Thứ năm, 19/02/2026

Men trăng Bồ Bát

Thứ sáu, 30/01/2026

Tác phẩm đạt Giải Ba

Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”

 

Truyện ngắn dự thi của ĐÀO THU HÀ

 

Kể từ lô gốm được gửi sang một đất nước cách xa nửa vòng trái đất, trời mưa dầm dề không dứt. Mưa khiến dáng ông nội ngồi bên thềm cửa như nhòe đi, có lúc tôi giật mình ngỡ như ông đã tan vào mưa, biến mất không để lại một dấu vết. Nếu thế, tôi và bố sẽ phải theo vết mưa trèo lên hết các ngọn đồi bao quanh làng Bạch Liên, chèo thuyền xuôi sông Vạc, sông Bút, vào động Mã Tiên tìm ông. Tôi trôi đi trong ý nghĩ ấy cho đến khi ông gọi tên tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt vừa như tự hào, vừa như xót xa. Lâu rồi, ông thôi nhìn tôi rồi buông một tiếng thở dài. Tiếng thở dài ám ảnh tôi suốt thời thơ ấu, khiến tôi luôn loay hoay với câu hỏi vì tôi giống mẹ hay bởi tôi không phải là một đứa con trai như ông mong muốn.

                                                                                                                                                     Minh hoạ: VŨ XUÂN DƯƠNG

Người làng bảo tôi giống mẹ. Tôi chẳng nhớ rõ khuôn mặt mẹ. Xa lắm, trong tận cùng ký ức, chỉ còn sót lại câu hát ru buồn buồn “Lênh đênh qua cửa Thần Phù. Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” cùng cảm giác những ngón tay lành lạnh như đất sét vuốt lên má tôi. Tôi hỏi bố. Cái nhìn câm lặng của ông xoáy vào tôi những tâm sự chất chứa không thể cất lời, ầng ậc nước và sự xót xa, ân hận. Ông nội tôi lại càng không. Từ khi biết nhớ rõ ràng mọi thứ, tôi chưa từng nghe ông nhắc đến mẹ. Tôi đành nhờ người làng. Người làng vẽ cho tôi bức tranh về mẹ. Đẹp và buồn. Mắt sâu thẳm như giếng đá ong thả gàu vào nghe vang lên tiếng nước trong vắt, mát lạnh. Tóc dài đen nhức lúc nào cũng búi gọn, giấu sau tấm khăn choàng đầu. Da ngăm bánh mật, khỏe mạnh, khéo léo nhất làng. Từng ấy năm làm dâu chẳng ai chê trách được điều gì. Chỉ mỗi cái không đẻ được con trai.

Bởi bức tranh về mẹ như vậy, tôi đã cắt phăng mái tóc dài của mình, tập đi đứng, ăn nói khệnh khạng hệt như một đứa con trai. Năm ấy tôi lên mười. Bố tát một cú nổ đom đóm mắt, máu mũi ồng ộc chảy ướt cằm, tôi đưa cánh tay lên quệt, không rơi một giọt nước mắt. Ông nội lập cập thắp hương rồi lầm rầm khấn vái. Lúc bình thường tôi chẳng nghe được ông khấn gì, chỉ nghe những tiếng líu ríu nối vào nhau như một chuỗi dây xích dài thả từng tiếng trầm đục xuống nền đất bình bịch. Vậy mà lúc bị tát ù tai, tôi lại hiểu rõ. Cũng có thể là vì mất thính giác tạm thời, tôi có thể dịch được những lời khấn của ông nội qua khẩu hình. Ông tạ tội với tổ tiên, tạ tội với ông cụ Tổ. Đến đời ông, gốm Bồ Bát đành đứt đoạn. Một thời quá khứ vàng son chỉ còn là quá vãng chôn vùi trong lớp bụi thời gian, rồi sẽ chẳng còn ai nhớ đến nữa.

Nghe được lời ông khấn, tôi đâm ra mê đất sét trắng. Mê đến mức ngày nào không được đào bới, vân vê, hít hà mùi đất, tôi lăn ra ốm, đờ đẫn như thể hồn vía mình đã bị bắt đi đâu mất. Ông nội đi đi lại lại, buông tiếng thở dài chẳng biết tự trách mình hay đay nghiến bố tôi. Nghiệp chướng! Trong cơn sốt, trong cơn đau, tôi thấy bóng lưng ông còng xuống nhanh chóng, tóc như rụng đi quá nửa. Cả chòm râu trắng như cước, dài chạm ngực cũng thưa thớt dần. Như thể trong một đêm, tất cả các dấu hiệu của tuổi già cùng nhau kéo đến, đánh úp khiến ông không kịp ngăn cản. Chỉ riêng đôi bàn tay ông là không hề biến chuyển. Vẫn những ngón thô, dài, ngăm đen hơi gân guốc. Dân làng Bạch Liên bảo, làng này quý nhất là đôi bàn tay ông. Có cụ già quả quyết, đôi tay ấy giống hệt tay cụ Tổ nghề gốm của làng trong bức vẽ được thờ phụng ở đền trước cái thời cải cách. Cụ nhìn một lần là nhớ mãi. Vì người ta bảo đôi tay khéo léo thường thanh mảnh, thon dài, đây lại cục mịch như thợ đục, thợ đẽo nên không thể quên được. Chỉ tiếc trong thời buổi ấy, bức tranh thờ cụ Tổ đã bị cháy mất, không còn để kiểm chứng. Nhưng cũng chẳng cần thiết lắm. Cứ xem cả trăm năm rồi, bao thế hệ già trẻ nối tiếp nhau, đã ai có đôi bàn tay khéo léo, tạo ra những sản phẩm mà thời huy hoàng người ta tranh nhau để sở hữu như thế chưa là biết. Cũng tiếc, chẳng có cháu đích tôn để truyền lại nên đâm ra bất đắc chí, hơn hai chục năm nay ông ấy cũng chẳng đốt thêm lò nào nữa. Mà đẹp đến mấy, có hồn đến đâu thì đốt lên cũng bán cho ai. Thời buổi này… Các cụ già chép miệng, mắt ầng ậc sương. Tôi chắc chắn nhìn thấy trong những đôi mắt già nua ấy ngọn lửa từ ký ức lò gốm leo lét cháy.

Tôi ngồi cạnh ông, để mặc cho ký ức từ đất bao phủ lấy mình. Ký ức từng có thời chất chồng dài dặc bằng tiếng thở dài của bố. Tôi ngờ rằng kể từ khi không còn mẹ, bố tôi sống được đến giờ là nhờ những tiếng thở dài ứ đầy lồng ngực. Ông nội thắp hương, thành kính nâng cuốn gia phả bọc kín trong mấy lớp giấy cứng rồi chống ẩm mốc bằng vài lớp nilon, run run lật giở từng trang. Trong ánh sáng nhờ nhờ của căn nhà bị gió mưa bao phủ, tôi giật mình khi thấy đôi bàn tay ông vẫn chẳng hề già đi, đối lập hoàn toàn với cái dáng ngồi đầu gối quá tai, lưng còng, tóc bạc. Cả đôi mắt ông nữa, nửa như thấu suốt lẽ đời, nửa như có gì đó dằn vặt, níu kéo khiến con ngươi chất chứa những điều giằng xé không thể nào thoát ra nổi. Ông không cần đeo kính vẫn có thể đọc rõ từng dòng chữ trong gia phả. Trước đây mỗi lần ông đọc, tôi bị cấm bén mảng đến. Nhưng cả ông, cả bố đều không biết, từ hồi bé tí tôi đã lén đọc. Những trang viết bằng chữ Nho, ông cẩn thận dịch ra vì sợ con cháu đời sau không biết giúp tôi hiểu hết.

Kể từ khi sống ở làng Bạch Liên gần cửa Thần Phù, nhánh trưởng của dòng họ Phạm đời nào cũng chỉ độc đinh, sinh được một người con trai duy nhất. Người đó sẽ là người kế nghiệp nghề gốm đã làm rạng danh, mang lại của ăn của để, mang lại danh vọng cho dòng họ. Lý do không thấy ghi trong gia phả nhưng những lời dân làng kể cho nhau nghe, tôi đều nghe được hết. Những chuyện thần bí, thì thào nửa kín nửa hở thì bất kỳ ai ở bất cứ đâu đều thích nghe. Muôn đời vẫn thế.

Cụ Tổ của dòng họ Phạm tôi thuở xưa vốn nghèo khó nhưng lại giàu lòng nhân ái. Làng khi ấy nằm lọt thỏm giữa miền đồi núi u tịch, sương mù phủ trắng vào mỗi tinh sương. Đất đai cằn cỗi, gieo hạt xuống rồi vẫn chỉ mọc lên lơ thơ vài bụi cỏ cháy, dân làng sống nhờ cá tôm từ hai con sông Vạc, sông Bút uốn lượn như dải lụa bạc vòng quanh chân núi rồi chảy về phía của Thần Phù. Các cụ bảo vùng này núi dựng thành vảy rồng, sông uốn như thân rồng, còn những dải đất sét trắng nằm sâu dưới lòng đồi được coi là tủy rồng, tinh chất trời đất kết lại. Người thường đào lên chỉ thấy đất, riêng người có thiên mệnh mới nghe được tiếng thở của thổ thần trong từng nắm bùn. Chỉ là hàng trăm năm rồi, chưa thấy ai được trời trao thiên mệnh. Bởi vậy mà nghèo.

Dẫu bữa ăn thiếu trước hụt sau, Cụ Tổ vẫn giữ nếp sống nghĩa nhân. Ai gặp nạn, ai trong nhà động chuyện lạ, trẻ khóc đêm, nhà cửa bỗng lạnh như phủ sương… là cụ liền chống gậy sang xem giúp. Cụ biết hướng nào tránh gió độc, gò nào có khí lành, cây nào có thần trú ẩn phải cúng vái khi đi qua. Cụ bảo những điều ấy chẳng phải bí ẩn gì, chẳng qua sống lâu, quan sát mọi lẽ ở đời, thuận theo đất trời thì tự nhiên sẽ biết. Người già nào cũng vậy.

Một đêm gió xoáy hun hút từ phía đồi thổi xuống, có kẻ lang thang lạ mặt gục ngay ở đầu làng. Người ấy da dẻ xanh xám, áo quần rách nát, hơi thở khò khè như bị thứ gì đó chặn ngang cổ họng. Dân làng thấy vết lở loét loang lổ trên thân, lại e không biết hắn mang họa hay mang dịch, nên ai nấy đều tránh xa. Nhưng cụ Tổ chẳng nỡ bỏ mặc. Cụ dìu ông ta về cái lều tranh xiêu vẹo của mình, nấu nồi cháo loãng, lấy muôi đổ vào miệng. Cụ sai cụ bà leo núi hái lá thuốc, loại lá chỉ mọc ở triền dốc âm, nơi người xưa bảo là cửa của âm hồn trú ngụ. Cụ mang lá ấy về nấu nước tắm, xoa lên những vết thương, lại tìm bộ áo còn lành nhất của cụ thay cho người gặp nạn.

Mấy tháng trời ròng rã, đến khi hạt gạo cuối cùng trong vò được vét sạch, kỳ lạ thay, người lang thang nọ bỗng dần tỉnh táo, sắc mặt hồng hào trở lại, khỏe mạnh như chưa từng đứng trước cơn đau thập tử nhất sinh. Ông ta nhìn cụ Tổ bằng ánh mắt sâu như giếng cổ, nhưng bên trong là sự thấu tỏ khó giải nghĩa.

Để trả ơn, ông ta không nhận bất cứ thứ gì, mà chỉ lặng lẽ đi quanh làng suốt mấy ngày liền. Có lúc ông ngồi hàng giờ trên đỉnh Gò Vụng, chỗ đất vốn ít người dám bén mảng vì đêm đến thường nghe tiếng tiếng chuyện trò lạ lùng, tiếng múa hát rộn rã, có lúc lại nhìn thấy cả những ánh lửa đỏ nhảy múa.

Đến ngày cuối, ông ta trở về, bảo cụ Tổ rằng:

- Bên sườn Gò Vụng ấy có nơi đất tốt. Trong lòng đất có mạch khí tụ, lại được sông uốn vòng làm minh đường, núi chặn sau làm Huyền Vũ. Khi ông bà trăm tuổi, hãy dặn con cháu táng vào đó. Dòng họ về sau ắt có người phát quan, kẻ phát tài, tên tuổi sáng như sao trời.

Nhưng rồi ông ta hạ giọng, đôi mắt thoáng sắc lạnh:

- Chỉ có điều, nhánh chính của họ phải chịu nghiệp độc đinh. Mỗi đời chỉ được một người nối dõi. Đó là số, không đổi. Nhưng nếu hậu duệ ăn ở hiền lành, giữ phúc đức, không trái đạo trời thì dù độc đinh cũng không lo tuyệt tự, không lo đói nghèo, mà hương hỏa sẽ còn mãi. Có một điều cần phải nhớ, dù vật đổi sao dời, dù càn khôn biến đổi, nhánh chính muôn đời phải bám trụ ở làng Bạch Liên, không được thay đổi. Ở đời cái gì cũng vậy, có được ắt có mất, không thể cưỡng cầu đòi hỏi toàn vẹn.

Nói xong, người ấy rời làng. Lời xưa kể lại rằng suốt quãng đường đi, bóng hắn mờ dần giữa sương núi, như chưa từng có thật. Một vài người già tin rằng ông ta không phải khách lỡ đường, mà là thầy địa lý ẩn danh đắc tội quyền quý mà gặp nạn, hoặc có khi còn là vị thần núi hóa thân, đến để thử lòng người.

Từ ngày người khách lạ rời đi, Gò Vụng bỗng im tiếng gió hú đêm, cây cỏ trên đồi xanh tốt lạ thường. Cụ Tổ tin rằng nơi ấy thực sự trở thành đất tốt, được trời đất, thần linh chứng giám. Năm cụ mất, con cháu làm đúng lời dặn, táng cụ và cụ bà lên Gò Vụng, chọn đúng ngày giờ mà thầy địa lý từng truyền lại. Hôm hạ huyệt, bầu trời đột nhiên hửng sáng, một dải mây đỏ như lửa bay ngang, người già trong làng bảo đó là điềm lành, báo rằng đời sau tất có người làm rạng danh dòng tộc, dạng danh làng Bạch Liên.

Quả nhiên đến đời cháu ba đời của cụ Tổ, họ Phạm có một người con trai tên Phạm Công, sinh ra đã đặc biệt. Lúc chào đời, trời đang dông gió bỗng lặng phắc, nắng như tơ ươm hé dần từ phía Gò Vụng trải dài khắp làng, lửa trong bếp các nhà nấu cơm bỗng reo tí tách, tí tách như chào đón một sinh mạng mới. Thầy xem mệnh bảo rằng đứa bé sinh vào thời đất mở khí, mang mệnh Thổ Vương. Mai sau sẽ khiến đất hiện hình, lại mang tướng “hỏa thổ tương sinh”, sau này sẽ làm việc liên quan đến đất đai, thành lũy, dựng xây cơ nghiệp.

Thủa nhỏ, Công đã khác người. Trong khi đám trẻ cùng trang lứa nghịch ngợm leo núi, lội sông, rủ nhau đánh trận giả hò hét cả ngày thì Công ngồi trước triền đồi im lìm như một pho tượng, ai hỏi gì cũng chỉ cười không nói. Có khi Công đặt tay xuống bùn ướt mà nhắm mắt, miệng lầm rầm như nói chuyện với ai dưới lòng sâu. Công chỉ tiết lộ cho cụ thân sinh rằng mình đang lắng nghe tiếng đất. Lo lắng con mang bệnh ngẩn ngơ, cụ thân sinh của Công lặn lội tìm thầy, tìm thuốc, nhưng uống bao nhiêu thang vẫn không thấy gì biến chuyển. Thấy con còm cõi vì thuốc đắng, cụ bà mới nhắc lại lời của thầy tướng. Cụ ông nửa mừng nửa lo, kín đáo quan sát con. Kỳ lạ thay, những nắm đất Công vo chơi lại tự khô mà không nứt, hình tròn như được bàn tay thần nặn. Đất cũng có linh tính, nhận người mới chịu mềm, chịu khép vào khuôn khổ.

Đúng ngày Công tròn mười ba, trời bỗng nổi cơn giông dữ. Sét đánh trên Gò Vụng, xé toạc một thân cây cổ thụ lộ ra trong lòng đất một mảnh gốm, phát ánh sáng xanh lập lòe. Công sốt cao bảy ngày bảy đêm, thuốc thang, cơm cháo đổ vào bao nhiêu cũng nôn ra hết. Thầy lang lắc đầu bảo có khỏi chắc đầu óc cũng nóng đến hỏng. Đến sớm tinh mơ thứ tám thì Công tỉnh. Công kể cho cha mẹ nghe mình được một cụ già râu tóc bạc phơ, giống hệt ông tiên trong truyện cổ mẹ kể dẫn đi khắp vùng. Ông tiên bảo biết nghe tiếng đất thì phải dạy nó thành hình, dạy lửa thành linh. Ông Tiên vung tay, những lò lửa đỏ rừng rực cháy để hiện ra những bình, những đĩa, những viên lợp nhà lấp lánh như vảy rồng, sáng lên như được dát bởi mặt trăng non.

Công thử nung gốm theo linh cảm lạ lùng đó. Ông chọn đất từ nơi mạch khí chảy qua, phơi đúng ngày có gió nam, hòa với nước múc từ đoạn sông được xem là minh đường tụ thủy. Khi nung, ông dùng thứ củi gỗ mà dân làng vẫn gọi là huyết mộc, loại cây mọc ở triền dốc âm, thân có vân đỏ như máu rồng.

Lò gốm đầu tiên của ông cháy rực suốt ba ngày ba đêm. Lửa sôi tí tách khiến hơi nóng bao phủ cả vùng, nước sông bốc hơi tạo thành lớp sương mỏng lơ lửng bay là là trên đỉnh lò. Cả làng đứng quanh, cầu khấn thổ thần đừng nổi giận. Đến lúc mở lò, tất cả sững sờ. Mẻ gốm sáng như phủ men, màu ngà nhưng trong, gõ vào nghe tiếng thanh như chuông đồng. Họ bảo rằng chưa từng thấy thứ gốm nào lạ đến vậy, cầm lên mà cảm giác như đất thở theo nhịp tay người.

Từ mẻ gốm ấy, nghề gốm Bồ Bát ra đời và nổi tiếng khắp Ái Châu nhờ đất sét trắng hiếm có và kỹ thuật nung gốm hỏa biến kỳ diệu. Dòng họ Phạm trở thành dòng họ lớn nhất vùng, được trọng vọng. Các dòng họ khác cũng được truyền dạy nghề làm gốm. Đời sống của mọi người ngày một khấm khá, có của ăn, của để. Nhưng chỉ riêng nhánh chính họ Phạm mới nắm được bí quyết pháp thổ. Hiểu ngày, hiểu hướng, biết giờ nào đất mềm, giờ nào thổ khí mạnh, phải kính đất trước khi chạm vào. Chỉ có đứa con trai độc đinh của nhánh chính họ Phạm mới sở hữu đôi bàn tay tuyệt diệu làm cho đất biết ngân, lửa biết nghe lời để làm ra những sản phẩm tinh tế, diệu kỳ và có giá trị nhất.

Khi đức Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi, ban quốc hiệu Đại Cồ Việt, triều đình bắt đầu dựng kinh đô Hoa Lư mới. Các sứ giả đi các vùng tuyển người tài. Danh của làng gốm Bồ Bát vốn đã nổi, lại nghe chuyện Phạm Công biết nghe đất, biết chọn nơi nào đất đầm bền, đâu là khí tốt để đặt móng thành, vua Đinh liền cho người rước ông vào kinh.

Vào triều, Phạm Công xem thế núi sông Hoa Lư, hai dãy núi như sừng rồng ôm lấy thung lũng, phía trước có sông Hoàng Long uốn lượn tạo minh đường rộng rãi, đúng là đất đế vương. Nhà vua phong ông chức quan phụ trách việc đúc gạch, xây thành, đào hào và dựng cung điện.

Gạch Bồ Bát nhờ tay ông mà trở thành vật liệu chính của kinh đô Hoa Lư. Dân gian kể rằng khi ông đo đất chọn móng thành, đất đột nhiên rung nhẹ, chim sáo, chim sẻ từ bụi tre bay thẳng lên như báo điềm lành, vua Đinh mừng lắm, khen ban thưởng cho ông hậu hĩnh. Họ Phạm cũng theo đó mà được hưởng nhiều bổng lộc. Nhà cửa khang trang, kho thóc chất đầy. Ai cũng nói người họ Phạm nhờ có đức độ cụ Tổ phù trì, làm gì cũng thuận.

Gia phả ghi lại, một năm nọ, khi Hoa Lư vừa dựng xong vòng thành thứ ba, trong cung bỗng xảy ra chuyện quái lạ. Cứ vào lúc nửa đêm, tiếng trống từ khắp bốn phương tám hướng dội vọng về, vang như dội từ núi, trầm như vọng từ đất, ngân như ụp đến từ sông. Ba hồi dài, hai hồi ngắn, như hiệu lệnh quân đi đánh trận, lại giống như lời thúc giục huyền bí chưa ai giải đáp được. Nhưng vua cho quân lính đi tra khắp thành và các vùng lân cận vẫn không truy tìm được. Lạ thay, tiếng trống ấy chỉ vang lên vào đêm mùng 7 và 17 hằng tháng.

Đến tháng thứ ba, tiếng trống vọng lên kèm theo tiếng ngựa hí ngoài cổng thành, dù không có một bóng người nào, vua bắt đầu nghi, liền triệu Phạm Công vào cung, nhờ ông nghe đất tìm hiểu. Khi Phạm Công đến, ông đứng giữa sân rồng lặng nhìn bầu trời. Đột nhiên, ông quỳ xuống tâu:

- Muôn tâu bệ hạ, phía Bắc thành đang bị xung phá. Có vật gì đó bị chôn trái hướng, đang gọi quân hồn trở về.

Vua nổi da gà, truyền mở cửa Bắc thành lên kiểm tra. Quân đào được một trống đồng cổ, nứt một đường dài và chôn lộn hướng với thế núi Hoàng Long. Thầy trong triều bảo rằng trống đồng là vật dẫn khí trời, bị vùi trái thế thì thúc âm binh, gọi hồn chiến tử xưa về. Vua Đinh ra lệnh mang trống ra khỏi thành, táng lại đúng hướng theo lời Phạm Công. Từ đó, tiếng trống ma dứt hẳn. Nhà vua càng trọng Công như bậc kỳ nhân.

Nhưng chưa dứt chuyện trống ma, một biến cố nữa lại xảy ra. Mấy tháng trời làm hạn, đất đai nứt nẻ, khát cháy. Động rừng, muông thú quấy phá. Vua làm lễ tế Sơn Thần. Trong buổi lễ, ngọn đèn lớn giữa đàn tế bỗng phụt tắt dù trời không gió. Ngay lúc đó, tấm vải đỏ phủ lên lễ vật tự nhiên rách đôi. Mọi người hoảng hốt, lo sợ. Vua Đinh lại triệu Phạm Công đến. Ông đi quanh đàn tế, sờ tay lên từng tảng đá lát sân, rồi khẽ thở dài:

- Bệ hạ, đây không phải điềm dữ cho triều đình, mà là điềm báo có kẻ muốn mượn oai Sơn Thần mà làm việc trái đạo. Trong cung có người giấu vật phạm kỵ.

Quân vào lục soát, quả nhiên trong một bệ đá có chôn một tượng gốm đen, hình dáng quái dị, mặt không mắt, miệng ngoác dài. Thầy xem tượng bảo rằng đó là hình nhân yểm ngục, dùng để trấn khí người khác, thứ tà thuật từ thời loạn 12 sứ quân còn sót lại. Vua Đinh tức giận, cho điều tra và tìm được thủ phạm là một quan nhỏ vốn bất mãn, muốn cầu danh bằng đường tà. Kẻ đó bị trị tội. Từ hôm tượng bị hủy, mưa thuận gió hòa, mọi việc trôi chảy, các dị tượng không còn xuất hiện. Phạm Công lại được ban thưởng lớn. Tên tuổi họ Phạm càng vang xa, nhưng cũng từ đó ông biết rằng dòng họ mình đã bước vào vòng xoáy của thiên mệnh, được ban phúc, nhưng cũng phải luôn nhớ có thịnh tất có suy, phải luôn giữ đức để phúc được bền, chớ vì tham lam mà tự tay cắt đứt vận khí.

Đến năm 1010, khi vua Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, triều đình lại triệu những nghệ nhân giỏi nhất từ Bồ Bát theo về kinh mới. Họ Phạm lúc này đã có nhiều người thông thạo nghề gốm, lại tinh tường địa thế. Một nhánh trong họ theo lệnh vua, ra ven sông Hồng tìm đất dựng lò. Mạch đất sét ở đó phì nhiêu, nằm đúng mạch thủy tụ, thổ vượng, rất hợp nghề. Nhánh ấy định cư hẳn tại vùng mới và về sau trở thành một trong những gia tộc khai sáng nên làng gốm sứ Bát Tràng vang danh thiên hạ.

Từ Gò Vụng nghèo nàn heo hút thuở trước, đến lúc góp công dựng nên cả hai kinh đô Hoa Lư và Thăng Long, dòng họ Phạm từ đó bước sang trang mới, giàu có, danh vọng, mà người đời vẫn truyền nhau rằng tất cả bắt đầu từ lòng nhân ái của cụ Tổ và lời dặn của vị khách lạ năm xưa.

Tôi ôm cuốn gia phả, ngủ quên trong gậm phản. Trong giấc mơ, tôi gặp ông tiên ngày nào đã dạy cụ Phạm Công làm gốm. Ông tiên hiền từ cho tôi một viên kẹo, thơm như hương hoa, ngọt như mật ong và thanh khiết như sương sớm rồi mỉm cười hiền hậu. Nhưng khi tôi ngước nhìn kỹ, đôi mắt ông sáng như ngọn lửa bên trong lò nung xoáy vào mắt tôi. Tôi bừng tỉnh, mùi kẹo như hương hoa vẫn còn vương nơi đầu lưỡi, nhưng bàn tay thì nóng rát như ai đổ lửa vào từng đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên lớp da mỏng, tựa hình rễ cây đang cháy. Mỗi lần đứng trước ông nội, tôi giấu hai bàn tay mình sau lưng. Cho đến một hôm ngủ quên, ông tìm thấy tôi ôm cuốn gia phả, đôi mắt long lên giận dữ. Chiếc roi trên tay vung xuống bỗng khựng lại giữa chừng khi ông thấy đôi tay tôi. Mặt ông thoáng đỏ bừng rồi sững sờ, hoảng hốt. Đợt ấy, ông giam mình trong căn buồng nhỏ lâu đến mức tôi cứ ngỡ ông có ý định không bao giờ bước ra khỏi đó nữa. Sau đó, ông thường nhìn xuống đôi bàn tay tôi rồi quay đi, gương mặt phẳng lặng không thể hiện rõ vui hay buồn. Người làng bảo tôi giống mẹ, chỉ có duy nhất đôi bàn tay là giống bố và ông nội, đôi bàn tay số phận đã định sẵn không ai trốn được. Tên mu bàn tay bố có một vết sẹo dài, da dúm lại, gồ lên như chân rết. Khi lớn lên, tôi biết, vết sẹo ấy đau trên da thịt bố và khoét mất trái tim ông nội.

Những con chữ khắc sâu lên tấm gia phả nâu sẫm, cay nồng mùi thời gian giúp tôi biết về cái chết của mẹ, vết sẹo trên tay bố. Từ buổi cụ Phạm Công lấy đất thiêng tạo nên gốm Bồ Bát đã được nghe lời căn dặn:

 - Đất ghi nhớ dấu tay, lửa nhen từ hơi ấm bàn tay. Ai nặn được gốm thì được đất thương, nhưng cũng phải trả giá bằng máu thịt của chính mình.

Đến khi cụ qua đời, người trong họ kể rằng đôi bàn tay của cụ khô nứt như đất gặp hạn, từng đường gân như sắp hóa thành mạch đất chạy ngầm dưới cánh đồng Bồ Bát. Dòng họ Phạm tạo nên danh tiếng bằng nghề gốm, nhưng chưa đời nào mà người được truyền lại lại sống trọn vẹn với gia đình. Hoặc vợ chết, hoặc ly tán, hoặc thân tàn vì lửa nung. Làng bảo phải hiến một phần đời mình cho lửa thì mới trọn vẹn.

Nghề gốm lụi dần. Những chiếc lò từng đỏ lửa nằm im lìm mặc thời gian hoang phế. Gốm từ nước ngoài vào, đa dạng mẫu mã, giá thành lại rẻ, chơi chán thì vứt đi không tiếc. Có nung cũng chẳng bán được cho ai. Ông nội không cam lòng. Ông muốn vực dậy nghề cổ của dòng họ, của làng Bạch Liên. Ngày đêm không ngủ, của nả ông dồn vào hết các lò gốm, hòng tạo ra một món gây tiếng vang, vực lại nghề. Bà nội cam chịu, nhẫn nhịn hết những đói no, vinh nhục, nuốt hết những cay đắng ông trút xuống vì bất đắc chí. Nhẫn nhịn hết nên thành ung nhọt, bà gục xuống sân nhà vào một trưa mùa hè nắng như thiêu đốt, xung canh là gốm vỡ ông đập sau một mẻ lò không ưng ý. Bố mồ côi từ đấy.

Mẹ đau chín ngày chín đêm mới sinh ra tôi. Lúc bà mụ báo con gái, ông nội quay ngoắt vào nhà, tu một hơi hết cạn be rượu. Ranh giới sinh tử khiến mẹ không thể có thêm đứa con nào nữa. Mà nghề thì chỉ truyền cho con trai. Đất là âm, lửa là dương, thổ hỏa phối nhau chỉ đi vào tay đàn ông mới đủ mệnh tiếp nhận. Ông nội vì hương hỏa tổ tiên, vì giữ mạch gốm, ép bố phải lấy vợ khác.

Mẹ ôm ấp tôi, hát ru tôi đủ một trăm ngày, kịp cho tôi nhớ lời mẹ hát, kịp cho tôi cảm nhận chút hơi ấm mẫu tử mà gắng gượng trên cõi đời dằng dặc. Đàn bà xứ này chẳng mấy ai hạnh phúc. Chắc từ thời những người vợ, người mẹ tiễn chồng, tiễn con ở cửa bể Thần Phù rồi trở về vò võ một mình trông bóng chim tăm cá, đàn bà ở đây đã ngấm nỗi buồn ấy mà sống, mà đau, đời đời kiếp kiếp. Những tiếng hờ con, khóc chồng trong những đêm khuya vắng thấm vào đất, hóa thành thứ đất sét bạc trắng nỗi đau. Một đêm trăng, mẹ đi ra sông Vạc. Nước sông tháng Chạp lạnh như lưỡi dao bằng thép. Sớm hôm sau người ta tìm thấy chiếc khăn mẹ hay trùm đầu che mái tóc dài trôi lập lờ dưới bãi bồi. Bố hóa điên, chạy dọc bờ sông gào đến rách cổ họng. Ông nội đứng nhìn, mặt trắng bệch như đất sét chưa nung. Từ hôm ấy, bố hận ông nội. Hận đến mức nhìn vào gốm mắt tóe lửa. Hận đến mức chỉ nghe tiếng nhóm lửa lò đã như muốn phát điên, phát dại. Hận đến mức tự cầm dao chém xuống chính bàn tay mình. Cả dòng họ tái mặt. Con dao bổ xuống da thịt bố, nghe một tiếng khô khốc như tiếng gốm vỡ. Máu rơi loang trên nền đất, đỏ bầm như tiết gà. Bố gầm lên, mặt đầm đìa nước mắt:

- Tôi thề đời này không nặn gốm! Từ nay, lửa gốm không còn đốt đời tôi nữa.

Trong nhà chỉ còn lại toàn những tiếng thở dài như gió. Hai con người chung dòng máu sống chung một mái nhà mà như cách cả một vực sâu hun hút. Tôi thành chiếc gạch nối hai bờ vực. Thứ gạch nối mờ nhạt nhưng không cách nào lờ đi được.

Lò gốm cuối cùng của làng tắt ngúm, cỏ dại mọc lấn nốt những tàn tro còn sót lại. Sau lần ngủ quên bị ông bắt gặp, lời thề của bố, vết sẹo của bố, nỗi hận của bố… như trở thành một phần chảy trong dòng máu trong tôi. Ngọn lửa dưới da tôi thì ngày một nóng hơn, âm ỉ truyền qua bao đời nay đang tìm lối trỗi dậy.

Đêm ấy, trăng non mảnh như lưỡi liềm treo nghiêng trên sông Vạc. Tôi mang theo cái cuốc nhỏ, chiếc đèn dầu nhằm hướng đồi đi tới. Hơi đất thấm qua tay tôi lạnh lẽo nhưng ngọn lửa âm ỉ trong mạch máu như bùng lên. Đôi bàn tay rần rật lửa của tôi một ngày nhổ hết cỏ dại, cào tro bụi đến tóe máu, đặt những chiếc đĩa, bình, chóe đầu tiên của mình vào. Bố nhìn thấy mắt đổ quạch. Lúc ấy bố không còn là bố nữa. Con dao vung lên. Ông định chém xuống tay tôi như đã từng tự chém tay mình để thôi làm gốm. Ông nội dang tay chắn trước mặt tôi. Bố quay ngoắt vào trong nhà, ngồi nhìn ảnh mẹ đăm đăm. Lửa trong lò lại reo tí tách. Lửa vụt bốc cao như đã chờ đợi từ lâu. Tôi không dám rời mắt khỏi ngọn lửa. Ông nội giam mình trong phòng. Bố tôi ôm ảnh mẹ gục đầu bên thềm cửa, chẳng biết nghĩ gì.

Đêm cuối, trời bỗng kéo mây đen. Sấm dội thẳng xuống lò như tiếng trống giục. Tôi nhìn lửa không chớp mắt. Lửa đổi từ đỏ sang xanh, rồi sang trắng. Tôi sợ lửa tắt. Nếu có thể, tôi muốn nhét cả bàn tay mình vào lò, để lửa từ trong mạch máu mình tràn ra, giữ lửa trong lò cháy đỏ. Đất trong lò kêu tí tách, như những tiếng thở đau đớn đang tách mình khỏi quá khứ. Lò vẫn âm ỉ, suốt đêm.

Khi mở lò, tôi bật khóc.

Trong lò, mẻ gốm mới không chỉ thành hình, mà còn tự hiện những hoa văn xoắn lạ, những đường xoáy như dòng sông, như mạch đất, như lửa nhảy múa. Đôi đặt chiếc bình nhỏ lên bàn thờ bà nội, bàn thờ mẹ. Tàn tro trong mắt ông nội bị thiêu cháy sạch sẽ, không còn sót dù chỉ là chút gợn. Tôi lao vào học. Tôi muốn gốm Bồ Bát sống dậy nhưng không làm tổn thương bất cứ ai. Tôi muốn để gốm tự cất lên tiếng nói của mình, không phải chỉ ở trong ngôi làng này, vùng này mà ở xa hơn và cao hơn nữa. Lời truyền đời về nghề chỉ dành cho nam đinh dẫn đến cái chết của mẹ tôi, tôi sẽ tự mình phá bỏ.

Ngày mẻ gốm đầu tiên xuất khẩu, ông nội ngồi dậy. Sau mấy chục năm, ông lại chạm vào chiếc bàn xoay cũ đã phủ bụi. Đôi bàn tay của ông nội đặt lên đất như đặt lên một sinh linh nhỏ bé vừa chào đời. Thoáng chút run rẩy rồi lập tức trở nên thành thục, đôi bàn tay ông như bắt đầu như nhảy múa. Ông xoay bàn xoay thật chậm, thật êm. Bàn tay ông đi theo những vòng tròn ấy như đang vuốt ve một ký ức đã ngủ quên mấy chục năm. Đất ấm lên, mềm ra, rồi dần đứng thẳng thành một dáng hình mong manh. Mỗi lần ông ấn xuống, miết lên, tôi cứ ngỡ ông ngừng thở, chỉ còn trái tim phập phồng sau làn áo mỏng. Mồ hôi rịn ra từ chân tóc, chảy dọc xuống thái dương. Tôi nhìn thấy trên từng đường gân tay ông những vết nứt thời gian, nhưng cũng nhìn thấy trong chuyển động của chúng một thứ ánh sáng kiên định, mạnh mẽ. Khi hình hài chiếc bình hiện ra, mắt tôi cay xè. Đất dưới tay ông sống dậy với tất cả vẻ đẹp nguyên sơ nhất của nó, không cần đao to búa lớn, không cần ồn ào. Một giọt nước mắt trên má ông nội rơi xuống đất. Hơi đất bốc lên như khói hương. Không biết bố nghĩ gì, chậm chạp đứng dậy, tự tay đặt chiếc bình của ông vào lò, nổi lửa.

Lửa đỏ và ấm. Có những điều không cần nói lời tha thứ, lửa soi thấu tỏ. Đời gốm, không trải qua biến đổi, nhào nặn, không nung trong lửa, sao có thể thành hình. Đời người nhiều đau đớn. Cứ giữ khư khư mãi, tự mình hành hạ mình. Sống với đất mà gần cuối đời mới học được cách khiêm nhường, bao dung như đất. Hành trình sống lại của gốm Bồ Bát thực sự bắt đầu từ chiếc bình cuối cùng của ông nội. Dòng máu nối ba thế hệ dưới mái nhà u buồn của tôi cũng sống dậy, từng chút một.

Tôi làm mẻ thứ hai, mẻ thứ ba rồi đến hàng chục mẻ khác. Mỗi chiếc bình, đĩa, ấm, tách, tượng bước ra khỏi lò đều mang theo hơi thở khác nhau, như thể đất đang kể lại những câu chuyện mà nó đã ghi nhớ suốt bao nghìn năm. Có chiếc men ngả màu trời chiều bên bờ sông Vạc, sông Bút. Có chiếc mang dáng dấp của những vệt trăng non lửng lơ trên Gò Vụng. Có tượng người đàn bà với đôi mắt buồn nhưng dáng lưng vẫn thẳng tắp, sóng biển sau lưng lặng lẽ cúi đầu, hát ru lời an ủi. Có ấm trà nhỏ xíu mà đặt lên tay lại nghe thấy tiếng lá trà kể chuyện gió mưa, nhân sinh nóng lạnh.

Rồi khách du lịch kéo đến. Họ nghe chuyện về làng Bồ Bát cổ, về những người thợ từng nung gạch xây kinh đô Hoa Lư, về những truyền thuyết bí ẩn, chập chờn giữa đôi bờ hư thực. Các đoàn khảo cổ tìm đến, đào lên những mảnh gốm có hoa văn từ thời Đại Cồ Việt. Thanh niên trong làng, vốn định bỏ quê lên thành phố, bắt đầu quay lại, xin học nghề. Ngọn lửa trong lò đã lâu không sáng, giờ bập bùng suốt đêm. Khuôn mặt các cụ già vốn hằn đầy năm tháng u sầu bỗng giãn ra, mắt ướt mà miệng tươi vệt nước trầu thắm đỏ.

Lô gốm cập bến thành công. Mưa tạnh hẳn. Trăng bị mây che nhưng ánh sáng mỏng như tờ lụa vẫn phủ lên làng Bạch Liên vẻ đẹp mộng mơ, huyền ảo. Ông nội ngồi bên thềm, nghe gió sông thổi mang theo mùi đất ẩm sau mưa thì thầm kể chuyện ngàn năm đất giữ sâu trong lòng. Không nói gì, nhưng tôi biết ông đã thấy điều mình chờ cả đời được dựng lại.

Sáng hôm sau, ông không thức dậy nữa. Ông nằm yên như thể đã chọn đúng lúc để rời đi. Bố tôi không khóc. Tôi cũng không. Đôi tay tôi nâng niu từng nắm đất đắp lên mộ ông. Chúng tôi tiễn ông bằng sự sự lặng im của thứ đất hiền đã ngậm đủ nước lành trong mát. Đất đón nhận ông nội theo cách của riêng mình. Tôi biết, những ngày sau này, mỗi lần chạm tay vào đất, tôi sẽ chạm vào đời gốm để hiểu về con đường mà thế hệ chúng tôi phải tiếp tục…

 

Đ.T.H

(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)

Bài viết khác