Bút ký dự thi của VŨ THÀNH
Lâu lâu chúng tôi lại gặp nhau, khi bình trà nóng, lúc chén rượu nồng. Chuyện đất, chuyện trời, dù chuyện gì rồi vẫn quay về chuyện xưa, kỷ niệm khó quên của một thời chiến trận. Hoàng Huy Định - anh là một trong số rất ít đồng ngũ với tôi còn lại hôm nay. Thật khó mà đoán đúng được tuổi anh, năm nay anh đã bước sang tuổi bảy mươi bảy. Một gương mặt vuông tươi tắn, nước da trắng hồng, đôi mắt sáng tinh anh lúc nào cũng như cười, nhìn vào là đã thân quen. Tôi còn nhớ ngày đầu tiên đến uỷ ban nhân dân thị trấn làm thủ tục giấy tờ trở lại đời thường, sau bao năm quân ngũ. Người tiếp tôi là một chàng trai trẻ, là cán bộ văn phòng uỷ ban. Anh đọc hồ sơ rất nhanh và làm ngay thủ tục. Khi trả lại hồ sơ và bắt tay tôi, anh nói: đơn vị anh ở miền Đông nam bộ à, thế là chúng ta có chuyện để nói với nhau rồi đấy. Tôi cười xã giao và thầm nghĩ: chàng trai trẻ này có gì biết về miền Đông mà nói với nhau cứ như là đã ở miền Đông.
Rồi một hôm, sau buổi làm việc anh đến tìm tôi và mời tôi đi uống bia. Tôi thấy bất ngờ và cũng thấy hay hay. Khi nâng vại bia lên chạm cốc, anh hỏi tôi có nhớ hôm nay ngày gì không? Tôi ngẩn người giây lát và trả lời: Hôm nay với xã hội thì không có gì đáng nói, còn với tôi là một ngày đáng nhớ và nếu tôi không nhầm thì anh cũng có liên quan đến ngày này. Anh vội bỏ vại bia xuống, vồ lấy tay tôi mà lắc lắc. Đúng! Đúng! Đúng, em cám ơn anh, lâu lắm rồi em lại mới được kỷ niệm ngày nhập ngũ. Tôi nhìn Hoàng Định trừu mến, muốn ôm chú ấy vào lòng. Định nhìn ra ngoài trời mơ màng, như nói với riêng mình. Anh còn nhớ hôm ấy trời mưa dầm không? khi ở nhà, mẹ em đưa cho em một chiếc khăn, nói là khi nào lạnh thì nhớ quàng vào cổ kẻo bị ho, rồi Hoàng Định cúi xuống như muốn chìm vào trong kỷ niệm. Đúng, hôm ấy trời mưa dầm. Lần đầu tiên của đời lính hành quân lại vào đêm mưa dầm, lần đầu tiên vào rừng trong đêm mưa và bao nhiêu thứ đều là lần đầu tiên ấy đã tạo nên một thế hệ vàng gan góc cùng lăn lộn với cuộc chiến dai dẳng khốc liệt bao nhiêu năm.
Hoàng Định nhập ngũ ngày 25 tháng 7 năm 1967 huấn luyện tại đại đội 11, tiểu đoàn 381 Ninh Bình là lực lượng chiến lược chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công Mậu Thân 1968. Năm ấy Hoàng Định chưa đủ 18 tuổi, nhưng anh vẫn tình nguyện lên đường.
Ba tháng huấn luyện ở Khe Gồi Đồng Giao đủ để cho một người lính trẻ quen với ba mươi cân của chiếc ba lô trên vai, với chặng đường trường chinh không tính ngày, tính tháng. Ba bài bắn súng cơ bản đủ để cho người lính tự tin khi dương súng bóp cò. Và tiếp theo là phía trước, là chiến trường. Chiến trường theo cái nghĩa giản đơn là giao tranh, không! chiến trường không phải chỉ là giao tranh, mà chiến trường là thử thách. Thử thách sức bền của con người cả thể chất và tinh thần. Sức bền để hành quân mười lăm tiếng đồng hồ không có trạm giao liên.Vừa mắc võng, chưa kịp đặt lưng, lại có lệnh hành quân vì trạm giao liên bị lộ, máy bay địch sẽ ném bom bất cứ lúc nào. Sức bền để tỉnh táo giành giật nhau từng mô đất trên đỉnh 369, từng con suối của Khe Sanh. Thử thách giữa cái sống và cái chết mà không được phép mắc sai lầm.Thử thách trong sự dằn vặt của lòng dũng cảm và sự hèn nhát. Thử thách không chỉ một vài ngày, một vài lần mà dai dẳng và đầy tàn khốc đó là chiến dịch Khe Sanh - đường 9.
Chiến dịch Khe Sanh - đường 9 quân giải phóng chủ động mở ra nhằm chọc thủng hàng rào điện tử Macnamara. Hàng rào này dựng nên nhằm ngăn chặn, phá hoại tuyến vận chuyển đường Hồ Chí Minh. Quân ta mở chiến dịch còn có nhiệm vụ nghi binh, thu hút lực lượng địch dồn về đây để phía Nam và các thành phố đồng loạt tổng tiến công.
Ngày 12 tháng 1 năm 1968 tiểu đoàn 381 Ninh Bình đến Quảng Trị bàn giao quân cho 3 sư đoàn. Hoàng Định cùng một số anh em Nho Quan được về Sư đoàn 325. Và đây là chiến trường, là sống và chết, là tỉnh táo, là cảnh giác, là gối đất nằm sương. Rồi cũng quen, tất cả cũng lại như bình thường. Coi cuộc sống trong chiến tranh là bình thường, thế mới là điều kỳ diệu, kỳ diệu tới mức mà người ngoài cuộc không tài nào hiểu nổi. Đấy là kết quả của tình yêu đất nước, của ý chí một dân tộc thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô lệ. Ngày đó, người Mỹ cậy vũ khí hiện đại muốn kéo quân đội ta vào một cuộc chiến đối đầu ở Khe Sanh như kiểu Điện Biên Phủ mà thế chủ động là Mỹ. Nhưng các tướng lĩnh Việt Nam là bậc thầy về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại áp dụng ngay chiến thuật du kích, dằng co, dai dẳng, đánh ngay vào điểm yếu nhất của người Mỹ là lòng kiên trì và sức chịu đựng.
Không thể nhớ hết đã chặt bao nhiêu cây gỗ để làm hầm, không thể nhớ hết đã bắn hết bao nhiêu băng đạn, lăn lộn từ tuyến hào này sang mỏm đất kia giành giật với địch. Nhưng có thể nhớ rõ từng lần cáng thương binh từng gương mặt cố nén sự đau đớn mỉm cười trước lúc chết. Những nỗi đau nén lòng để rồi lại trút lên nòng súng.
Sau này ngồi nghĩ lại ít nhất trong đời chiến trận cũng được tham dự một chiến dịch lớn trong lịch sử. Để mà nhớ, để mà tự hào, để mà nói với con, với cháu rằng thế hệ cha ông đã không tiếc xương máu không tiếc cả cuộc đời mình để dành lại độc lập tự do, hoà bình cho đất nước có ngày hôm nay. Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh cùng với cuộc tổng tiến công mùa xuân 1968 buộc người Mỹ phải ngồi vào bàn tròn ở hội nghị Pari. Lịch sử chiến tranh dành độc lập của dân tộc Việt Nam bước sang một trang mới.
Tháng 9 năm 1968, Sư đoàn 325 đến Tây Nguyên. Đến đây, xa hậu phương miền Bắc việc tiếp tế vũ khí lương thực khó khăn hơn. Nhiều khi các đơn vị phải bung ra đánh chốt lẻ, diệt những đồn trú xa để lấy lương thực, vũ khí. Có lẽ đây là thời kỳ khó khăn nhất của chiến trường miền Nam nhất là vùng Tây Nguyên. Chính những lúc khó khăn này mới thấy đầy đủ phẩm chất của một người lính được lớn lên trưởng thành từ vùng quê nghèo có truyền thống cách mạng, những người như Hoàng Định.
Đơn vị đến đâu đóng quân là Định cùng anh em cuốc đất trồng rau, trồng sắn (củ Mì) khoai, Định nói với anh em: mình cứ trồng, có thể mình không được ăn thì đồng đội chúng ta đến sau sẽ được hưởng. Ngơi việc huấn luyện, Định vào rừng kiếm lá thay cho rau (ngày đó bộ đội được huấn luyện có hơn mười loại lá rừng có thể ăn được thay rau) xuống suối tìm con cua, con cá. Bữa cơm trong trung đội của Định bao giờ cũng được cải thiện. Năm ấy Hoàng Định được bầu là chiến sỹ thi đua của sư đoàn.
Rồi những khó khăn cũng qua đi, và liên tiếp là những trận đánh Đức Lập, Đồng Ban, đường 13, Cầu Khởi…. và trận ngày 7 tháng 3 năm 1969 trong trận chặn địch suối Ông Hùng thì Hoàng Định bi thương. Khi cả tiểu đội thương vong gần hết Hoàng Định không rời trận địa, bám trụ giữ Suối không cho địch tiến vào. Sau trận ấy Hoàng Định được ghi công “Hành động dũng cảm”.
Sau khi lành vết thương, nhiều lần đơn vị cho anh ra miền Bắc nhưng Định vẫn xin ở lại đơn vị công tác, còn sức còn chiến đấu.
Cuối năm 74 sức khỏe của Định yếu hơn, đơn vị cử Định ra Học viện và cũng để cho Định nghỉ ngơi nâng cao sức khoẻ.
Về tỉnh đội Hà Nam Ninh anh là cán bộ khung huấn luyện bộ đội. Bằng kinh nghiệm chiến đấu của anh những năm ở chiến trường, anh hướng dẫn, trao lại cho anh em tân binh những bài học xương máu của mình. Những bài học thiết thực ngoài sách vở, nhưng tính thực tiễn lại rất cao. Nhiều thế hệ chiến sỹ do anh huấn luyện đã trưởng thành trong chiến tranh biên giới phía Bắc trở về thăm anh như muốn báo cáo lại kết quả học tập đã đi vào thực tiễn.
Khi sức khoẻ không thể đáp ứng được nhiệm vụ quân đội, anh trớ về hậu phương thì Đảng uỷ uỷ ban thị trấn Nho Quan lại mời anh ra làm văn phòng uỷ ban.
Sau 15 năm phục vụ trong quân đội, anh trở lại đời thường với biết bao thay đổi. Khi anh rời quê hương lên đường vào chiến trường, đất nước đang chiến tranh, toàn dân dồn sức cho tiền tuyến. Nay đất nước đã yên hàn, nhưng hậu quả chiến tranh để lại nặng nề quá. Đất nước bị bao vây cấm vận, thù trong tuy đã tan nhưng chưa hết giặc ngoài vẫn trăm phương ngàn kế phá hoại. Quê hương Nho Quan còn quá nghèo, gia đình anh cũng biết bao khó khăn. Nhà có bốn người, với mấy chục ngàn trợ cấp ít ỏi của anh. Thời ấy ở thị trấn Nho Quan người ta không muốn làm công tác ở uỷ ban, vì trợ cấp không đủ ăn sáng. Người ta thích làm các dịch vụ, mua bán ngoài chợ lại có đồng ra đồng vào đỡ vất vả hơn. Đã có câu: “Đầu đường thiếu tá vá xe, cuối phố đại uý bán chè đỗ đen”. Đời sống thực thuở đó là thế. Ông phó mộc thì có tiền ăn sáng, còn ông phó tiến sỹ ăn cơm nguội đi làm, mà có cơm nguội đã là may đấy. Những người lính từ quân ngũ bước ra rất ngáo ngơ giữa đời thường. Chị Đông vợ anh không muốn anh tham gia công tác. Chị nói: anh bao nhiêu năm vất vả rồi, nay được nghỉ thì về ra chợ bán hàng với em, tội gì mà kham khổ mãi.
Tuy thế anh vẫn quyết định tham gia công tác địa phương, nhưng anh cũng phải cố gắng nhiều hơn để giúp chị Đông công việc gia đình. Nghĩa là phải có kế hoạch chặt chẽ giữa việc nhà và việc xã hội có thế mới yên tâm công tác. Những năm trong quân ngũ đã tạo cho anh phẩm hạnh của một người chỉ huy tỉ mỉ, chặt chẽ và chu đáo. Để hôm nay ứng dụng vào đời thường của chính mình sao cho trong ấm, ngoài êm, trên thuận dưới hoà.
Những ngày đầu bắt tay vào công việc, cái khó không phải là công tác chuyên môn, mà chính anh chưa hoà nhập được với phong cách của cơ quan dân chính. Nhưng rồi với tư chất thông minh anh đã nhanh chóng thích ứng.
Anh được giao nhiều việc ở nhiều cương vị khác nhau việc nào anh cũng làm tốt. Nhưng chỉ có vai trò trưởng công an thị trấn là anh đảm nhiệm lâu nhất và cũng nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Thực ra đây là công việc luôn đối diện mặt trái xã hội. Người tiếp xúc thường xuyên là bà con thị trấn, tất cả đều quen biết. Nếu cứ thẳng băng ra mà làm, rồi sau cũng khó nhìn mặt nhau. Mà không làm đúng, thì không hoàn thành nhiệm vụ. Tự anh phải tách bạch con người của mình ra nhiều mảng khác nhau. Ở nhà anh là người chồng, người bố tình cảm mẫu mực. Ra đường là người bạn hoà thuận vui vẻ, trung thực với mọi người. Lên công sở là trưởng công an nghiêm túc kỷ cương.
Có lần anh trực tiếp vây bắt một ổ đánh bạc lớn, đã từng làm khuynh gia bại sản nhiều gia đình. Hơn mười “con bạc” trong đó có cháu là con bà chị của anh. Anh biết thế nào buổi tối bà chị cũng đến nhà anh để xin cho cháu. Hết giờ làm việc anh không về nhà mà vào nhà một người bạn để ăn cơm. Nhưng rồi anh nghĩ lại, đây không phải lần đầu mà cũng không thể là lần cuối cùng, anh không thể né tránh sự thực mãi. Việc của anh là phải đối đầu .
Cao điểm nhất có lẽ là chiến dịch 135. Đây là một cuộc vân động lớn giải toả mọi vật cản cho đường thông hè thoáng. Bởi từ trước tới nay, chính quyền cũng chưa quan tâm đến viêc này, nên bà con tự do xây dựng thậm chí lấn cả ra đường, tuỳ tiện dựng biển quảng cáo... Tuy đã có lực lượng cảnh sát cơ động hỗ trợ, nhưng công an địa phương vẫn là chủ lực. Ban đầu là vận động thuyết phục. Đến nhà nào cũng vâng vâng, dạ dạ. Nhưng xong rồi đâu lại vào đấy.
Tối ngày 25 tháng 9 năm 1995 anh tổng hợp tình hình sau một tuần tuyên truyền vân động. Ngày mai sẽ là ngày tổng công kích của chiến dịch, ngày mai sẽ không tránh được va chạm, nặng nhất là 12 hộ lấn ra vỉa hè buộc phải tháo gỡ.
Đúng như dự kiến phần cuối của chiến dịch không còn đơn giản nữa, nhưng mọi việc đều xuôi, riêng còn hai hộ xây dựng lấn chiếm vỉa hè đã khoá cửa không ở nhà, trong đó có một hộ là thương binh. Anh đề nghị đoàn công tác về trụ sở làm việc, còn anh và một công an viên ở lại chờ chủ hộ về. Anh đã đến tìm chủ hộ là thương binh để thuyết phục. Bằng kinh nghiệm của anh vừa mềm mỏng lại kiên quyết, anh đã thuyết phục người đồng đội trở về nhà cho đội công tác đến tháo dỡ phần lấn chiếm.
Chiến dịch 135 thắng lợi hơn dự kiến. Hoàng Định trưởng công an thị trấn Nho Quan được uỷ ban nhân dân tỉnh khen thưởng và được đi báo cáo kết quả tại hội nghị tổng kết chiến dịch 135 của ngành công an khu vực phía Bắc.
Thoắt mà đã hơn bốn mươi năm xa quân ngũ, gần hai mươi năm công tác ở địa phương và ngót mười năm là trưởng công an thị trấn.Trọn một đời đủ màu sướng, khổ, buồn, vui. Cả tuổi thanh xuân cho hai cuộc chiến tranh (chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh biên giới). Khi trở về đời thường Hoàng Định vẫn là chiến sỹ bảo vệ an ninh cho quê hương. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào Hoàng Định cũng sống hết lòng, cũng rực lửa, luôn muốn được cống hiến. Hôm nay nhìn quê hương đẹp lên, đổi sắc thay da từng ngày, anh thấy mình tràn đầy hạnh phúc vì anh đã sống những tháng ngày đầy ý nghĩa vì anh mãi mãi là người lính.
Nho Quan xuân Ất Tỵ
(Nguồn: TC VNNB số 302/2/2025)