Ký dự thi của ĐINH NGỌC LÂM
Con người khi sinh ra cứ ngỡ trời tròn đất vuông. Từ thuở vua Hùng Vương thứ sáu tìm người kế vị đã truyền cho tất cả các hoàng tử tìm lễ vật dâng lên tổ tiên. Hoàng tử Lang Liêu đã chọn loại gạo nếp ngon làm thành hai loại bánh. Bánh hình vuông với ý nghĩa tượng trưng cho Đất, nhân bên trong là đậu xanh và thịt lợn, bánh có hương vị thơm ngon ví như tinh hoa của Đất ban tặng cho con người gọi là bánh chưng; bánh hình tròn có màu bột nếp trắng ngần tượng trưng bầu trời úp lên trái đất để bảo vệ cho sự sống muôn loài gọi là bánh dày.
Vua cha rất hài lòng nhận thấy Lang Liêu vừa thông minh tháo vát, vừa có hiếu, không những hiếu với tổ tông mà còn hiếu với đất trời. Hiếu với thiên nhiên, đất trời là đại hiếu. Vua Hùng Vương thứ sáu đã truyền ngôi cho Hoàng tử Lang Liêu. Ôn lại sự tích bánh chưng bánh dày từ thời khai sinh giống nòi, đủ thấy ông cha ta khí chất thông minh, cần cù sáng tạo, đã để lại cho chúng ta những giá trị vật chất, tinh thần vô cùng thiêng liêng tới tận bây giờ.
Ở nước ta, bất cứ vùng đất nào cũng đều có xuất xứ lịch sử. Nhiều giai thoại lịch sử dệt nên những câu chuyện cổ tích về nguồn gốc hình thành địa danh, mối quan hệ giữa cảnh vật với con người mang sức sống mãnh liệt, toát lên hào khí dựng nước và giữ nước. Cùng với niềm khát vọng hòa bình của một dân tộc mang dòng máu con Lạc cháu Hồng. Tôi được sinh ra và lớn lên ở miền đất Cố đô Hoa Lư có bề dày lịch sử - vùng di sản văn hóa thiên nhiên thế giới Tràng An. Tự hào với truyền thống của ông cha“Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” (Huy Cận), làm sao không để tâm kiếm tìm và khám phá những vỉa tầng trầm tích lịch sử văn hóa quê nhà. Trong mạch kiếm tìm ấy đã không ít lần tôi bắt gặp những câu chuyện truyền miệng trong dân gian. Hấp dẫn đến kỳ lạ. Xâu chuỗi mới thấy quê mình có quá nhiều điển tích được người xưa để lại. Rất nhiều giai thoại còn ẩn mình trong cõi nhân gian, sự ẩn mình như ngầm khuyến dụ cháu con mở cuộc kiếm tìm, khai mở để nhận ra những giá trị trân quý, trường tồn của quê hương, đất nước mang sức sống đến muôn đời.

Còn lại ký ức Ảnh: VŨ NGỌC THUÝ
Hồi tôi còn làm cán bộ chủ chốt của thành phố Ninh Bình cũ (2003 - 2007), là thời gian có điều kiện tiếp xúc với các bậc cao niên trong vùng, nhất là các bậc trưởng lão có học vấn và thông tuệ. Một trong những người mà tôi được tiếp kiến nhiều là cụ Nguyễn Văn Mão sinh năm 1927, nguyên là Bí thư Đảng ủy - Hiệu trưởng Trường trung cấp Y tế Ninh Bình (1970 - 1976) nghỉ hưu đã lâu, nay cụ đã về cùng tiên tổ. Cụ biết Hán Nôm, biết nhiều chuyện đông tây kim cổ, đặc biệt là cổ tích có liên quan đến vùng đất Hoa Lư. Cụ thuộc làng Phúc Am cổ như thuộc lòng bàn tay. Phúc Am cổ được hình thành từ sự bồi lắng vùng cửa biển Phúc Thành (Phúc Thành hải khẩu) thành cư địa, thời cổ xưa thuộc trấn Sơn Nam Hạ đời vua Hùng Vương thứ 18. Tôi còn nhớ cụ Mão bảo rằng: “Anh cố mà tìm, chỉ riêng vùng này thôi cũng có thể viết được bao nhiêu là sách. Tôi già rồi, trong đầu thì nhiều nhưng không viết ra được”. Thời gian trôi đi mải miết. Và rồi những câu chuyện cụ Mão kể vẫn cứ nằm nguyên trong đầu tôi đến bây giờ. Bữa nọ tôi đến chơi nhà một người cùng cơ quan trước đây, anh sống có nghĩa có tình, nghe nhiều, đọc nhiều nên trong đầu anh cũng đầy ắp chuyện ngày xưa ở vùng đất Phúc Am cổ này. Anh tên là Nguyễn Văn Quyết sinh 1946, kế tự đất ông cha từ rất lâu đời. Anh cười thân mật: “Giời ơi. Cụ Mão còn sống thì cụ ấy với tôi ngồi kể cho anh ghi có mà mỏi tay. Tiếc là giờ tôi cũng quên vãn rồi. Những chuyện anh vừa hỏi thì tôi với cụ Mão thường kể đi kể lại với nhau nhiều lần. Bây giờ mà anh viết thì tuyệt quá”. Thế là tôi nhẩn nha viết. Vừa viết vừa tìm hiểu. Từ nhiều thế hệ, các tình tiết lưu truyền trong dân gian đã xâu chuỗi theo một logic đơn giản, dễ nhớ dễ thuộc như cụ Mão và anh Quyết kể vậy. Một số bậc cao niên chỉ nhớ được một vài trường đoạn lõm bõm, đơn lẻ như sự tích núi Kỳ Lân, làng Kỳ Vĩ, núi Đó, núi Lờ...
Tôi đã tìm đến tất cả các đền thờ thuộc bộ “Hoa Lư tứ trấn” trong tỉnh Ninh Bình cũ. Một trong bốn ngôi đền linh thiêng ấy là đền Nội Lâm (tên do làng Văn Lâm gọi), đền Trần là tên do dân quanh vùng quen gọi vì đền được xây dựng từ thời nhà Trần tại Vụng Thắm làng Văn Lâm, sang đầu thế kỷ 20 làng Văn Lâm chuyển ngôi đền lên lưng núi phục dựng lại tại vị trí hiện nay thuộc khu du lịch Tràng An. Ngôi đền này thờ Thần Quý Minh hay còn gọi là Quý Minh đại vương. Thần Quý Minh được nhiều nơi thờ, cùng mang một biểu tượng, ý nghĩa, nhưng giai thoại về ngài thì có sự khác nhau đôi chút. Ở vùng Hoa Lư, Thần Quý Minh là một nhân vật cùng thời Thần Sơn Tinh và Thần Cao Sơn. Thời vua Đinh đã cho lập hai ngôi đền thờ hai vị Cao Sơn và Quý Minh để trấn giữ phía tây và phía nam thành, cùng với hai ngôi đền thờ Thánh Không Lộ (Nguyễn Minh Không) trấn giữ phía bắc thành và đền thờ Thần Thiên Tôn trấn giữ phía đông thành. Bốn ngôi đền ở bốn phía thành Hoa Lư gọi là “Hoa Lư tứ trấn” để hộ vệ cho thành Hoa Lư và triều đại nhà Đinh. Đền thờ Thần Quý Minh được xây giáp tường phía nam thành. Sau này tường thành và đền không còn nữa, đến đời nhà Trần thì được xây dựng tại thung Vụng Thắm làng Văn Lâm, sau này được làng Văn Lâm phục dựng lại ở vị trí bây giờ. Tục truyền rằng, sau khi cuộc giao tranh giành công chúa Mị Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh kết thúc, Thủy Tinh thất bại. Từ đó cứ hàng năm Thủy Tinh lại dâng nước đưa thủy quân lên đánh Sơn Tinh, mỗi lần giao chiến gây ngập lụt, mất mùa làm cho dân tình đói rét, lầm than khổ cực. Thần Quý Minh được vua Hùng Vương thứ 18 phái đến dãy núi phía Tây Nam vùng Sơn Nam Hạ (tỉnh Ninh Bình ngày nay) án ngữ để chống lại Thủy Tinh. Ngài về chăm lo cho dân chúng, cùng dân chúng bày đặt trận đồ chống lại lực lượng của Thủy Tinh. Người xưa kể lại rằng: Thần Quý Minh là thần thủy thổ, ngài rất tài giỏi, thường chọn thung lũng và hang núi làm hậu cứ, chọn núi cao làm vọng đài, chọn sông ngòi làm chiến địa. Ở làng Thư Điền, phía Tây phường Hoa Lư có một số địa danh như ngày nay để gọi, không ai rõ do Thần Quý Minh đặt tên hay do đời sau dựa vào truyền thuyết Thần Quý Minh chống lại Thủy Tinh để đặt tên. Theo truyền tụng dân gian, vùng núi Bình Khê (xưa gọi là Rãng Khê) được Thần Quý Minh chọn làm nơi đưa dân, đưa gia súc gia cầm đến tránh lụt. Bị mất mùa lúa thì dân trồng chuối trong thung lấy quả làm lương thực, thân cây và củ chuối làm thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc. Chuối mọc bạt ngàn nên gọi là thung Chuối, nơi đưa trâu vào tránh lụt thì gọi là thung Trâu (sau gọi thành thung Châu). Chảy qua làng Thư Điền, thuộc địa phận xóm Bình Khê là một con sông lớn, ngày xưa lòng sông rộng mênh mang nối từ sông Đại Hoàng (Hoàng Long) ra biển. Thủy Tinh dâng nước lên đánh Sơn Tinh ở hướng Đông Nam chủ yếu là vào theo sông này, gây ngập cả một vùng rộng lớn. Lực lượng hai bên dàn trận giao chiến ở tất cả các nhánh sông ngòi thuộc lưu vực sông này nên gọi là sông Tranh (sau gọi thành sông Chanh). Phía Đông làng Thư Điền có một trái núi đơn độc, là nơi Thần Quý Minh bố trí quân đóng bè chuối ở đó, khi nước dâng lên, thủy quái vào thì quân chống bè giả vờ thua chạy, dụ lực lượng thủy quái theo các nhánh sông ngòi vào sâu theo ý đồ để đánh. Núi ấy được gọi là núi Dụ, cái tên vẫn gọi đến bây giờ (hiện nay núi Dụ chỉ còn chân núi, phần trên đã bị nổ mìn phá đá từ lâu). Theo núi Dụ ngược lên phía Bắc thuộc xã Ninh Khánh cũ có hai trái núi lớn hình vòng cung gọi là núi Bùng và núi Sệu, nơi đây xưa có các kênh, ngòi chảy quanh chân núi rồi chảy ra cửa biển Phúc Thành, trong đó có kênh Bờ Lầu. Khi nước dâng lên thì thủy quái bủa vây quanh núi, người và động vật trên núi không còn đường thoát. Thần Quý Minh đã bố trí cho dân lên núi với đầy đủ đồ ăn thức uống, cùng nhau lấy đá xếp làm bẫy chờ khi nào thủy quái rút chạy qua đây thì thả bẫy đá tiêu diệt. Phía Bắc xóm Bình Khê bên bờ sông Chanh có một ngọn núi độc lập rất cao, đỉnh núi nhọn như một đỉnh tháp được Thần Quý Minh chọn làm đài quan sát và chỉ huy. Khi lực lượng của Thủy Tinh vào sâu trong trận đồ thì Thần Quý Minh phát lệnh phản công, tiếng chiêng ở tháp chỉ huy gióng thúc liên hồi, núi này được gọi là núi Chiêng. Bè luồng, bè gỗ, bè chuối nổi đầy trên mặt nước, những mũi lao bằng tre, bằng cây gỗ vót nhọn xỉa xuống nước giao chiến với các loài thủy quái như ba ba, giải, thuồng luồng, cá dữ… Lực lượng của Thủy Tinh bị thương vong hao hụt lớn, đuối sức dần. Tàn quân thủy quái rút chạy ra phía biển, khi qua hai trái núi lớn (thuộc xóm Bình Khang, phường Hoa Lư bây giờ) thì được lệnh cho sập bẫy đá, đá lăn xuống các lạch nước làm thủy quái chết nhiều vô kể, xác trôi ra đầy cửa biển. Hai núi ấy được gọi là núi Bùng và núi Sệu. Cụ Mão cắt nghĩa, “Bùng” có nghĩa là tiếng nổ, là kết thúc; “Sệu” ở đây nghĩa là vùng đất trũng. Hai nghĩa này có liên quan đến câu chuyện cuộc chiến chống Thủy Tinh ngày xưa.
Khi nước dâng cao, quân của Thủy Tinh vào sâu trong trận đồ của Thần Quý Minh thì ngài còn truyền cho đặt một chiếc lờ khổng lồ chặn dòng sông Chanh, đặt một chiếc đó lớn chặn dòng nước kênh Bờ Lầu từ phía Bùng - Sệu dẫn ra cửa biển Phúc Thành. Khi thua tháo chạy, quân của Thủy Tinh chui vào lờ, vào đó bị bắt sống hầu hết. Sau cuộc chiến Thần Quý Minh thả cho chúng về với các sông, hồ. Thủy Tinh thất bại phải cầu hòa với Thần Quý Minh và Thần Sơn Tinh. Từ đó không còn những cuộc giao tranh cuồng nộ nữa, thiên hạ được thái bình dài lâu. Ngày nay ở phía Nam làng Thư Điền có một trái núi lớn giống hình con cá khổng lồ, người ta gọi là núi Lớ, tương truyền rằng chiếc lờ khổng lồ của Thần Quý Minh còn lưu lại hóa đá với tên tục của núi là “núi Lờ”, hậu sinh tránh tên tục nên gọi chệch đi thành núi Lớ. Chiếc đó lớn của Thần Quý Minh cũng hóa đá thành núi Đó nằm cuối xóm Chùa làng Phúc Am cổ, tại vị trí hạ lưu cống đá bắc qua dòng mương tự nhiên từ lâu đời. Thời tôi mới thoát ly, đi qua đây vẫn còn biết dòng mương, cống đá và dấu tích chân núi Đó. Núi Đó đã bị nổ mìn khai thác đá sát đến chân núi, đến bây giờ di tích mặt bằng chân núi đã bị san lấp hoàn toàn.
Ngày nay những cái tên địa danh như Thung Châu, Thung Chuối, làng Kỳ Vĩ; tên núi tên sông như: núi Chiêng, núi Bùng, núi Sệu, núi Lớ, núi Dụ, núi Đó, núi Kỳ Lân, sông Chanh, kênh Bờ Lầu là những địa danh, tên núi, tên sông đã có từ rất lâu đời. Tạo hóa và người đời khéo sắp xếp thành cổ tích gắn liền với những nhân vật huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh và Thần Quý Minh để ngày nay thành các địa danh, tên núi tên sông thân thuộc.
Lại nói về làng Phúc Am cổ. Thời nhà Trần, Phúc Am cổ là làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, phủ Trường Yên. Làng này có danh nhân Trương Hán Siêu tên tự là Thăng Phủ hoặc Thăng Am là quan trong triều của 4 đời vua nhà Trần, từng giữ các chức Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Hữu ty lang trung, Tả ty lang trung, Thượng thư, khi ông mất được hai vua phong là Thái bảo rồi Thái phó, ông là một danh nhân văn hóa lớn đời Trần, kiệt tác văn chương nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông là bài Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) - một áng thiên cổ hùng văn rất được lưu truyền. Theo cụ Mão thì ngày xưa làng Phúc Am cổ có Văn miếu thờ Khổng Tử ở cuối xóm Phúc Chỉnh, có bia viết về Hàn lâm học sĩ Trương Hán Siêu; có đền thờ Trương Hán Siêu ở phố Trực Độ. Các công trình này rộng rãi, cổ kính và rất uy nghiêm, thiết chế các hạng mục trong văn miếu và trong đền thờ theo lối cổ xưa. Trong kháng chiến chống Mỹ cả hai công trình này đã bị máy bay địch tàn phá. Năm 1999 đền thờ danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu được khởi công xây dựng lại dưới chân núi Non Nước, một thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Bình và của cả nước. Quá trình xây dựng đền cũng có nhiều tình tiết đáng lưu tâm. Đêm khởi công, đồ cúng là mâm xôi thủ lợn, chỉ có 5 nén hương thắp cắm trên mâm xôi mà bỗng dưng cháy bùng đến tới chân nhang; các cụ làm thủ tục xin đài trước chính điện của chùa Non Nước, đến đài thứ 8 vẫn không được, yêu cầu Trưởng ban kiến thiết đền hiện diện thì đài thứ 9 là được. Sáng hôm sau tại mặt bằng xây dựng đền có rất nhiều phiến đá kích thước lớn nhỏ được chở đến xếp ngay ngắn cùng những đĩa hoa cúng với những nén hương đã tàn. Dân bán hàng quanh công viên nói là tảng sáng có người chở những phiến đá ấy bằng xe xích lô đến thắp hương khấn xin hoàn lại cho đền. Đó là những phiến đá trước kia họ lấy từ ngôi đền thờ cũ về lát sân, vườn, cầu ao, nay biết việc phục dựng lại đền nên hoàn trả. Nhân vật Trương Hán Siêu còn vương bóng một thời ẩn dật bên chân Dục Thúy Sơn (núi Thúy hay còn gọi là núi Non Nước) gắn với giai thoại ngài đặt tên Hồi Hạc cho trái núi bên cạnh sau những chiều tà ngồi ngắm đàn hạc bay về. Núi Hồi Hạc đứng cạnh phía Tây Nam Dục Thúy Sơn. Sau 1954 núi bị phá lấy đá xây dựng, hiện nay khu vực chân núi là khuôn viên Đài tưởng niệm Liệt sĩ phường Hoa Lư. Trương Hán Siêu còn để lại một tác phẩm văn học nổi tiếng khắc trên vách núi Thúy đó là bài ký với tựa đề “Dục Thúy Sơn linh tế tháp ký”. Những giai thoại bí ẩn về thân phận, về trường đoạn ẩn dật của Trương Hán Siêu nơi quê nhà vẫn còn dư âm, truyền tụng. Ngày nay đền thờ danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu được Phòng Văn hóa - Xã hội phường Hoa Lư quản lý, tổ chức giỗ vào 20/9 âm lịch hàng năm. Ban ngày nhiều du khách thập phương cùng nhân dân địa phương đến viếng thăm, dâng hương tưởng niệm. Mỗi kỳ thi tốt nghiệp hoặc thi vào đại học là con em trong vùng bảo nhau đến đền thắp hương khấn danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu, xin cụ phù hộ độ trì cho đỗ đạt. Âu cũng là một nét văn hóa đáng quý trong tín ngưỡng thờ tự đã dần ăn sâu vào tâm thức thế hệ ngày nay, từ đó luôn hướng thiện và hướng tiến bộ. Cũng là một niềm tự hào riêng của người dân vùng đất địa linh nhân kiệt.
Ngoài làng Phúc Am, cổ nhân còn lập thành hệ ngũ phúc gồm: Phúc Am, Phúc Thành, Phúc Chỉnh, Phúc Trì, Phúc Lộc. Hệ thống tên làng mang chữ Phúc trong cùng một địa hạt đủ cho thấy ý chí tiền nhân, luôn khát vọng yên bình thịnh vượng, phúc đức hậu lộc, cầu mong cho dòng dõi hiển vinh, quốc gia hưng thịnh.
HẬU CHIẾN
Sau trận thủy chiến chống Thủy Tinh thắng lợi, Thần Quý Minh phái chúa sơn lâm là Kỳ Lân đến vùng đất này để canh giữ và thị uy, giữ cho dân trong vùng được yên ổn làm ăn. Kỳ Lân nằm phục tại đầu làng Phúc Am cổ, đầu quay ra cửa biển, mình nằm xuôi về phía Tây làng, đuôi vắt dài gần tới sông Chanh. Khi Thần Quý Minh hóa về trời thì Kỳ Lân cũng hóa đá. Đầu biến thành núi Kỳ Lân bây giờ, đuôi thành làng Kỳ Vĩ giáp sông Chanh. Kỳ Lân, một biểu tượng lâu đời thể hiện sức mạnh của sự đoàn kết chống lại thiên nhiên, chống lại cái ác giữ yên cuộc sống xóm làng, còn là biểu tượng của sự phồn vinh. Ngày nay múa Lân là một nét đẹp truyền thống của nhiều vùng quê trên toàn quốc, đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc bộ. Làng Phúc Am cổ xưa và ngày nay nay nổi tiếng với việc sáng chế hình Lân, cũng là nơi nổi tiếng với nghệ thuật múa Lân.
PHẦN KẾT
Những địa danh, tên núi tên sông kể trên, mới chỉ là một góc nhỏ thuộc địa bàn phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (mới) sau khi sáp nhập. Theo lời kể mộc mạc của các bậc cao niên gần đây thôi cũng đã hé mở một trầm tích huyền thoại phong phú biết nhường nào. Sự ra đời các địa danh, sự hình thành các đơn vị hành chính cùng với sự cố kết cộng đồng nơi đây từ xa xưa đã toát lên sự kỳ bí, đã tạo nên bề dày trầm tích lịch sử trong dân gian khá phong phú, đa dạng, linh thiêng và hấp dẫn. Hồn đất hồn người hòa quyện với nhau thành hình sông dáng núi, thành phong cảnh non nước hữu tình. Đặc biệt là sự sống con người nơi đây đã xuất hiện từ rất lâu đời. Trước đây vùng đất Ninh Bình đã tìm thấy bộ xương hóa thạch của người Việt cổ cách đây hơn 7.000 năm tại Động Người Xưa - Cúc Phương. Gần đây nhất tại Thung Bình nằm trong quần thể danh thắng Tràng An người ta lại tìm thấy bộ xương hóa thạch của người Việt cổ cách đây hơn 13.000 năm. Phải chăng những giai thoại cổ tích thời Hùng Vương chưa phải là bắt đầu mà còn lâu hơn, ngược về trước gấp bao nhiêu lần thời gian nữa về xuất xứ giống nòi người Việt. Mọi sự vật, sự việc đều do Tiền tổ của chúng ta tìm tòi, tạo dựng và phát kiến rồi tìm cách truyền lại. Thời mông muội chưa có chữ viết, không ghi chép được thành văn bản, sách vở. Một trong những cách truyền lại ấy là biến thành những truyền thuyết, những huyền thoại miệng di ngôn lại cho đời sau. Sự tích bánh chưng, bánh dày là một điển hình qua nhiều thế hệ tới tận bây giờ. Theo dòng lịch sử của dân tộc ta, dù là chữ khắc trên văn bia, chữ trong sách vở, hay chỉ là truyền miệng thì chúng ta cũng đều được chứng minh: “Dân tộc Việt Nam ta từ cổ chí kim luôn mang khát vọng vươn lên trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong hoàn cảnh gồng mình ứng phó với thiên tai, kiên cường chống giặc ngoại xâm, chống ách nô dịch của ngoại bang thì khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam ngày càng dâng cao”.
Cổ tích là một phần của lịch sử, là một phương tiện để truyền đạt lịch sử một cách có chọn lọc và hư cấu, hư cấu có tính chất tự tôn nêu cao tinh thần dân tộc và giáo dục ý thức hệ. Cổ tích đã dẫn dắt sự vật, sự việc thành những câu chuyện dễ hiểu, dễ thuộc và dễ nhớ theo dòng chảy lịch sử, kể cả cổ tích truyền miệng khi chưa có điều kiện ghi chép, lưu trữ được một cách cụ thể và khoa học.
Trong nhân gian còn hằng hà sa số những trường đoạn cổ tích, những truyền tụng dân gian hết sức quý giá vẫn đang ngưng tụ ở đâu đó. Hãy để tâm kiếm tìm và sắp đặt lại. Biết đâu giữa cuộc chạy đua thần tốc theo cơn lốc thời đại “số” ta lại mong muốn được quay trở lại soi mình vào những lấp lánh giá trị truyền thống cổ xưa ấy. Rồi ta sẽ lại cảm thấy ấm áp hơn, tự tin hơn, an nhiên và thánh thiện hơn. Lúc đó chúng ta sẽ sống có ý nghĩa nhiều hơn bởi khi biết mình có một tổ tông, dòng giống từ rất lâu đời với một truyền thống lịch sử văn hóa vô cùng quý báu, bền vững và trường lưu…
Đ.N.L
(Nguồn: TC VNNB số 312 - 11/2025)