịn ra ngân ngấn chảy xuống cái ao.

 Đêm đó lão nằm ngủ trên cái cõng tre của lão ngoài vườn, lão mơ thấy và nghe “bụp” một tiếng mạch phù như suối phun, cái hũ sành vỡ nát trôi ra cuồn cuộn giấy vụn.

Dì Thúy chạy ra thông báo, thầy Khịa đã cuốn gói đi mất. Không mở mắt ra nhưng lão cứ nhắm nghiền mắt tan ra trong tức tưởi. Lão nằm trên chõng tre, lão vừa lẩm bẩm vừa mỉm cười, nhưng nụ cười cứng đờ và đau đớn.

***

Khi nhà chức trách đến khám xét hiện trường ngôi nhà sắp đổ sụp, phủ đầy bụi bặm đang là vương quốc của mối sâu. Họ quá ngạc nhiên khi phát hiện lão đã chết, chết từ lúc dì Thúy bỏ lão ra đi, con cái lão cũng biệt xứ và ngôi nhà khu vườn bỏ hoang.

Những bí mật trong căn nhà gỗ và khu vườn kỳ bí của lão cũng được phơi bày, ông nội và cha lão đánh lừa mọi người, làm ma tóc dài để không ai dám tới khu vườn, nơi pháp sư chế thuốc phiện từ vỏ mầm của cây anh túc. Chuyện này thực hư ra sao chẳng rõ, nhưng có người từng nhặt được những dụng cụ như cái ché nhỏ có viền trang trí rất tinh tế và bộ bàn đèn thuốc phiện, bọn đồ cổ bảo gốm gò xanh cách đây tới hơn 300 năm. Những chiếc hũ sành chôn giấu kỹ dưới đất sâu, có thể đó là hũ chứa chất ma túy, không phải linh đơn “Trường thọ”.

 Đáng nói hơn, trong vườn còn có một hồ nước đầy ắp cá trê - được coi là “giếng ước nguyện” bí ẩn, nhưng lại nằm sau hàng rào kín mít, cấm khách tham quan tiếp cận. Khịa khai rằng, ao cá này ngày xưa sư phụ của hắn xử lý xác chết. Những con nghiện chết không ai chôn cất, người của Tịa nhặt về làm thức ăn cho cá./.

M.V.B.E

(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)

Bài viết khác