Tác phẩm đạt Giải Khuyến khích
Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”
Truyện ngắn dự thi của BÙI VIỆT PHƯƠNG
Năm ấy… đã rất lâu sau chiến tranh.
Anh Thuần mang cái ba lô cũ của cha ra giặt rồi phơi trên hàng rào. Màu xanh non nớt khởi đầu từ vườn rồi thẫm dần vào rừng. Màu lam từ ruộng lúa lên đồi dâu. Khi chiều xuống, sương từ đỉnh núi tràn về, tôi đứng ngẩn ra cho đến lúc anh Thuần xoa đầu tôi cười: “Ngốc thế, vải thì ắt bạc chứ rừng xanh nào sờn…”.
Anh trai tôi thường nói những câu hay như thơ. Sáng hôm sau, anh Thuần khoác ba lô đi thật. Anh đi mà không ai cản, không người tiễn. Bố mẹ tôi lo miếng ăn đến mức lạnh lùng cả với những bồng bột của con cái. Quá tam ba bận không đoạt được tờ giấy gọi vào trường Đại học Nông Lâm Bắc Thái, thì anh vẫn quyết đi vào rừng tìm trong sâu thẳm xanh cao bản ngã của mình.

Minh hoạ: BÙI LIÊM
Ngày xưa, có lần anh em tôi từng bị lạc trong rừng. Hôm ấy là một ngày nắng lên sau cả tuần mưa. Sau chiến tranh chưa có cưa máy và nhu cầu về gỗ nhiều như sau này nên người vẫn tựa vào rừng để sống như một lẽ dĩ nhiên. Cha tôi đi rừng không phải để săn bắt thú hay đốn gỗ. Người ta thấy lạ, người đâu chỉ mang theo cây gậy trúc, túi vải đeo chéo lưng và nắm cơm, quả bầu đựng nước, đến cả rìu dựa cũng không có. Vào đêm trước khi đi vào rừng, ông thường mang một bộ lịch được làm bằng tre ra để xem ngày. Tôi chẳng hiểu sao trên những thanh tre được vạch khắc ấy lại chứa đựng điều thần bí về cơ duyên của từng ngày. Ông xem khá kĩ, có lần còn mở cả cuốn sách chữ Nôm cất trong chiếc hộp sơn son ra xem rồi bấm đốt ngón tay lẩm nhẩm tính đoán điều đó cho tới khi trăng tà mới đi nằm.
Cứ chiều đến, khi mặt trời khuất sau mỏm con chồn, thể nào cũng nghe thấy tiếng vện sủa ầm lên. Nó được cha tôi nhặt về từ bãi rác. Năm đó đói kém đến mức chuột đồng còn bị săn vãn nhưng con vện đã sống được bởi sự bị ghẻ lở khắp toàn thân khiến ai cũng ghê tởm. Mấy tháng sau dưới bàn tay cha tôi nó đã béo tốt đến mức không ai nhận ra nhưng chính sự ghẻ lạnh của người đời đã để lại cho nó vết thương lở loét trong lòng là tiếng sủa nhấm nhẳng. Tôi nhận ra điều đó trong thói quen cắn đồ vặt và sự yêu ghét sắc lạnh của một con chó cỏ. Bằng sự cảnh giác của một sinh vật bé nhỏ nó phải đợi khi cha tôi hiện ra rõ mồn một mới lao từ hiên nhà ra, phóng thẳng về phía người chủ như một mũi tên và dùng hàm răng cắn chặt vào mũi giày. Đó là sự xác tín một lòng trung thành với người ân nhân. Cha tôi khi ấy sẽ ôm nó lên, vuốt ve lớp lông chẳng mấy mượt mà của nó mà cưng nựng. Con vện hàng ngày đem đến một niềm may mắn như thế.
Nhưng chiều ấy, vện đã ngồi buồn thiu nhìn mặt trời khuất dần sau mỏm con chồn. Cái mõm đá đen sì dưới ánh chiều muộn càng khiến hai anh em sốt ruột. Anh Thuần đeo con dao đực dài bên hông, tay kia cầm theo túi thuốc lỉnh kỉnh và huýt sáo gọi vện theo nhưng nó cứ ngồi trơ như hóa đá.
Đi được một quãng bất giác anh mới nhận ra tôi đã đi theo anh từ lúc nào. Giờ không thể đưa tôi về được nữa. Tôi luôn miệng hỏi anh: “Rừng rậm thế biết tìm cha ở đâu?”. Anh không trả lời cho đến khi thực sự tối hẳn hai anh em mới nhớ ra quên mang theo đèn hay bật lửa. Sự non nớt của những đứa trẻ luôn phải trả giá bằng một sự hoảng sợ. Anh em tôi đã bị hút vào con đường rừng như bị thôi miên, đoạn ngã ba được anh Thuần đánh dấu bằng vết chém vào cây lại hiện lên thêm một lần nữa. Cứ thế, chúng tôi mải miết đi trong sự hoảng loạn tâm trí cho đến khi trăng lên, ánh trăng len lỏi qua kẽ lá và bàn tay sờ phải mười ba vết chém tương tự. Vậy là chúng tôi đã đi vòng mười ba lần qua lối rẽ mà chưa ra khỏi nơi này. Thật đáng sợ, đã sang trái, sang phải, đi ngược đi xuôi đến mụ mị đầu óc. Lúc đó chỉ mong sống sót đến khi trời sáng và mong trời không mưa…
Anh Thuần ôm tôi vào lòng, tay đập muỗi, mắt nhìn chằm chằm vào rừng đêm. Tự dưng anh hỏi tôi:
- Khuyên có biết cha hay vào rừng làm gì không?
Câu hỏi này thật sự khó cả với những người lớn. Tôi từng nghe người làng kháo nhau chả rõ cha tôi đi rừng làm gì? Nhà tôi không có nghề làm thuốc Nam. Người ta cũng biết ông đâu phải dân “ăn rừng” vì nếu thế thì đã mang về chim, thú lâm sản. Vậy những chuyến đi ấy rốt cuộc vì cái gì? Nhưng tôi biết, mọi thứ chỉ nằm trong cái túi áo nhỏ mà một lần chạy đến ôm cổ cha, thơm vào cái má đầy râu cứng queo của ông và bàn tay với thói quen lục quà trong túi tôi đã chạm phải…
*
Vào những năm kháng chiến chống Mỹ, đơn vị của cha tôi từng đóng ở một khu huấn luyện trước khi đưa tân binh vào chiến trường. Đêm ấy, cha tôi trằn trọc không ngủ được. Gần sáng, ông thấy như có làn hương đánh thức. Phút chốc khắp thân thể lan tỏa một mùi hương đến từng mạch máu. Toàn thân tê dại không có chút phản ứng nào như thể những lần bị bóng đè khi ở quê. Nhưng rồi bất chợt ông thấy mình đã ngồi dậy, đang xỏ dép, chạy ra cửa thật nhanh như đang đuổi theo một người nào đó. Ngoài sân trời còn tối, những hạt sương đêm được ướp trong hơi thở tinh khôi của rừng già phả vào mặt ông cái lạnh. Ông cố gắng nhích từng bước chân nặng nề mãi mới đến được cửa rừng. Rừng đêm bỗng mở tung cánh cửa, gió ào ạt đến ngạt thở. Đúng vào lúc đang thực sự lo sợ như bị rơi vào khoảng không vô định ấy cha tôi nhìn thấy một bông hoa lan rừng lấp lánh như ánh sáng lóe lên cứu rỗi. Chàng lính trẻ thực sự bị mê hoặc bởi sắc màu tinh khiết đó. Trong kí ức của một cậu bé chăn trâu, những nụ hoa dại của rừng chính là ánh sáng thuần khiết nhất luôn đón đợi từ khi đôi chân nhỏ đi tìm trâu rồi òa khóc khi lạc rừng. Những nụ hoa đó như nụ cười của mẹ mà cậu luôn ước ao và tưởng tượng suốt năm tháng tuổi thơ. Mong một lần mẹ sẽ cười với mình, được mẹ ôm vào lòng và đặt nụ hôn ấm áp lên mái tóc vàng hoe và hôi khét vì nắng.
Cha tôi tỉnh giấc khi tiếng còi báo động vang lên. Đơn vị tập hợp, nghe phổ biến gấp gáp rồi nhận lệnh hành quân. Đoàn tân binh lặng lẽ đi trong tiết trời se lạnh. Đi mãi, đi mãi bỗng tất cả những người lính đều dừng lại khi phía trước hiện ra một cánh rừng già. Người chỉ huy vừa đốc thúc vừa nhắc: “Đã đến Cúc Phương rồi đó”. Vẻ thâm nghiêm trầm mặc của cánh rừng khiến cha tôi có linh cảm rất lạ. Trong đôi mắt của chàng sinh viên năm thứ hai Khoa Trồng trọt, thế giới chỉ có sự sinh sôi và tích tụ. Anh từng thẫn thờ nhìn một thân cây gục ngã còn ứa nhựa hay đọt chuối non dập nát nằm trên mặt đất sau trận bom. Khi đoàn quân đi qua gần hết cánh rừng, tự nhiên có một cơn gió thổi đến từ phía sau khiến cổ áo lay động. Theo linh tính cha tôi nhìn lại thấy một màu trắng lấp lánh ẩn hiện phía tầng lá cao, rất cao như một ngôi sao nhỏ. Mắt người lính trẻ nhòe đi, không thể tin vào mắt mình nữa. Lúc này cũng đâu thể nản lại, tất cả kí ức về bông hoa lan độc đáo của rừng chỉ vọn vẹn có thế…
Bàn tay tôi lần sờ cái túi áo nhỏ nơi ông thường hái những trái dâu rừng chín thẫm. Nhưng, lần này cái túi lép kẹp, thứ mà tôi chạm phải là một thứ gì mềm và khô. Khi tôi vừa đưa lên xem thì đó là một cánh hoa. Cha tôi nghiêm khắc giằng lại từ tay tôi, cảm giác hẫng hụt và tủi thân khiến tôi òa khóc.
Anh Thuần xoa đầu tôi rồi đứng dậy. Anh lấy từ trong túi ra hai hòn đá nhỏ. Hai anh em hì học đánh lửa. Cuối cùng ánh sáng cũng lóe lên, lửa bắt vào đám vỏ cây khô được tước nhỏ đến bật móng tay. Lửa soi sáng một khoảng vừa đủ xua đi nỗi sợ hãi của hai đứa trẻ. Để cẩn thận, chúng tôi đã xếp những hòn đá xung quanh đề phòng lửa lan ra. Lần đầu tiên chúng tôi nhóm lửa từ trò chơi trong sân nhà bấy lâu nay.
Anh Thuần vừa đút tay vào túi quần vừa đi quanh đốm lửa. Không hiểu anh có tìm thấy thứ gì ăn được không chứ tôi thì cảm thấy bụng sôi réo như nước lũ còn môi thì khô rát. Đoạn, anh ngồi thụp xuống, với tay lấy một cành củi đang cháy soi lên mặt đất, khuôn mặt lộ rõ sự kinh ngạc: “Gì thế anh?” - tôi hỏi nhưng trong lòng đã có sẵn sự lo sợ đó là vết chân thú. Anh Thuần nhón ít đất lên xem rồi bỗng reo lên: “Cha chỉ ở quanh đây thôi”.
Nhận định ấy khiến tôi thở phào nhẹ nhõm. Cho đến mãi sau này tôi vẫn không hiểu vì sao hai anh em cứ loanh quanh lạc mãi ở cái ngã rẽ đó và làm sao cha tìm được hai anh em tôi. Tôi tin đó là nhờ thứ ánh sáng diệu kì của loài lan hồ điệp. Suốt bấy nhiêu năm, cha đã lặn lội kiếm tìm, vừa muốn tìm thấy loài lan quý đó vừa muốn cất giấu sự bí mật này để những gì thuộc về sự nguyên sơ, bản nguyên sẽ được tồn tại vĩnh hằng.
Rất khó để tả khuôn mặt cha tôi lúc đó. Ông chỉ nói một câu nhưng cả đời tôi phải day dứt: “Rừng là ngôi nhà lớn”. Hình như từ sau dạo đó anh Thuần cũng không còn xa lạ với nơi này nữa. Hai người đàn ông như được bước vào ngôi nhà kì vĩ ấy…
**
Khoảng một năm trước, lũ ở thượng nguồn đổ về khiến các dòng suối trở nên hung hãn như con trăn khổng lồ. Nước ngoạm vào bờ khiến cây cầu treo gẫy gục, làng bản chỉ còn nhấp nhô trong nước. Hai ngày liền cha mẹ tôi như ngồi trên đống lửa vì anh tôi chưa trở về. Giữa tình cảnh này ở yên một chỗ còn an toàn hơn là không may bị lũ cuốn.
Ba ngày trôi qua, nước rút, anh mang theo khuôn mặt thẫn thờ như người mất hồn. Mẹ sai tôi đi bẻ cành dâu, làm đủ thứ để “gọi vía” nhưng cái mặt anh cả tháng trời vẫn vô hồn như vậy. Mẹ lo quá, gắt gỏng:
- Thế con còn muốn gì?
Anh Thuất gắt lại:
- Con muốn nhà mình không ở trên núi, không nghèo thế này, muốn có xe có nhà xây. Mẹ có không?
Mẹ tôi thật sự bị sốc… Điều đáng sợ hơn bị ma rừng bắt vía là “con chê cha mẹ khó…”. Mẹ ném hết tất cả những bọc, bị cất trong hòm, tủ ra sân. Mẹ bảo cha tôi có hũ, chum ngâm cất thứ gì quý bán hết đi cho nó. Cơn thịnh nộ này tôi chưa từng thấy. Có lẽ bà đã không thể chịu đựng được cảm giác vừa bất lực vừa hổ thẹn của một người mẹ. Nhưng ngược lại, cha tôi không nặng lời mà làm như thế không có sự tồn tại của anh trên đời.
Cho đến một hôm cha tôi đi từ dưới thị trấn về và dúi vào tay anh Thuần chiếc áo sơ mi rồi nói một câu cộc lốc: “Xuống ngó nốt lần này đi, mai nó đi lấy chồng”. Anh Thuần còn lưỡng lự thì cha gắt: “Mày định mặc cái áo đi rừng xuống đấy người ta tưởng đi ăn xin à?”. Anh khoác vội chiếc áo rồi chạy đi. Tôi hớt hải chạy theo và cố để anh không phát hiện ra. Đến thị trấn, tôi hoàn toàn bị choáng ngợp trước xe cộ, biển hiệu và tiếng người nhưng vẫn cố bám theo. Tôi thấy anh mình lẩn vào đám đông đang xem rước dâu. Cô dâu bước lên chiếc xe Lada màu trắng trong sự trầm trồ của những người đứng xung quanh. Nhưng lạ nhất là có một bà để răng đen nhè miếng trầu vào cái cống bên vệ đường rồi vừa quệt mép vừa lẩm bẩm: “Bã cả thôi, con này ngủ với thằng khác rồi…”.
Tôi thấy lúc xe bấm còi xin đường để lách ra, anh Thuần cố gắng chen lên. Cô dâu thì đã nhìn anh và như chết lặng. Xe lách qua đám đông rồi băng băng về cuối thị trấn, anh Thuần cứ chạy theo mãi, chạy đến khi ôm ngực ho sặc sụa và gục xuống chỉ còn thấy lớp bụi vàng mịt mù phía trước.
Anh Thuần bắt đầu thay đổi. Anh lao vào học ngày, học đêm. Mẹ tôi rất mừng, bà đang mơ tưởng đến ngày anh đỗ đại học rồi đi làm gần nhà. Nhưng ba mùa thi trôi qua vẫn chỉ là tờ giấy báo điểm lẹt đẹt những điểm liệt. Đầu óc anh Thuần rỗng không, đôi chân thẫn thờ đi từ đồi này sang thung khác. Áo rách không buồn vá, quần sứt cạp không thèm ngó xuống. Cha tôi bảo làm bất kì điều gì bằng sự hận thù đều thất bại.
**
Tôi không chạy theo anh Thuần vì biết chính anh cũng chẳng biết mình đi đâu. Cha mẹ tôi thì nghĩ dăm bữa nửa tháng anh sẽ về. Độ một tuần sau cả nhà nhận được lá thư anh viết gửi về là đang ở Tam Điệp. Anh muốn xin đôi hoa tai của mẹ để bán lấy tiền xin việc. Mẹ tôi cầm lòng bán vàng đi. Tháng sau anh bảo đã xin được vào làm cho một nhà bán vàng lại cần xin tiền đi học thêm nghề kim hoàn, cha tôi đem bán thêm chiếc bình quý từ đời các cụ để lại. Vậy là đã hết những thứ quý giá trong nhà.
Hết lớp 9, tôi thi đỗ vào trường phổ thông nội trú vừa mới thành lập của tỉnh. Tôi ít có dịp về thăm nhà, càng ít lên rừng. Cha mẹ tôi ngày ngày tần tảo với cây thuốc trong vườn, ngô sắn trên đồi. Được đồng nào lại gói ghém gửi cho con. Điều mà cả nhà lo lắng nhất là anh Thuần chẳng có lần nào về thăm nhà. Tết bảo bận vì việc này, ra Giêng việc kia. Có lẽ kẻ thất tình như con thú bị thương cần một liều thuốc thời gian để chữa lành.
Một ngày, tôi nhận được tờ điện báo về nhà gấp, cha tôi ốm nặng. Khi tôi về đến nhà đã thấy cha tôi nằm trên giường gầy như que củi, mắt trũng sâu, miệng thều thào lảm nhảm nghe không ai hiểu. Mẹ tôi vừa cố bón cháo loãng cho chồng vừa dấm dứt khóc. Ngoài trời mưa cũng đang tầm tã trên mái lá nghèo, tôi ăn tạm hai khúc sắn rồi khoác mảng nilon đạp xe đi tìm anh Thuần. Nhưng biết tìm anh ở đâu. Tôi tìm đến tiệm vàng nhưng dưới tấm biển đã rách là cánh cửa mà ổ khóa đã hoen. Hỏi thăm thì người ta bảo: “Ba năm nay tiệm đóng cửa rồi”. Vậy thì anh tôi đi đâu?
Tôi thẫn thờ lang thang khắp thị xã trong mưa dầm rồi cũng phải quay về. Thế rồi những ngày mưa cũng hết, nắng lên, trăng lên sáng vằng vặc như cào vào gan ruột. Cha tôi thở khò khè, chẳng biết trụ được đến bao giờ. Mấy hôm trước, tôi đã được một ông lang nổi tiếng mời chào bài thuốc có giá đắt nhưng có thể phục sức cho cha được. Chỉ có thể đánh cược một phen, khi còn có thể sao phải khoanh tay chịu chết. Tôi rút con dao đực trên vách đi thẳng vào rừng cùng cái đèn ló trên đầu, bật lửa và cuộn dây trong túi. Cha tôi mở mắt ú ớ gọi với theo điều gì tôi không còn nghe rõ nữa.
Thực ra, tôi đâu có biết nó ở đâu? Loài phong lan trắng muốt đầy ma mị ấy liệu có thực hay chỉ là ảo giác. Nhưng, bất kể đúng là nó hay chỉ là một loài hao hao giống tôi cũng sẽ coi đó là một món hàng để trao đổi. Dù chỉ nắm được một phần nghìn cơ hội sao tôi vẫn hăm hở bước lên đất khô lạnh và những hòn đá dăm sắc nhọn. Con đường hôm nay vào rừng còn là sự lựa chọn cuối cùng, là cái kết cho một câu chuyện kì bí đã từng gắn với tuổi thơ tôi.
Khi tôi đang bước qua gốc dâu da đã thấy một con dao cắm trên thân cây. Rút con dao ra, ngắm nghía rồi tôi dùng ngón tay móc ở cán dao một tờ giấy nhỏ. Tôi không lạ gì chiêu trò của gã có nốt ruồi ở cằm. Từng nét chữ sắc như dao găm găm vào đầu tôi nhiệm vụ bất khả kháng là lấy được thứ hoa quý giá đó để mang sang bên kia biên giới. Khi mình lấy được thì giá cả sẽ ra sao, tính mạng thế nào. Tôi đủ thông minh nhưng tình thế này cũng đủ buộc bản thân phải liều lĩnh. Có kiến thức về sinh học nên tôi hiểu chỉ một cành phong lan nếu được nhân giống trong phòng thí nghiệm sẽ cho ra giống hoa quý với giá thành cao đến thế nào trong giới kinh doanh.
Lạ thật, giữa lúc đầu óc mông lung tôi lại tìm ra một lối đi chưa từng có dấu chân người. Những màng nhện dày dễ đến cả trăm năm đứt phựt như dây cung khi người tôi lọt qua. Kìa, bên một thân cây cao lớn đứng sừng sững như thể cây cột chống thẳng lên ngàn xanh là một thân cây già đang chết khô. Ở nơi thân già là một khúc uốn như tấm lưng của người cha già. Ít phút sau tôi nhận ra có thể hạt mầm của cái cây đang chết dần kia đã rớt xuống sinh thành ra cây con vạm vỡ này. Ở nơi tấm lưng gù của cây già, mùn đã tụ lại như một chiếc tổ ở đó. Một loài cây cao quý gửi đang ngự ở đó. Sau chiếc lá xanh sắc như mũi kiếm, một bông hoa trắng muốt và sáng như ngọc hiện ra. Tôi càng đến gần, bông hoa càng sáng hơn cho đến khi nhìn rõ đôi mắt hiện ra giữa cánh hoa. Cảm giác hưng phấn khiến đầu óc tôi u mê như người đang ngấm một thứ men say nào đó.
Đúng lúc ấy, phía sau lưng tôi là tiếng móng sắt của chân ngựa gõ lên những hòn đá. Con ngựa kéo chiếc xe nặng nhọc thở phì phò gợi cảm giác ớn lạnh dọc sống lưng. Không phải vì những khuôn mặt lạnh lùng kia mà chính tôi cảm thấy bản thân mình đã tự bán rẻ bản thân cho lũ quỷ khiến tôi cảm giác ghê lạnh chính con người mình.
Tiếng chân của gã có nốt ruồi đang mỗi lúc một gần. Chỉ cần bước qua tôi, gã sẽ đến được thân cây đang chết dần và leo lên để giành lấy loài hoa quý giá như phẩm tiết của tự nhiên. Tôi là kẻ dẫn đường, dẫn lối, là hòn đá đầu tiên để gã đạp chân lên lấy điểm tựa cho bước nhảy hoàn tất của kẻ săn mồi.
Bất giác lúc ấy tôi lại nhìn thân cây đang chết dần kia và nghĩ. Không biết nó đã che chở cho đứa con mình từ mấy trăm năm trước. Nó đã hứng chịu đủ nắng rồi mưa, hanh khô rồi ẩm ướt suốt bốn mùa để rồi nhường lại cho con một tầm vóc cao cả hơn. Chẳng có gì thay đổi, thời gian vốn dĩ vô hình mà chỉ có sự sống là vơi dần vơi dần. Điều đáng sợ chính là những gì thương yêu nhất sẽ vĩnh viễn mất đi khiến con người ta hoảng sợ mà đánh đổi tất cả để lấy sự sống. Loài tê giác lẩn quất sâu trong rừng đã bị bắt và cưa sừng để rồi phải nằm chết gục thê thảm. Con tê tê vô hại bị lấy vảy, khỉ bị nấu cao, bao tử chưa được sinh thành của nhiều loài bị ngâm trong bình rượu… Thử hỏi sự sinh tồn ấy có đáng gì khi phải tàn sát muôn loài để đánh đổi. Tôi chợt thấy thân cây kia giống như cha tôi và bên cạnh đó là anh Thuần cao lớn. Cha tôi đang trọng bệnh nhưng nếu mất đi loài hoa lan mà ông đã âm thầm dành cả đời ông tâm huyết giữ gìn thì sự sống ấy phỏng có ích gì?
Tôi phải làm gì đây hỡi một cô gái bé nhỏ giữa núi rừng, dù tôi có hét lên cũng không ai nghe thấy? Những tên đồ đệ đi theo bước qua tôi mang theo mùi hôi hám, chúng không quên bẹo mã, nhìn vào mặt tôi bằng ánh mắt ghê tởm. Nhưng, đúng lúc tên đồ đệ trèo lên nấc thang cuối cùng và chạm vào những bông hoa thì tiếng chó sủa. Con vện, nó từ đâu lao đến cắn thẳng vào gót chân gã đầu xỏ có nốt ruồi. Tiếng thét kinh hãi của gã khiến cả đám sực tỉnh lao đến đuổi đánh. Con vện ban đầu tinh quái luồn lách tránh những cú đòn trí mạng. Nó ẩn nấp quanh bốn chân con ngựa nhưng không ngờ ở thời điểm có thể bỏ chạy bị chính cú đá hậu khiến nó bay vào thân cây, đầu tóe máu và chỉ kịp co giật trước khi tắc thở...
Bất chợt con ngựa kéo xe lồng lên hoảng sợ, nó hình như đã nghe thấy tiếng chân người chạy vội vã. Một tấm lưới lớn của công an đã giăng sẵn chờ những kẻ buôn lậu tinh ranh mắc bẫy. Chúng đâu có nghi ngờ một con bé như tôi lại là mồi nhử, chúng đâu biết cả tôi cũng nào có hay loài hoa ấy đâu có thật trên đời…
***
Anh Thuần trở về khiến cho cha tôi bình phục chứ không phải một loại thần dược nào. Sau này tôi cha kể rằng tất cả câu chuyện về loài hoa lan chỉ là một giấc mơ nhưng ông muốn anh em tôi yêu rừng hơn bằng niềm tin đó. Tôi ngẫm ra, có những lời nói dối làm con người ta tốt lên, niềm tin đôi khi được đặt vào ước mơ còn tốt hơn là sự mưu cầu thực dụng. Những năm qua, anh Thuần đã học xong đại học bằng một cách rất cực nhọc là vừa làm thuê vừa dành dụm tiền để theo nghiệp đèn sách. Chính vì thế anh có vẻ chín chắn và điềm đạm hơn. Đi làm, anh lăn lộn với các loài giống cây cho đến ngày được tuyển vào làm người của vườn quốc gia. Chừng ấy năm anh vẫn lủi thủi một mình đến tận ngày tôi về nhà chồng dưới thị xã. Anh nhét vào tay tôi chỉ vàng và bảo: “Xem làm được gì thì làm, tiền nhân giống cây đấy, sạch!”. Tôi ứa nước mắt, đúng là người trồng cây cực nhọc hơn người chặt cây...
Một ngày đầu đông, anh gõ cửa nhà tôi, quần áo lấm lem bùn đất dắt chiếc xe win 100 vào. Vợ chồng tôi thịt gà làm cơm và cố giữ anh lại ở chơi vài hôm nhưng anh bảo: “Bận lắm, ghé qua thôi mai lại ngược”. Chồng tôi không úp mở gì nữa, hỏi thẳng: “Bác cứ vội vã thế sao người ta mở lòng được”. Tôi đang ôm con gái ngủ trong lòng thì tò mò mà chưa hiểu gì. Anh Thuần nâng chén rượu uống cạn rồi mặt đỏ bừng rồi lại lủi thủi ra về.
Sau này tôi nghe chồng kể mới biết mỗi lần về qua thị xã anh đều lượn qua nhà “người ấy” để ngó trộm cô con gái nhưng không dám bước vào. Chị ấy giờ đã li hôn, là mẹ đơn thân. Cả hai người đều e ngại, không ai dám mở lời. Một lần về thăm cha. Cha tôi vừa dứt cơn ho đã thều thào dặn anh Thuần:
- Anh hay về đây thì hướng dẫn nó ươm cây, vừa là sinh kế vừa là việc thiện. Cứ lượn lờ tốn xăng. Đàn ông gì mà nhát như thỏ đế.
Anh Thuần im lặng nhưng rồi cuối tuần vẫn thấy cái xe của anh cũng thồ đủ các loại bầu cây xuống thị xã. Có lẽ vẫn cần cái cơ duyên của rừng để gõ cửa, cần màu xanh mở lời để hai người có được khu vườn ươm hạnh phúc. Hóa ra ngày đó người báo cho anh về khi cha tôi đang lâm bệnh là chị. Chị học y nhưng không theo nghề. Cuối cùng dù muộn màng thì cánh rừng vô hình như người mẹ vẫn phủ bóng yêu thương lên chúng tôi.
Tôi đưa con gái đến vườn nhà chị chơi, anh Thuần đang giúp chị chuyển bầu cây giống lên xe. Con gái tôi hỏi: “Mẹ ơi, sao người ta cần nhiều cây thế mẹ?”. Tôi vuốt mái tóc con, những lọn tóc xanh như chính tuổi thiếu niên của mình:
- Để vườn xanh, đồi xanh, trái đất xanh con ạ!
Thấy con bé vẫn chưa hiểu, tôi bảo tiếp:
- Nếu cả trái đất này mang màu xanh của rừng sẽ không còn nắng gắt, chiến tranh nữa, người với người yêu thương nhau hơn con ạ. Mẹ và bác đều lớn lên bởi rừng xanh ấy…
Con bé có vẻ hiểu ra, cứ thế níu tay đòi ba mẹ cuối tháng cho về thăm ông ngoại. Nó bảo: “Ông cũng chính là một khu rừng”…/
Phương Lâm, 7/11/2025
(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)