Nhà văn SƯƠNG NGUYỆT MINH
Truyện ngắn, truyện ký và bút ký là các thể loại văn xuôi có đặc trưng tương đối ngắn, đặc biệt là ký thì tính thời sự nóng hổi, xung kích, linh hoạt và ứng biến đáp ứng kịp thời nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống hiện đại. Có lẽ vì thế mà Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình rất nhanh nhạy chọn thể loại truyện ngắn, truyện ký và bút ký để tổ chức Cuộc thi mang chủ đề “Trang viết và cuộc sống”. Trang viết và cuộc sống là sự gắn bó, quan hệ giữa văn nghệ và nhân sinh. Tư duy, tầm nhìn và quan niệm, thông điệp người sáng tác về hiện thực xã hội được gửi gắm qua trang viết nhằm hướng tới lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ. Cuộc thi văn xuôi với chủ đề “Trang viết và cuộc sống” của Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình còn nhấn mạnh đến tiêu chí “viết về miền đất và con người Ninh Bình trong công cuộc xây dựng và phát triển” nên các tác phẩm dự thi còn mang không khí, hồn vía, và đặc sắc Ninh Bình.
Thật đáng mừng! Một cuộc thi của một tạp chí địa phương nhưng đã thu hút được nhiều bản thảo của nhiều tác giả ở các miền đất nước, từ Ninh Bình, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Lào Cai... đến Thanh Hóa, Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau...vv. Trong số ấy, có nhiều tác giả không phải người Ninh Bình nhưng viết về các miền đất và người Ninh Bình; đặc biệt là người Ninh Bình lập nghiệp ở vùng quê mới của đất nước cũng trở thành nhân vật trong tác phẩm dự thi.
Trong bề dày của cuộc thi “Trang viết và cuộc sống”, truyện ký và bút ký văn học nổi lên một số tác phẩm rất đáng chú ý như: Người giữ lửa nghề gốm Bồ Bát của Nguyễn Quỳnh Anh, Giấy chứng nhận kết hôn của Nguyễn Thanh Duyên, Căn nhà và khu vườn họ Lâm của Mai Văn Bé Em, Văn Lâm hoài cổ, Tìm trong cổ tích của Đinh Ngọc Lâm, Trên mảnh đất đời người của Ngọc Tấn, Bảo tàng Nguyễn Tử Lan mạch nguồn lịch sử chảy cùng thời gian của Phạm Thúy Nga, Chuyện làng của Vũ Thành...
Văn Lâm hoài cổ và Tìm trong cổ tích là hai bút ký đặc sắc của nhà văn Đinh Ngọc Lâm. Thiên nhiên sơn thanh thủy tú, di chỉ văn hóa, văn hiến, chiều sâu hồn làng, hồn người hiện lên vừa lộng lẫy vừa dung dị, đằm sâu dưới ngòi bút giàu trải nhiệm, và tầm nhìn xa rộng, bao quát của Đinh Ngọc Lâm. Nhưng cái đằm sâu tri thức và cảm xúc da diết nhất lại là ký ức tuổi thơ, là tiếng vọng tiền nhân. Thực ra là những ánh xạ hào quang văn hóa, lịch sử, di sản xưa cũ rực rỡ, là hoài niệm về những vẻ đẹp trầm tích có nguy cơ biến mất, cần được trân trọng nâng niu, bảo vệ giữ gìn. Có tiếng than thở, hoài vọng pha chút tự hào kiêu bạc, nhưng âm hưởng chủ đạo của Văn Lâm hoài cổ và Tìm trong cổ tích vẫn là tiếng vọng thì thầm từ xa vắng và nỗi phấp phỏng âu lo về sự mai một những giá trị kết tinh từ đất và người Ninh Bình. Lao động nhà văn và ý thức công dân, tiếng vọng hồn làng cất lên như những hồi chuông cảnh báo có thể mất mát nghiêm trọng khi thay đổi và thức tỉnh lương tri bảo tồn.
Giấy đăng ký kết hôn của Nguyễn Thanh Duyên là một truyện ký cảm động, đầy ắp tình người. Cô hộ lý lấy anh thương binh do tình thương đến trước tình yêu đến sau. Sống với nhau vượt qua bao nhiêu khó khăn gian truân, có bốn mặt con, và con đã trưởng thành, anh đã khỏe mạnh, tỉnh táo và chị tóc đã điểm bạc nhưng vẫn chưa có giấy kết hôn. Không có giấy kết hôn chỉ vì anh chị được Trung tâm điều dưỡng thương binh tâm thần vun vén mà lặng thầm thành vợ chồng chứ anh là thương binh tâm thần thì không được tổ chức cưới và dĩ nhiên càng không được cấp giấy giá thú. Bây giờ, về già trọn nghĩa tình rồi, có thể cái giấy chứng nhận kết hôn không cần thiết nữa, nhưng trong lòng bà vẫn muốn khao khát tờ giấy chính danh ấy. Cái gì cũng có thể xảy ra trong chiến tranh và hậu chiến, con người bị xô đẩy vào tình thế đầy số phận, nhưng tình thương lớn đã cứu rỗi, hóa giải tất cả mọi thử thách, bi kịch.
Nghệ nhân trẻ Phạm Văn Vang đã trở thành nhân vật văn học trong bút ký Người giữ lửa nghề gốm Bồ Bát của Nguyễn Quỳnh Anh. Công phu, cần mẫn và say mê dù khó khăn vẫn không bỏ cuộc, quyết phục hồi nghề gốm địa phương đã bị thất truyền và trở thành một doanh nghiệp thành công, tiếng tăm vang xa. Văn của Nguyễn Quỳnh Anh hoạt, kỹ đến từng câu chữ, khả năng quan sát rất tinh tế.
Ngọc Tấn cũng viết về nhân vật Ninh Bình, nhưng là nhân vật xa quê trong bút ký Trên mảnh đất đời người. Một người là Bí thư đảng ủy Nông trường Đồng Giao, một người chỉ là thanh niên ở một xã thuần nông huyện Yên Khánh, người trước người sau vào miền đất đỏ bazan Tây Nguyên trong các hoàn cảnh khác nhau, nhưng họ có chung một phẩm chất: ý chí mãnh liệt, trưởng thành từ nghèo khó, gian khổ và trung thành với con đường đã chọn. Họ phấn đấu, phát triển và lần lượt thay nhau làm giám đốc Công ty cao su Chư Prông, góp phần mang ấm no, hạnh phúc, và ánh sáng văn hóa cho cả một vùng đất mới. “Cây lắng tiếng trở mùa hay tiếng trở mùa từ đất”, nhưng người Ninh Bình xa quê đến vùng đất mới đã lắng nghe tiếng cây cao su trở mùa trong tiếng thì thầm mời gọi của đất đỏ bazan.
Chuyện làng của Vũ Thành giàu tình cảm. Những hình ảnh xưa cũ, lam lũ, nghèo khó làm người đọc rưng rưng. Tác giả kể, tả nhiều chuyện độc đáo trong bút ký như: Một Việt kiều ở Pháp lòng thành gửi hàng về quê nhà vừa giúp đỡ kinh tế, vừa là báo tin mừng vinh dự của mình được món quà là chiếc xe đạp Thống Nhất của Chính phủ Việt Nam tặng; như chàng công tử Hà thành về quê người yêu vùng chiêm trũng không sao dắt nổi xe đạp bị bùn đất nhét chặt cứng trong chắn bùn, nhờ người đẩy xe ra đường cái, chòi hết đất khỏi xe, rồi quay về Hà Nội, không bao giờ trở lại vùng chiêm lầy lội ấy nữa. Nghèo khó nhưng làng giàu văn hóa, dân làng có thói quen tập trung nghe kể Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử,... Văn hóa làng, tình làng, hồn vía làng chảy theo con chữ của Vũ Thành hiện lên trên từng trang giấy.
Bảo tàng Nguyễn Tử Lan mạch nguồn lịch sử chảy cùng thời gian của Phạm Thúy Nga nhiều tư liệu quý, biện luận, khẳng định giá trị con người trong mối tương quan lịch sử, và như là lời nhắc nhủ thế hệ sau trân trọng di sản cha ông.
***
Truyện ngắn ở Việt Nam đã định hình và phát triển, có người cho rằng cái nền và đỉnh cao truyện ngắn so với khu vực, chúng ta không thua kém bất cứ nền văn học nào ở Đông Nam Á. Trong thời kinh tế thị trường, các phương tiện nghe nhìn tràn ngập, internet phát triển như vũ bão, có rất nhiều loại hình giải trí mới đã lấy đi nhiều bạn đọc văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng. Tuy vậy, truyện ngắn không hề lép vế, ở góc độ tần suất trên trang giấy, truyện ngắn vẫn dào dạt trình làng. Bằng chứng là hầu như báo nào cũng có trang văn nghệ, trong đó có truyện ngắn, các báo, tạp chí chuyên ngành văn học thì duy trì trang truyện ngắn như một cách giữ chân bạn đọc, còn tổ chức các cuộc thi là cách làm mới truyện ngắn. Có lẽ Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình cũng không ngoài sự chuyển động, phát triển của truyện ngắn, và lợi ích từ thể loại truyện ngắn.
Rất nhiều tác giải truyện ngắn dự thi “Trang viết và cuộc sống” cũng là minh chứng sinh động của địa vị truyện ngắn trong đời sống và văn học. Vị thế của truyện ngắn trong cuộc thi này thể hiện ở tính đa dạng về vấn đề phản ánh và sáng tạo: Lịch sử, chiến tranh, nông thôn nông dân, tình yêu, số phận con người... Đằng sau mỗi ý tưởng là cái nhìn và cách cắt nghĩa hiện thực, nghiền ngẫm về hiện thực chứ không chỉ kể và tả. Bạn đọc có thể nhận ra các điều trên không khó trong các truyện ngắn khá chững chạc như: Vết xăm hình con rết của Bùi Thị Hồng, Men trăng Bồ Bát và Rễ đá Mã Yên của Đào Thu Hà, Cuồng mê của Nguyễn Văn Học, Thuyền nan của Trần Mai Lan, Ngậm ngùi chờ đợi của Đoàn Hữu Nam, Niềm rừng của Bùi Việt Phương, Triền sông gió lặng và Đông đã qua chưa của Vũ Nguyệt Khánh Phượng, Người bốc mả của Trần Thị Hải Quỳ, Giấc mộng cơ đồ của Nguyễn Anh Tuấn, Căn nhà và khu vườn họ Lâm của Mai Văn Bé Em...vv.
Tác giải trẻ Nguyễn Anh Tuấn trở lại lịch sử bằng truyện ngắn Giấc mộng cơ đồ. Hình ảnh Đinh Bộ Lĩnh trượng phu, đại nghĩa. Nguyễn Bặc cơ mưu, đại nghiệp. Nguyễn Đông thì tham vọng đeo đuổi “Giấc mộng cơ đồ” bằng sự cố chấp, đi theo đường đầy bóng tối. Người đẹp Đỗ Nương trong sáng cả đời chỉ mong làm một người vợ sống bình yên mà không muốn làm hoàng hậu trong bão giông và bóng tối, nàng dám hi sinh tính mạng để ngăn bước người chồng lầm đường lạc lối. Đằng sau mối liên hệ sinh mệnh của bộ bốn quyền lực là... đại nghiệp và tình yêu. Tình yêu thật lạ kỳ, trong mối so sánh với đại nghiệp thì người dựng được cơ đồ, người thất bại, nhưng tình yêu cứ mãi trường tồn. Người chết thì tình yêu đi theo xuống mồ, người sống dù có đủ đầy cung vàng điện ngọc nhưng vẫn cứ hoang vắng, khắc khoải vì tình yêu. Giấc mộng cơ đồ mang thông điệp ý tưởng mạnh, cấu trúc truyện chặt chẽ, dựng truyện khéo và hợp lý.
Người bốc mả của Trần Thị Hải Quỳ rất xúc động. Nhân vật Vạn đại diện cho cái khổ, nhưng là người tốt, tốt đến lý tưởng. Nhân vật có cuộc đời không may mắn, có số phận bất hạnh nhưng tấm lòng trong sáng như tấm gương soi.
Đông đã qua chưa của Vũ Nguyệt Khánh Phượng như tiếng chuông rung lên cảnh báo vấn nạn tuổi thơ bị bạo hành, tuổi thơ bị chấn thương, co mình dúm dó trong thế giới riêng khép kín. Cô giáo như một nhân chứng, trước thì xa lạ sau thì đồng hành với diễn biến tâm trạng, với những sang chấn tâm lý của học trò. Câu chuyện có vẻ dở dang, không có hồi kết, chính là tiếng thở dài bất lực khiến cho không khí truyện ngột ngạt, và cũng là dư âm thao thức trong lòng người đọc.
Vũ Nguyệt Khánh Phượng còn có truyện ngắn Trên sông lặng gió với thông điệp: “... cuộc đời những người đàn bà chúng ta giống như đất, dẫu xới tung vẫn phải nẩy mầm sự sống”. Những người đàn bà bất hạnh, bế tắc cuộc sống chọn cách nhẩy cầu để trốn chạy cuộc đời và được người sông nước cứu sống, và cưu mang cả đứa con trai mười tuổi có nguy cơ bất hạnh như mẹ. Tình yêu thương đồng loại của người đàn bà đánh cá lầm lũi trên sóng nước với con thuyền nhỏ nhoi cứu dỗi và thức tỉnh khoảnh khoắc u mê, tuyệt vọng và đưa các số phận người cùng đường trở lại cuộc sống đời thường. Hóa ra, xung quanh vẫn còn nhiều người tốt, để cuộc đời đáng sống cùng họ. Vũ Nguyệt Khánh Phượng biết tạo tình huống truyện hay, văn da diết tình cảm. Cái kết có hậu ấm áp khiến thiên truyện bớt bi lụy.
Đằng sau: Bộ lịch làm bằng tre xem ngày tháng; Ánh sáng của bông lan hồ điệp; Hai hòn đá đánh lửa; Cành dâu gọi vía..., đặc biệt là những chuyến đi rừng bí ẩn và cái túi lép kẹp của người cha là...Niềm rừng của Bùi Việt Phương. Niềm rừng, hồn rừng chính là cái cần gìn giữ nâng niu, và cũng là thông điệp thế hệ trước mong muốn thế hệ sau yêu thương rừng, không bỏ rừng. Nhưng mỗi thời của họ sống có tư duy và ứng xử với rừng khác nhau. Trong truyện ngắn Niềm rừng, người con gái lấy chồng dưới thị xã, người con trai cũng trôi dạt về xuôi; rồi người con trai cũng trở về, ươm mầm xanh như một cái kết có hậu.
Ngậm ngùi chờ đợi của Đoàn Hữu Nam viết về sự cám dỗ của tình dục, con người không kiểm soát được bản năng khiến gia đình tan nát, vợ đi tù, chồng như thái giám ê chề, giật dờ sống như chết. Cây đào biểu tượng của sự hồi sinh héo úa. Ân hận, sám hối muộn mằn không cứu vãn được hạnh phúc cũng là bài học cảnh tỉnh. Văn Đoàn Hữu Nam nhiều chi tiết, nhiều ẩn dụ so sánh, không khí miền núi đặc đậm, văn biến hóa, linh hoạt.
Rễ đá Mã Yên của Đào Thu Hà như một cuộc chạy trốn những đau đớn, mất mát khủng khiếp trong chiến tranh. Chạy trốn khỏi không gian địa lý nhưng không chạy trốn được nỗi đau giày vò và những ám ảnh. Chỉ có cội nguồn quê hương và tình thương yêu mới neo giữ được con người khỏi bất định, hoang mang để mà đứng vững.
Đào Thu Hà còn truyện ngắn Men trăng Bồ Bát với thế giới huyền ảo, huyền thoại về gốm. Tinh hoa đất và người gửi gắm hết vào gốm, nhưng để thành gốm có hồn có linh thì cần sự dấn thân, hy sinh cần thiết. Dâng hiến một phần đời cho gốm hoặc đời nay qua đời khác cho gốm là sự hy sinh vô bờ bến, cũng là thử thách không giới hạn, chỉ đến khi đời sau nữa “bước qua lời nguyền” mới phục sinh hồn gốm đã thất truyền. Văn Đào Thu Hà thấm đẫm chất huyền ảo, sâu sắc và nhiều ẩn dụ.
Còn nhiều truyện ngắn khác rất đáng chú ý trong cuộc thi “Trang viết và cuộc sống” của Tạp chí Văn Nghệ Ninh Bình như: Thuyền nan của Trần Mai Lan du lặp lại mô típ truyện cũ, nhưng viết có văn, chữ có hồn và tác giả tỏ ra biết dựng truyện. Cuồng mê của Nguyễn Văn Học giàu chi tiết, viết có nghề. Căn nhà và khu vườn họ Lâm của Mai Văn Bé Em rất bí ẩn, giấu kĩ, chỉ đến cuối truyện mới hé mở căn nhà và khu vườn cất giấu tội ác, hậu quả là cái chết của ông chủ và gia đình tan hoang như một cảnh báo nghiệp quả...vv.
Nếu phải nói về hạn chế chất lượng cuộc thi thì khiếm khuyết lớn nhất của nhiều tác phẩm ký là khi quá chú ý đề tài thời sự dẫn đến tình trạng chạy theo sự kiện, nên thiếu hình ảnh, chi tiết, cũng không ít tác phẩm sơ lược và nặng về thông tấn. Cái thiếu của truyện ngắn trong cuộc thi này là tác phẩm đột sáng, đột phá, mới mẻ và khác biệt. Những hạn chế, khiếm khuyết ấy cũng là điều bình thường đã từng xảy ra đối với mỗi cuộc thi và cả nền văn học hiện nay.
Có thể nói: Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống” của Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình vẫn có một cái nền khá vững chắc, cái nền vững chắc ấy lại mang cái riêng, cái đặc sắc của đất và người Ninh Bình. Mỗi tác giả một vẻ, mỗi tác phẩm một cái nhìn, một quan niệm, một cách lý giải, cắt nghĩa hiện thực..., làm nên sự phong phú, đa dạng, sinh động và thành công của cuộc thi. Đó cũng là những gì còn lại có ích cho đời, chắc sẽ đi cùng thời gian, và cũng là tiếng vọng ngân vang lan rộng trong đời sống xã hội, nâng đỡ, giục giã, khuyến khích con người sống tốt hơn, đẹp hơn.
S.N.M
(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)