Tác phẩm đạt Giải Nhì Cuộc thi Văn xuôi “Trang viết và cuộc sống”
Ký dự thi của ĐINH NGỌC LÂM
Chiều vàng óng ả. Mặt nước sông Ngô Đồng ánh lên sắc màu rực rỡ. Rực rỡ đến kỳ lạ. Thẳm sâu dưới lòng sông là những bóng núi màu xanh lam, mỗi chiều tà ngày nắng là màu lam của những bóng núi ấy như được dát vàng, lấp lánh ánh lên bao sắc màu huyền ảo. Cảnh sắc diệu kỳ loang theo từng vòng sóng hai bên mạn những con thuyền nhẹ trôi theo nhịp chèo buông. Từng đoàn thuyền nối nhau trải dài trên dòng sông Ngô Đồng, bồng bềnh luồn qua Tam Cốc giữa những thảm lúa chín vàng, đôi bên là núi, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình khuyến dụ biết bao hành trình của du khách muôn phương về đây thưởng ngoạn kỳ quan. Một kỳ quan mà tiếng vang đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia từ bao giờ, đến bây giờ tấp nập từng đoàn khách du lịch nước ngoài với nhiều quốc tịch khác nhau ở tất cả các châu lục trên thế giới đổ về như trẩy hội. Làng tôi xưa, bây giờ được gọi là “Phố Tây”. Làng như phố, ban ngày sầm uất, ban đêm sôi động. Đất trời làng tôi đang đổi vận. Từ vùng chiêm trũng, khó khăn, vất vả, mà giờ đây kinh tế phát triển nhanh chóng, diện mạo xóm làng khác xưa nhiều quá. Văn Lâm bây giờ thuộc phường Nam Hoa Lư, đang chờ ngày được đổi tên thành “Phố”. Về thăm quê bao giờ tôi cũng dành những phút giây lặng lẽ ngắm nhìn khung cảnh bến đò, nơi những con thuyền chở khách du lịch rời bến và từ Tam Cốc kết thúc hành trình trở về.

Mùa lễ hội – Huy chương Vàng PSA Ảnh: BÙI LIÊM
Cảm xúc dâng trào. Vui buồn lẫn lộn. Vui vì sự đổi thay hiện hữu. Man mác buồn vì nhớ quê xưa, nhớ về những tháng năm đã trải qua, về biết bao kỷ niệm êm đềm, ngọt bùi, cay đắng. Những gì đã xác tín trong tâm trí của một đời người thì không dễ gì nguôi. Văn Lâm, trỗi dậy trong tôi biết bao hoài niệm, từ xửa từ xưa qua lời kể của các bậc bô lão, cha chú trong làng, qua những năm tháng tuổi thơ dữ dội còn hằn nguyên trong trí não một lớp người thuộc lứa tuổi chúng tôi. Hai đầu thời gian xa lắc, hai hoàn cảnh xưa và nay, chiến tranh và hòa bình, hai cảnh trí khác nhau một trời một vực. Hãy cùng tôi ngược về những ký ức làng quê Văn Lâm để hình dung về bức tranh “Rừng Văn” từ ngày xửa ngày xưa ấy, trước cả thời tôi đã lớn khôn.
I. TIẾNG VỌNG TIỀN NHÂN
Từ rất xa xưa, một nghìn năm ngược về trước có một dòng họ đến đây khai phá, sinh cơ lập nghiệp. Quang cảnh nơi đây lúc đó là một vùng hoang vu, rừng thiêng nước độc. Một lạch nước tự nhiên, khởi nguồn từ một vồng nước trong hốc núi gọi là Suối Tiên - Bến Thánh, hay còn gọi là vồng nước Chân Quèn, len lỏi giữa hai dãy núi đá vôi trùng điệp, xẻ đôi những cánh đồng lau lách, hoang vu, luồn qua ba hang núi lớn được đặt thứ tự từ ngoài vào trong theo độ dài của hang là hang Cả, hang Hai và hang Ba hợp thành Tam Cốc. Lạch nước nguyên sinh, một con đường thủy tự nhiên được tiền nhân khai mở qua bao đời đã thành một dòng sông. Dòng sông mềm mại hiền hòa đầy thơ mộng được đặt tên là sông Ngô Đồng. Khúc cuối cùng của sông hình cong ôm gọn phía Bắc làng tôi rồi hòa vào sông Đam Khê gọi là sông Cái. Nguồn nước trong lành nguyên sinh quê tôi bắt nguồn từ Bến Thánh qua bao đời đến giờ vẫn mát lành, êm ả, ôm ấp xóm làng rồi ra sông Cái. Sông Cái bắt nguồn từ Thung Nham chảy quanh hai làng Đam Khê Trong, Đam Khê Ngoài nhập vào sông Thiện Dưỡng chảy ra cầu Yên hợp lưu với sông Vân tạo thành đầu nguồn sông Vạc rồi chảy ra biển.
Làng tôi, núi đá vôi bạt ngàn, từ chân núi lên đến đỉnh núi là những lùm cây xanh đa dạng, thân cây không to mặc dù đã rất lâu năm, khẳng khiu rắn chắc. Những lùm cây đặc trưng như lèo heo, xương cá, má bình là những loại cây làm củi vừa nhanh khô, dễ cháy, đượm than. Quê tôi có câu: “Lèo heo, xương cá, má bình/ Ai muốn mua củi thì rình mà mua”. Đặc biệt là cây vắp, người leo núi giỏi mới chặt được loại cây này, cây không to nhưng rất chắc, làm cán búa, cán xẻng, cán cuốc, cán cào, chuôi dao thì vừa bền, vừa chắc, vừa đẹp, cành con làm củi đun bếp thì bền lửa đượm than không loại nào sánh bằng. Cây le vừa để đun bếp, vừa dùng vào nhiều việc khác như le già làm đũa không phải vót, làm lồng chim, học trò tiện làm que tính, làm đồ thủ công v…v… làm củi đun nấu thì dễ nhóm lửa, lửa cháy vèo vèo, đun nước rất nhanh sôi. Theo lạch nước gọi là con sông nhỏ ấy, càng vào sâu trong rừng càng rậm rạp hoang vu, hai bên bạt ngàn lau sậy. Các bụi cây mọc dưới nước gọi là tù và, trên vách núi đá là đa dạng cây rừng, trên vãn, dưới lòng thung có những cây gỗ to như sung, vối, sang, sộp, gạo, đa, si. Có một số cây gỗ quý hiếm như lim xanh, kiêng, nghiến, trai, sến, táu… Những trái núi bìa ngoài có nhiều cây hoa như tử tiêu, hoa dẻ, lộc vừng, dưới chân núi bạt ngàn cây hoa dành dành. Đặc biệt trên vách núi có rất nhiều cây mọc ra từ những hốc đá nhỏ nhắn cằn cỗi, già nua mà sức sống mãnh liệt, khỏe khoắn bền lâu, dáng thế, bởi cây mọc ngang từ vách núi ra rồi vươn thẳng lên trời, hoa nhỏ màu vàng nhạt như cốm nếp rang, quả giống quả cậy nhưng nhỏ như đầu đũa nên cây còn được gọi là “cậy rừng” hoặc “muội hồng” - có nghĩa là em gái của hồng nhà” dòng cây này đến nay rất quý hiếm, tên cổ là “mai đá”. Có lẽ vì vậy mà Tiền tổ dòng họ đầu tiên đến đây đã đặt tên làng là Mai Sơn, có nghĩa là “Núi Mai”. Quãng thời gian sau, một vài dòng họ nữa đến đây cùng khẩn hoang, khai mở đồng điền trồng lúa nước. Đồng ruộng nước sâu, vận chuyển chủ yếu là đường sông nên thuyền nan được chế tác ra để phục vụ cho việc đi lại và sản xuất. Kể từ đây những cánh đồng lúa nước, những chòm xóm với những mái lều tranh tre vách đất, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm xuất hiện, rồi hệ thiên địch như chuột bọ, châu chấu cào cào, côn trùng sinh sôi nảy nở, bò sát, chim muông quần tụ về nhiều hơn hình thành một hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và sống động. Quạ tụ về sinh sống thành từng đàn bởi nguồn thức ăn khá dồi dào, làng được các bậc tiền nhân đổi tên thành Ô Mễ, nghĩa là làng nhiều quạ và lúa gạo. Một thời gian lâu sau quạ quần tụ về ngày một đông, làng được đổi tên thành Ô Lâm nghĩa là rừng quạ, hình thành thêm hai chòm xóm phía Đông và phía Tây gọi là xóm Trong và xóm Ngoài, còn gọi là làng Trong và làng Ngoài.
Vào giữa thế kỷ thứ 13, khi vua Trần Thái Tông lãnh đạo quân sĩ Triều đình kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất thắng lợi (1258), Vua đã cho về xây dựng Hành cung Vũ Lâm làm trung tâm kháng chiến quan trọng và lâu dài. Cùng với việc vua Trần Thái Tông truyền ngôi cho con rồi về am Thái Vi tu hành, tịnh dưỡng, nhà Trần đã chiêu tập thêm dân rồi lập thành xóm thành làng đổi tên làng là Văn Lâm có nghĩa là “Rừng Văn”. Kể từ đó đến những năm lứa chúng tôi lớn lên thì đã thấy làng tôi có 5 xóm với 11 dòng họ lớn nhỏ. Ông nội tôi mất từ khi cha mẹ tôi chưa lấy nhau, bà nội tôi mất khi tôi mới hơn 4 tuổi. Bà ngoại tôi mất sớm khi mẹ tôi chưa tròn 8 tháng tuổi. Ông ngoại tôi làm phó lý - một chức dịch đứng thứ hai trong làng. Vóc người cao lớn, khuôn mặt chữ điền, chòm râu mềm mại, đôi mắt lúc nào cũng như cười, nên người làng bảo ông có quý tướng, đẹp lão, hiền từ. Làm phó lý được ba năm, khi bị lý trưởng gõ quạt lên đầu chỉ vì ông tôi không biết quát nạt dân, thế là ông từ chức, mất mấy mẫu ruộng xung công. Ông rất quý tôi, những lúc rảnh rỗi ông đến nhà chơi là tôi xoắn lấy ông hỏi vặt, người lớn gọi tôi là “Chúa hỏi vặt”. Chuyện vặt mà ông tôi không chán, ông cứ nheo mắt cười rồi chậm rãi trả lời, tôi hỏi về tên làng, tên xóm, ông cười vang rồi cắt nghĩa từng câu một. Làng Văn Lâm có 5 xóm, bắt đầu là xóm Đại Đồng, rồi đến các xóm Cộng Hòa, Đại Thắng, Hòa Bình, Đoàn Kết, các tên gọi này được đặt lại từ sau kháng chiến chống thực dân Pháp, thời điểm hòa bình mới lập lại. Tên cũ thứ tự là xóm Đông, xóm Chua, xóm Cả, xóm Tam Bằng và xóm Ngoài. Thời tôi vẫn còn gọi lẫn lộn cả hai tên, nhất là khi dùng tên húy của xóm để trêu chọc nhau. Ông tôi giải thích rằng, xóm Đông là xóm phía Đông đình Các. Xóm Chua tôi nghe người ta bảo nhà nào cũng nấu rượu, nước bỗng rượu bốc mùi rất chua, cứ bước chân vào xóm là ngửi thấy mùi chua, hay là con gái xóm này chua ngoa đanh đá nên gọi là xóm Chua. Tôi hỏi, ông tôi cười: “Cái này thì ông chịu vì tên này từ thời thượng cổ đặt nên cứ vậy mà gọi cháu ạ (chắc lúc đó ông không muốn kéo dài sự tò mò của tôi nữa). Ừ mà xóm này ngày xưa có ông Chánh tổng Nhạc có quyền thế, nên nhiều nhà được nấu rượu cháu ạ, giờ thì cấm tiệt - Rồi ông xoa đầu tôi cười”. Xóm Cả là xóm được hình thành đầu tiên, rất lâu đời nằm giữa làng có một ngõ chính to nhất. Xóm có nhiều nhà giàu, nhà ngói sân gạch bề thế từ lâu đời, có dòng họ Đỗ nghe nói là ông tổ của họ là người khai thiên lập địa đầu tiên của mảnh đất này. Họ Đỗ có cụ đồ Giảng hơn tuổi ông ngoại tôi, cụ giỏi chữ
Nho được làm thầy đồ dạy học, cha tôi hồi nhỏ cũng là trò của cụ ấy. Cụ đồ Giảng đã mất từ lâu, tôi cùng lứa với cháu nội cụ nên hai đứa rất thân nhau. Thằng Nhận con ông Hới, ông Hới là con trưởng cụ đồ, người trong làng gọi là “giáo Hới”. Cha tôi bảo sang thời nay rồi, ta bài Nho để học Quốc ngữ nên không ai học chữ Nho nữa. Cũng từ đó không ai gọi “giáo Hới” nữa, nhưng ông Hới vẫn được nhiều người coi trọng. Có lần tôi mon men hỏi ông: “Bác ơi, sao người ta gọi xóm Cộng Hòa là xóm Chua hả bác?”. Ông phá lên cười: “Thì chua nên gọi là chua chứ sao”. Tôi và thằng Nhận cười như nắc nẻ. “Trẻ con thì biết cái gì mà cười - Ông đăm chiêu rồi nhíu mày - Ngày xưa hai bên xóm Cả, xóm Chua và xóm Tam Bằng còn là ruộng, đất bên Tam Bằng thì làm được chân ruộng để gieo mạ, còn bên xóm Chua thì nước cứ nổi váng phèn, gọi là đồng đất chua nên gieo mạ bị chột, trồng cấy không nên, khi lập nên xóm thì gọi là xóm Chua”. Tôi còn nhớ mãi cái ý giảng giải của ông Hới, nhiều lần tôi cắt nghĩa với bọn trẻ trong làng nhưng chúng bảo tôi là “nói Trạng”, chua thì gọi là Chua, chả bao giờ tôi thắng được chúng về câu chuyện này. Tam Bằng là xóm có ba ngõ vào giống nhau gọi là xóm Tam Bằng. Xóm Ngoài hay còn quen nói là “ra làng Ngoài”. Hòa bình lập lại năm 1954, sau đó thì được đổi thành các tên Đại Đồng, Cộng Hòa, Đại Thắng, Hòa Bình và Đoàn Kết. Xóm Đoàn Kết có tới 5 ngõ vào theo con đường trục cuối làng gấp khúc rẽ trái từ đầu cầu bên này sông Đam Khê dẫn ra đến chùa Sở của làng Văn Lâm giáp bờ sông Thiện Dưỡng, có lẽ địa dư xóm Đoàn Kết là lớn nhất làng.
Đường ngõ vào các xóm của làng tôi là một đặc điểm khác biệt, trừ hai ngõ đầu làng của xóm Đại Đồng là đường đất, trải sỏi trên mặt, còn lại tất cả các ngõ khác đều lát đá thước hai bên làm hai lối vào và ra, ở giữa trải sỏi và đá răm, hai bên xếp tường đá khan từ móng sâu dưới ruộng lên. Đường xóm Đại Thắng (xóm Cả) rộng nhất, còn lại các đường xóm khác nhỏ hơn và bằng nhau, đó chắc hẳn phải có quy định theo trật tự, luật lệ của làng. Người lớn kể rằng quy định từ lâu đời nhà nào cưới vợ cho con trai phải hiến 5 phiến đá thước hình chữ nhật dài 3 thước ta (1,2m), rộng 1 thước (0,4m), cho con gái đi lấy chồng phải hiến 3 phiến để lát đường xóm, cùng với 5 đến 10 thùng thóc xung quỹ kiến thiết của làng. Cha tôi bảo: “Cậu mợ lấy nhau không còn phải hiến đá thước nữa mà làng làm gì thì chỉ phải góp thóc, góp tiền và góp công sức thôi, chủ yếu là tu bổ đường trục chính của làng và làm thủy lợi đồng điền”. Có nghĩa là đá thước lát đường xóm đã xong từ lâu. Chúng tôi chạy nhảy trên đường xóm, nhìn xuống mặt đá thước lúc nào cũng thấy bóng mình, mặt đá nhẵn thín, mưa xong thì soi gương, đêm hè vắng người tôi với thằng Nhận, cùng mấy đứa trẻ khác cởi trần nằm dài trên mỗi phiến đá mát lạnh lưng đấu đầu với nhau tán dóc, đùa nhau cười như nắc nẻ. Chuyện cổ tích tôi và thằng Nhận được nghe ông Hới kể mang ra kể lại, còn bịa thêm ra cho cả bọn thưởng thức, kết thúc là chuyện ma, cả bọn rú lên chồ vào nhau rồi tóe ra chạy thục mạng về nhà. Thế mà tối nào cũng tụ nhau một hồi mới thỏa chí.
II. KÝ ỨC TUỔI THƠ
Đi vào các ngõ xóm làng tôi, hai bên là ruộng mạ, ruộng rau muống rau cần, ao thả cá đồng, mặt ao thường là bè rau muống, rau rút, quanh bờ là những khóm khoai nước, trên bờ ao thường là cây sung, cây gáo, cây ổi… Vào mỗi nhà, qua cổng là một mảnh vườn rau nho nhỏ, nhà nào vườn rộng thì có mít, nhãn, khế. Nhà tôi ở bên phải ngoài mặt đường trục quay mặt vào xóm, thuộc xóm Đại Thắng (xóm Cả), quay lưng xuống bến sông (bến đò du lịch bây giờ), với ba gian nhà cổ gỗ xoan, mái ngói, tường gạch, phía sau nối mái nhà chính xuống làm trái bếp. Mẹ tôi mở cửa hàng bán la ghim và bánh ăn sáng gồm bánh lá, bánh gù, bánh đúc, bánh đa, bánh xèo. Trong xóm nhà tôi có đất ông bà chia, có nhà ngói sân gạch nhưng năm 1948 chạy loạn vào rừng, hòa bình (1954) trở về thì nhà cửa bị đốt phá tan hoang chỉ còn tường xây. Sau này Hợp tác xã lấy khu đất mặt đường làm sân kho nhà tôi nhượng lại đất của một gia đình khác thuộc xóm Đoàn Kết (xóm Ngoài) rồi chuyển đến ở. Khi máy bay Mỹ đánh phá ra miền Bắc gia đình bác ruột tôi từ thị xã sơ tán về quê rồi ở lại, cha mẹ tôi nhường tất cả phần đất của ông bà nội cho gia đình bác tôi. Tuổi thơ tôi, đến bây giờ ngồi ôn lại chuyện xưa, ai cũng bảo tôi có một tuổi thơ thật là “dữ dội”. Một chàng trai lớn lên học hết lớp 7 phổ thông, vào học cấp III phải đi ở trọ, rồi đi bộ đội, xa quê từ đấy. Ở với quê có được bao lâu mà trong tôi mang nặng tình với quê hương đến vậy. Đi bộ đội về tôi thoát ly gia đình luôn và ra thị xã sinh sống, học tập và công tác, cách quê trên dưới 10 cây số nên vẫn thường xuyên về thăm quê. Văn Lâm trong tôi từng giờ từng phút. Tình quê thật đậm đà, sâu nặng. Hồi nhỏ cha tôi hay dùng cái tên “Làng Văn” để răn dạy, rồi bác ruột tôi là người giỏi chữ Nho và tiếng Pháp, tiếc rằng ông bị bệnh sớm, người ta bảo bác tôi bị loạn chữ, rồi bác tôi bỏ đi biệt tích. Bác dạy tôi học bập bẹ được chút ít chữ Nho thì cha tôi cấm, rồi luyện chữ Quốc ngữ cho tôi từ năm lên 3 tuổi, 4 tuổi tôi đã đọc được sách, tuy nhiên nhiều chữ đọc được còn phải ngắc ngứ đánh vần, những chữ khó nhất như chữ “thuyền” hồi mới học quốc ngữ phải đánh vần:: “Tê hát… u thu… y cà rết… ê thuê… en nờ thuyên… huyền thuyền!”. Mỗi ngày cha tôi bắt tôi phải đọc hết 5 đến 10 trang sách, không cần nhớ, thế mà tôi vẫn nhớ. Tôi nhớ nhất là quyển truyện “Người thông minh” với nhân vật A Phan Ti của nhà văn Trung Quốc, rồi “Bí mật lâu đài Rắn Lông Chim” quyển truyện của phương Tây viết về nơi cất giấu công thức của nhà bác học Lô Ta Rít bị các vua dầu mỏ truy tìm chỉ vì đó là công thức dùng nước (H2O) chạy động cơ. Còn lại chỉ đọc cho cha tôi nghe để cha tôi sát hạch lại tôi. Cha tôi rèn đọc và viết chữ đến giờ tôi vẫn sợ. Lớn lên, 4 tuổi rưỡi cha tôi khai sinh lại cho tôi và cho đi học vỡ lòng, bác Cử trong làng là thầy giáo dạy vỡ lòng, hàng ngày qua nhà dắt tôi ra đình Các để dạy học, hôm nào muộn bác cõng tôi một mạch đến lớp, đó là điều làm các bạn lêu lêu tôi nhiều nhất. Nói là các bạn nhưng có anh chị hơn tôi cả 6, 7 tuổi. Người lớn thì hay hãnh diện về con, cha tôi cũng vậy, nhưng cái khổ về sự non nớt, rồi chịu áp lực của con mình thì cha mẹ nào có hiểu hết. Bị trêu, bị bắt nạt lâu dần tôi cũng dạn, rồi vâng lời, rồi thân với các anh chị lớn hơn, được bênh rồi không ai bắt nạt tôi nữa nhưng bị trêu thì thường xuyên. Từ đó lứa bạn học tôi toàn anh chị, cái gì cũng bị lép vế, nhưng công việc ở nông thôn thì tôi học được từ các anh các chị rất nhiều, đến đâu chơi tôi cũng làm giúp các anh các chị các công việc như xay lúa, giã gạo, bế em, vo gạo thổi cơm… trừ những việc nặng chân nặng tay tôi chưa làm nổi. Tôi thường gạ anh nhà bác đằng mẹ tôi để được đi chăn trâu cùng. Một lần anh Cần cho tôi ngồi lưng trâu đằng trước anh, anh quất cho trâu lồng làm ngựa, anh đứng trên lưng trâu chỉ huy, trâu lồng mạnh rồi anh giật thừng khựng lại, tôi không bám vào đâu được văng qua đầu trâu rơi uỵch xuống đất suýt nữa thì bị trâu dẫm lòi ruột. Từ đó tôi sợ không dám đi trâu nữa, chỉ khi nào trâu về chuồng thì tôi đến xin anh Cần cho cưỡi một đoạn cho khoái thôi. Mấy anh chị lớn tuổi đi học, viết chậm hay nhờ tôi chép lại bài, chép xong thì về nhà tôi chả phải học cũng thuộc, cha tôi khảo bài tôi thuộc vanh vách thế là cha cứ đinh ninh con mình thông minh lắm. Năm học lớp 7, lớp sơ tán vào chân núi Hang Rặng, cả lớp phải lao động đào đất đắp tường nhà chắn phía ngoài. Lội xuống ruộng tôi bị ướt hết quần, rồi chuyền những hòn đất đào nặng hàng chục cân, tôi bị lún đến thắt lưng, anh Nhậm lớp phó phụ trách lao động cắm chiếc mai đào đất xuống, lội đến bế tôi lên chuyền tay nhau đưa tôi lên bờ rồi tuyên bố: “Cho nó nghỉ!”. Tôi ngượng quá khóc to rồi chạy một mạch về nhà. Mấy ngày sau anh Nhậm đến nhà gọi đi lao động, từ đó tôi được phân công trát vách tường nhà. Tường nhà được dùng nứa, sậy, nan tre buộc ngang dọc bằng lạt thành các ô vuông chắc chắn theo từng bước cột, rơm được ngâm nước cho mềm rồi trộn với đất bùn thật nhuyễn. Hai người hai bên, một anh chị lớn ngồi bên ngoài nhà bốc rơm trộn bùn vuốt dài rồi nhét qua ô phên tre nứa trên ba ô trống, tôi chỉ việc đón lấy gập xuống rồi đàn sang hai bên lấy tay xoa nhẵn, cứ thế trong ngoài kết hợp vừa ấn vừa xoa làm nên một bức thưng tre vách đất ngăn phần trên tường đắp đất và ngăn giữa các lớp học. Mấy năm sơ tán thật gian nan vất vả, thế mà năm đó trường cấp II xã Ninh Hải chúng tôi có 1 lớp 7 hơn 40 học sinh thi tốt nghiệp đỗ 100%. Cả xã có 13 học sinh thi đỗ vào cấp III thì làng tôi được 7 người, hai làng bên có 6 người. Còn lại các anh chị khác người thì đi bộ đội, thanh niên xung phong, có chị học xong lớp 7 đã lấy chồng.
III. NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG BAO GIỜ PHAI
Cha tôi làm kế toán tín dụng xã, hồi đó học hết lớp 7 bổ túc như cha tôi trong làng chỉ có mấy người, ông viết chữ đẹp, làm tính giỏi nên được chọn vào ngành ngân hàng của nhà nước nhưng ông xin ở lại làm cán bộ địa phương. Ông có hai nghề tay trái là thợ may và thợ thêu. Thêu ở quê tôi là nghề truyền thống vì thế ông vừa làm kế toán tín dụng vừa làm thêu, không hành nghề may nữa. Tôi vốn không thích tù túng nên ghét nghề thêu, thế mà khi cha tôi bắt ngồi vào khung học thêu thì tôi lại rất khéo tay, từ việc dễ đến việc khó cứ dạy đến đâu là tôi giỏi đến đó, cha tôi khó tính đến mấy cũng phải khen những đường nét thêu rua tôi thể hiện. Khổ nỗi tôi không thích ngồi, ngoài giờ đi học, nhất là hè tôi chỉ ngồi khung thêu qua loa rồi tót đi chơi, lẩn đi đẽo bi, đẽo cù. Cặp sách cha tôi may bằng vải theo kiểu túi rết hai nửa gập lại có quai đeo lên vai, bên trong túi rết ngoài sách vở ra, tôi luôn có một túi đựng bi đá, ngăn bên kia đựng mấy cái cù bằng gỗ kiêng. Tôi ít có thời gian được chơi bi chơi cù, bi và cù tôi làm để bán, bán rồi lấy tiền mua hoặc thuê truyện để đọc. Bi là những viên đá xanh nhặt ở quanh cổng nhà cụ Thịu chuyên đục cối đá ở đầu làng, về dùng dao cùn gò dần cho tròn rồi lấy vỏ hai con ốc nhồi khéo léo đục thủng lưng thành hai lỗ tròn đặt viên bi sơ chế vào giữa hai con ốc rồi dùng hai tay xoáy ngược chiều nhau, dần dần sẽ biết viên bi chỗ nào còn gồ lên là lấy dao gò tiếp. Khi nào hai lỗ của hai vỏ ốc tròn đều ăn khít vào bi thì bi cũng tròn đều, khi xoáy bi thỉnh thoảng phải nhúng nước đá sẽ mềm và mòn nhanh hơn. Đá sỏi đỏ làm bi thì tuyệt vời, đẹp và rắn, chọi bi không bao giờ mẻ nhưng gò bi sỏi đỏ thì cả tháng may được vài viên. Mỗi lần đi giã gạo chày máy (chày giậm bằng chân) với mẹ hoặc giúp nhà ai là tôi lại tuồn một lô bi mới gò được vào cối giã gạo, giã xong tôi xung phong múc gạo trong cối ra để còn lần lấy bi cho đủ. Những viên bi bóng loáng, đắt giá bán cho những người chơi sành. Đẽo cù thì tôi thân với mấy con nhà thợ mộc, đến mượn đồ đẽo gọt, đôi khi ngứa mắt người lớn lại làm giúp cho một vài công đoạn. Cù gỗ kiêng rất rắn, cù khác bổ vào đinh trượt đi không mấy khi để lại sẹo trên thân cù. Một thời cha tôi cấm, tôi vẫn âm thầm vụng trộm, đến khi biết là cù và bi biến thành những quyển sách thì cha tôi lờ đi.
Tôi và thằng Nhận học người lớn làm diều. Làng tôi gần như cả làng nhà ai cũng có ít nhất một chiếc thuyền đan bằng tre nên cật tre để vót được nan diều thì nhiều vô kể. Trẻ trong làng đứa nào cũng thích diều, khổ nỗi diều phải phất bằng giấy nho, nhẹ mới bay lên được. Nhà thằng Nhận sách Nho nhiều lắm, chẳng biết quyển sách viết gì cứ xé trộm được là nó xé, mà cha nó có vẻ cũng chán sách Nho hay sao ấy nên cũng chẳng đề phòng. Tôi thì xin chỉ thêu vụn nối sợi dài rồi xe làm dây diều, nhiều khi cha tôi đi vắng tôi lấy trộm cả cuộn chỉ mạng (loại chỉ làm rua rất bền) để làm dây diều. Được hai lợi thế ấy, diều của tôi và thằng Nhận bay cao và đậu lâu nhất so với diều của bọn trẻ xóm Đại Thắng. Tay hai thằng lúc nào cũng dính nhựa sung nhem nhuốc. Có lần hai thằng mang bát mẻ đi đến bờ ao các nhà rình để chặt trộm nhựa sung bị chó đuổi ngã xuống ao về bị ăn đòn. Mãi năm tôi học lớp 6, nhà tôi chuyển ra xóm Đoàn Kết ở, xa thằng Nhận mới thôi thả diều.
Chuyển ra ở xóm Đoàn Kết, học lớp 6 cùng tôi có hai người, anh Giáp và chị Nhiên, cả hai đều hơn tôi tới 7 tuổi. Anh Giáp là con bà cô, chị ruột cha tôi, bác trai làm thợ gò. Ngày trước bác ấy làm ở công binh xưởng của quân đội, bác thường gò hàn nhôm, đồng thành những đồ dùng gia đình như xoong, chảo, bát đĩa, đèn dầu, xô chậu… Hồi ấy bắt đầu có đuy - ra từ vỏ máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, thùng nhiên liệu, vỏ rốc két, vỏ bom bi, bác mua được ở đâu về. Đồ đuy - ra bắt đầu thịnh hành, thế là tôi chuyển “nghề” từ bi, cù, diều sang làm nhẫn, làm lược bằng những mảnh đuy - ra, vỏ đạn đồng. Anh Giáp lấy đồ nghề của bác cho tôi mượn trộm về nhà chế tác. Nhẫn và lược do tôi làm hồi đó cũng gọi là đồ quý hiếm, anh Giáp rất ủng hộ vì thấy tôi vừa khéo tay vừa chịu khó, thỉnh thoảng anh lại bảo tôi làm để anh mang tặng cho bạn gái. Cưa cắt, dũa gọt nên tay tôi đầy sẹo, mỗi khi rửa tay xà phòng để làm thêu là xót đến tận óc, cha tôi cấm vì làm kim loại chai tay nên thêu hay bị xước chỉ. Có lần cha tôi đã đổ hết túi “thành phẩm” của tôi ra ngõ, bọn trẻ tha hồ nhặt. Từ đó tôi không làm nữa, lao vào đọc truyện, có hôm trốn cha tôi trèo lên cây đọc Tam quốc diễn nghĩa, cha tôi bắt được gọi về và đánh bằng roi tre lằn mông, cha tôi bảo đánh vì tội trèo cây và không học bài. Sau khi thi tốt nghiệp lớp 7 được nghỉ hè, chuẩn bị thi vào cấp III, cha tôi tỏ vẻ dễ tính, tôi được xả hơi, ông không bắt buộc tôi ngồi vào khung thêu nữa. Sau một lần đi xem phim đèn chiếu về, tôi nảy ra sáng kiến mới là cũng “sản xuất” phim đèn chiếu. Tôi nghĩ ra những câu chuyện chiến đấu của bộ đội bắn máy bay, kéo pháo vào trận địa v…v…Thế là tôi hì hụi cắt giấy báo, giấy loại sổ sách của cha tôi dán thành băng giấy dài cuộn vào một ống nứa. Kiếm một tấm gỗ to làm bàn chiếu phim, trên tấm gỗ là những lỗ được đục thủng bằng dùi sắt nung đỏ, cắm các thanh tre vót tròn làm khung phất giấy kín hai bên và trên nóc, phía trước là hai thanh tre như hai chiếc đũa to cắm chắc vào hai đầu tấm gỗ, một bên xỏ ống nứa có cuộn băng giấy khoét hình người, ô tô, khẩu pháo, máy bay, cây cối, nhà cửa, bầu trời với những đám mây, nói chung là phong phú, gọi là “phim”. Tôi sưu tầm được rất nhiều giấy bóng gói bánh khảo ở xưởng bánh kẹo sơ tán, dán vào những hình khoét trên băng giấy tạo màu sắc và cố định giấy cho những nét cắt tạo hình. Khó nhất là đèn chiếu, đến bác phó rèn xin mãi bác mới bày cho cách cắt đít chai để làm kính đèn chiếu, thử mãi rồi cũng chọn được một chiếc đít chai thời Pháp tụ sáng, soi thử thấy được, mượn chiếc đèn ló đi săn thú rừng của bác, thay kính bằng đít chai vào. Chiếu thử vào tường thấy lên rõ hình, thế là ổn. Tôi vào xóm Hòa Bình bàn với hai anh, anh Cường hơn tôi 3 tuổi, anh Lãi hơn tôi 6 tuổi, ba anh em tôi cùng học lớp 7, cùng nhóm học khá văn với nhau tổ chức chiếu phim. Hai anh nhất trí và rất vui. Địa điểm chiếu tại nhà anh Lãi, vì nhà anh chỉ có hai mẹ con. Chúng tôi phân công anh Lãi viết và đọc thuyết minh, anh Cường canh cổng thu tiền rồi đóng cổng làm công tác trật tự, tôi quay phim. Buổi chiếu đầu tiên chúng tôi thu người lớn 5 xu, trẻ con 2 xu, thế mà chật hè nhà anh Lãi. Phông được làm bằng vải thêu trắng anh Lãi căng rất khéo, tôi bật đèn chiếu, một tay điều chỉnh rồi giữ chắc chân bàn chiếu, một tay từ từ xoay nhẹ ống nứa bên này để cuộn dần băng giấy chạy từ ống bên kia sang, nhịp nhàng từng khuôn hình hiện rõ trên phông, phù hợp với lời thuyết minh của anh Lãi. Anh Lãi giỏi thuyết minh và rất khéo tạo tiếng động bằng miệng, rồi pha trò. Hay nhất là anh làm tiếng còi ô tô và đạn bom nổ, rồi tiếng hò reo khi bộ đội mình bắn rơi máy bay Mỹ. Bà con im lặng chú ý lắng nghe cho đến kết thúc, câu chuyện của chúng tôi gồm 4 cuộn phim bằng giấy, cả giải lao thay phim là 30 phút. Chiếu xong bà con khen giỏi quá, bọn trẻ con cười như nắc nẻ. Cứ như thế 5 đến 7 ngày chiếu một tối cũng rôm rả tại cụm xóm Hòa Bình được qua hè. Tôi và anh Cường vào học cấp III là giải tán đội phim đèn chiếu. Có lẽ tuổi thơ của tôi được sang trang vào dịp hè năm 1967 ấy. Những năm đi trọ học về nghỉ hè tôi nghĩ mình đã là người lớn rồi, tham gia mùa màng cùng các bạn trang lứa cho vui, các bạn đều học sau tôi cả nên coi tôi như một người lớn hơn. Các anh chị lớn tuổi học xong người thì đi bộ đội, người đi công nhân, từ đấy chẳng mấy khi gặp lại nhau nữa. Tháng 5 năm 1971 tôi lên đường nhập ngũ, kể từ đó coi như đã xa quê, xa ngôi làng thân yêu đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu “dữ dội” mà vô cùng đẹp đẽ ấy…
IV. ĐỔI THAY
Đến bây giờ trong tôi vẫn hiển hiện quang cảnh làng xóm cũ, có thể nói làng Văn Lâm đẹp như một bức tranh thủy mạc, sơn thanh thủy tú, non nước hữu tình. Đầu làng xưa có cổng làng, hai ông chó đá hai bên chầu vào. Ông ngoại tôi dặn, trẻ con phải gọi chó đá bằng ông. Hồi nhỏ tôi hay ra đầu làng ngóng mẹ đi chợ về, thấy người lớn thường đặt lên hai chiếc mâm bồng bằng đá trước hai ông chó đá ấy khi thì gói hạt nẻ rang bằng thóc nếp, khi thì góc bánh đa, củ khoai lang… Mẹ tôi bảo, vào tuần vào tiết thì phải thắp một nén nhang đen đặt cùng đồ vật lên mâm bồng, thế mới thiêng, các ông ấy canh cổng cho thì làng mới được yên ổn. Dọc đường trục làng hai bên là ruộng, ngầm bên dưới các đường ngõ xóm là các cống thông sang nhau, dọc theo các nhà có xây rãnh thoát nước khá rộng, lối vào mỗi nhà thì lát mấy phiến đá thước qua rãnh để đi, cả xóm đều tăm tắp. Nhìn cảnh làng hồi ấy ai cũng bảo các cụ ngày xưa rất là ngăn nắp, nề nếp, chỉn chu, xóm này thi đua với xóm kia làm đẹp cho làng, tạo nên một ngôi làng có bề có thế.
Các bậc tiền nhân để lại đến thời chúng tôi rất nhiều giá trị kiến trúc tín ngưỡng cổ kính đáng quý. Làng tôi có đền Thái Vi, Chùa Sở, 2 đình, 3 điếm, 5 giếng làng. Đình Các thuộc xóm Đại Đồng, là đình lớn của làng và trong khu vực, nơi thờ Thành hoàng làng. Theo các cụ xưa kể rằng 4 đời vua Trần từ đức vua Trần Thái Tông, đến Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông sau khi thắng giặc, trao quyền cho con thì về am Thái Vi tu hành, tịnh dưỡng. Thời đức vua Trần Thái Tông đã chiêu tập thêm dân, chủ yếu là các nghệ nhân và các thợ thêu lành nghề qua các thời Đinh, Lê, Lý trong vùng Hoa Lư về làng này để phục vụ triều đình nơi sơ tán, rồi đổi tên làng từ Ô Lâm thành Văn Lâm. Vì vậy các vị vua cùng các quan thuộc hạ bốn thời vua Trần đầu tiên chính là ngôi vị Thành hoàng làng Văn Lâm. Hàng năm từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 3 âm lịch là lễ hội truyền thống đền Thái Vi được tổ chức trọng thể, trước khi đoàn kiệu rước vào đền Thái Vi thì lễ tế được cử hành tại đình Các. Đây là hai di tích thuộc di sản văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Đình Trung thuộc xóm Đoàn Kết, thờ thần là những vị có công khai mở xóm Ngoài ngày xưa. Cuối xóm theo đường trục dẫn đến giáp sông Thiện Dưỡng là ngôi chùa Sở thờ Phật, cuối khuôn viên chùa Sở là phủ thờ bà Chúa Liễu và công chúa Ngọc Hoa thời Trần. Làng có ba ngôi điếm lớn được đặt ở ba địa điểm mặt đường trục: một điếm ở đầu xóm Đại Đồng, một điếm ở giữa hai xóm Cộng Hòa và Đại Thắng, điếm thứ ba đặt ở đầu ngõ hai của xóm Đoàn Kết, là nơi giải trí cộng đồng của làng. Ba ngôi giếng cổ được xây rất đẹp, một tại bến sông Ngô Đồng xóm Đại Đồng (hiện còn bảo tồn), một thuộc hai xóm Cộng Hòa và Đại Thắng (không còn), một thuộc ngõ hai xóm Đoàn Kết (được phục dựng bảo tồn). Lòng giếng rất sâu từ mặt đất xuống khoảng 3 đến 4m, các cụ nói rằng phải là các nghệ nhân xây đá mới làm nổi, nền giếng xếp đá, tường xây đá khan vòng tròn rất đẹp, phần trên xây gạch, cửa giếng có trụ cuốn thư, thành đắp gờ chỉ, hoa văn trang trí. Giếng làng tôi lúc nào cũng trong văn vắt, thời chúng tôi nguồn nước ăn chủ yếu là giếng làng, đi làm đồng về người quê tôi vục nước giếng uống thỏa thê. Các cụ bảo đào giếng phải thăm được long mạch, được rồi thì phải giữ muôn đời không được lấp đi, vì đó là long mạch quý hiếm của làng. Sau 1954 làng tôi xây thêm hai giếng nữa, một thuộc ngõ hai xóm Hòa Bình, một thuộc ngõ năm xóm Đoàn Kết, cả hai giếng này đã bị phá lấp không còn dấu vết.
Văn Lâm có Văn chỉ, Võ chỉ. Văn chỉ nằm ở cuối xóm Đoàn Kết, hiện nay là vị trí nhà văn hóa đội 4. Hiện được nhân dân đội 4 dựng lại một di miếu vọng thờ đức Khổng Tử, hiện vật còn vương lại được mấy phiến đá thước cổ. Hồi còn ở làng tôi nhớ còn hai cột đá cao và những mảnh tường bằng đá thửa có trạm trổ rất đẹp, một khu đất vuông vắn, trên nền Văn chỉ có một cây cổ thụ, dưới là vườn dong riềng. Võ chỉ thì bác ruột tôi kể và chỉ địa điểm ở bên phải mặt đường trục làng, đầu xóm Đoàn Kết. Bác tôi kể rằng người xưa đến đây xây nên Võ chỉ thờ nhân vật Phàn Khoái, dũng tướng thời Lưu Bang của Trung Quốc. Võ chỉ bị phá thời chống Pháp, rồi hai gia đình từ thị xã Ninh Bình chuyển về làm nhà trên vị trí ấy.
Hầu hết lứa chúng tôi đều được nghe kể về cụ Tổ sư, ngài làm thầy phù thủy, tính tình nghênh ngạo, thường bênh kẻ nghèo hèn, châm chọc kẻ kênh kiệu trịch thượng. Phép thuật của ngài Tổ sư nổi tiếng trong vùng. Một lần thuyền lái buôn mắm cập bến, dân làng ra mua, chủ thuyền bán hàng nhưng ăn nói rất chỏng lỏn, coi thường dân nghèo, thấy vậy Ngài xách hẳn một cát vò ra mua chỉ có một chinh mắm nhưng đòi lưng vò, chủ thuyền quát tháo đuổi ngài đi. Ngài cười bảo rằng: “Không bán thì thôi, chớ đừng có coi thường lão!”. Sáng hôm sau thuyền mắm trôi lên ruộng ghềnh mắc cạn, không tài nào đẩy thuyền ra sông được. Chủ thuyền phát hoảng hỏi dân làng, hỏi mãi thì có người mách mang lễ vào mà xin ngài Tổ sư. Ngài không nhận lễ mà bảo rằng: “Bắc cầu lên bờ bán rẻ mắm cho dân làng, khi nào hết thì về”. Quả nhiên sau khi bán hết mắm, sáng ra thuyền đã nổi bồng bềnh trên sông. Các cụ bảo rằng Ngài có âm binh để sai khiến. Một lần ra chợ, Ngài thấy mụ nhà giàu nọ đeo bên hông một xâu tiền dài, ngúng nguẩy khinh bỉ những người nghèo khó kiếm ăn quanh chợ, mụ đá thúng đụng mẹt những người bán cá bán tôm. Ngài phẩy tay bảo: “Sao mụ lại đeo con rắn bên hông hử?”. Mụ nọ nhìn xuống thấy rắn hoảng hồn vội lấy tay dứt mạnh sâu tiền quẳng đi, tiền chinh rơi tung tóe, mụ sợ bỏ chạy. Ngài bảo những kẻ nghèo khó: “Nhặt lấy mà ăn tạm!”. Hay chuyện Ngài biến rổ cá diếc của người bán cá bị mụ nhà giàu cướp không thành rổ lá đa, mụ nhà giàu sợ quá bỏ lại, xấu hổ chạy mất, người bán cá tạ ơn Ngài, Ngài chỉ xin một con diếc mắt đỏ về nấu canh hẹ làm thuốc ho. Đến một bữa nọ Ngài uống rượu quá đà ngủ trễ, sáng ra một đội quân hình nộm bằng rơm cứ đứng làm động tác tát nước lên ruộng. Người đi đường nhìn thấy quở: “Chắc cụ Tổ sư ngủ quên chưa thu quân về!”. Khi các bù nhìn rơm biến mất thì làng nghe tin Ngài tạ thế. Người đời bảo Ngài bị lộ pháp thuật nên âm binh phản lại Ngài. Chuyện về ngài Tổ sư thì nhiều nhưng lớp trẻ ngày nay chẳng biết tí gì, ngay cả lứa tôi nhiều người cũng không còn nhớ nữa. Nghe đâu miếu thờ cụ Tổ sư nay đã thành homestay cho khách du lịch mất rồi. Nghe nói cháu nội cụ Tuyển đã đưa bát hương lên thờ trên tầng 3 của gia đình.
Ở cuối ngõ 1 xóm Hòa Bình có khu vườn Hậu. Thờ vị nào thì không còn ai nhớ. Tôi chỉ nhớ rằng một ông bác họ Nguyễn trước kia chăm nom khu vườn Hậu. Tuy chỉ còn tường đá trạm trổ bao quanh, cột đồng trụ bằng đá và nền móng miếu thờ, cạnh vẫn còn một cây me cổ thụ cao to, rất đẹp. Tôi vẫn nhớ như in mỗi lần vào nhà anh Lãi chơi chúng tôi thường xuống vườn Hậu tìm nhặt me rụng để ăn, những quả me khô chua ngọt. Cháu nội cụ hiện nay kể rằng, khi chính quyền giao cho một gia đình chủ thầu hàng thêu làm nhà trên vườn Hậu thì mọi dấu tích trên mặt bằng cũ bị dọn sạch, đến nay không còn lưu giữ được gì. Nghe nói có một bia đá chuyển quanh bị thất lạc, cháu nội cụ họ Nguyễn đang lần tìm.
Văn Lâm có đền Nội Lâm. Hồi nhỏ một lần duy nhất tôi được ông ngoại và cha tôi cho theo cùng đi lễ sức khỏe đầu năm vào kỳ sau tết âm lịch. Đi thuyền vào đến vồng Suối Tiên (Chân Quèn) thì đi bộ leo quèn, ông và cha tôi thay nhau dắt tay, rồi cõng tôi vào đến đền, ông tôi hành lễ, một lúc sau hạ lễ thụ lộc rồi trở về, chập tối thì về đến nhà. Làng tôi bảo, đền Nội Lâm thiêng lắm, thời vua Trần xây dựng ngôi đền này dưới lòng thung Vụng Thắm thuộc Văn Lâm, đền thờ thần Quý Minh hay còn gọi là Quý Minh đại vương là vị thần thủy thổ (nước và đất) nên thường được thờ ở vùng đất trũng. Qua năm tháng, do tác động của gió mưa, nước lụt, ngôi đền cổ bị xuống cấp. Đến đời ông ngoại tôi, người làng Văn Lâm đã hưng công xây dựng lại đền Nội Lâm, chuyển địa điểm lên trên sườn núi cao. Ngôi đền nhỏ mà uy nghi, kết cấu chủ yếu là đá xanh, mái ngói rất cổ kính, đẹp và có sức trường tồn. Hiện tại đền Nội Lâm thuộc khu du lịch Tràng An - di sản văn hóa thiên nhiên thế giới, khách du lịch quen gọi đền Nội Lâm là đền Trần.
Văn Lâm còn có nghề thêu truyền thống từ hơn một ngàn năm nay, vừa được nhà nước công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Nghề đã tạo cốt cách cho con người, trước đây người Văn Lâm lúc nào cũng mang một phong thái nhẹ nhàng, thư thái, nho nhã. Nghề thêu đòi hỏi rất tỷ mỷ, kỹ càng và sạch sẽ, ố bẩn một nốt nhỏ là sản phẩm bị bỏ đi. Không giàu phất lên nhưng cuộc sống có vẻ phong lưu nhất vùng. Con gái thời tôi không mấy ai lấy chồng thiên hạ, sợ mất nghề. Cũng không mấy trai làng tôi lấy vợ thiên hạ, người cùng họ không được lấy nhau thế mà loanh quanh dây mơ rễ má, anh em với nhau khắp làng. Vào thế kỷ 10, sau khi dẹp loạn xong 12 sứ quân thống nhất giang sơn, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Tiên Hoàng. Một lần vua Đinh đi điền dã về vùng Sơn Tây tìm nhân tài giúp triều đình trị quốc, đến làng Trạch Xá (thuộc xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, Hà Nội ngày nay) gặp người thôn nữ vừa xinh đẹp vừa giỏi thêu thùa, cắt may tên là Nguyễn Thị Sen, lập tức cho rước về cung phong làm Tứ phi Hoàng hậu, đặt tên hiệu là Cồ Quốc. Triều đình giao cho Tứ phi Hoàng hậu quản toàn bộ kho lụa là gấm vóc, phụ trách cắt may trang phục cho triều đình. Tứ phi Hoàng hậu là người thông minh, sáng tạo, đã tổng hợp tất cả các đường nét thêu thùa trong dân gian, đúc kết thành quy tắc truyền dạy cho một lực lượng đông đảo trong hoàng cung và quanh vùng Hoa Lư thành nghề thêu thùa để cùng phục vụ triều đình. Qua năm tháng, đến thời Trần, triều đình sơ tán về Hành cung Vũ Lâm, các nghệ nhân và các thợ thêu lành nghề qua các triều Đinh, Lê, Lý đã được chiêu tập về làng Văn Lâm phục vụ triều đình, nối truyền qua nhiều đời thành làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm bây giờ. Nghề thêu làng tôi qua bao khúc thăng trầm, đã có thời kỳ đến độ hoàng kim, nơi nơi đổ về học nghề rồi trở thành vệ tinh cho làng tôi. Cuộc sống đủ đầy, phong lưu là nhờ nghề thêu. Văn Lâm vừa đẹp phong cảnh, đẹp nghề, lại vừa đẹp nét người, còn là nơi hội tụ nhiều giá trị tinh hoa văn hóa. Bước sang thời kỳ đổi mới nền kinh tế, làng tôi bắt đầu bung ra làm giàu bằng nghề thêu. Một số vượt lên làm cai thầu, không đủ sức thì trở thành người làm thuê, không còn mang danh xã viên hợp tác xã nữa. Hợp tác xã thêu thôn Văn Lâm giải thể. Giàu nghèo bắt đầu xuất hiện. Rồi đến cuộc vỡ nợ, các chủ thầu vừa và nhỏ đi hàng vào Sài Gòn lụi dần. Trở về họ lại thầm lặng ngồi vào khung thêu làm thuê cho chủ lớn. Những chủ thầu giỏi giang thì trụ vững và giờ họ đã trở thành những doanh nhân thành đạt. Nghề thêu là một giá trị văn hóa riêng có góp phần làm đẹp thêm cho làng Văn Lâm tới tận bây giờ…
V. HỒI KẾT
Không khí du lịch ở làng tôi như đang sôi lên sùng sục, cuộc sống bỗng trở nên ồn ào náo động, có lúc cảm thấy bầu không khí trở nên chật chội, chật chội đến ngạt thở. Cảnh trí cội xưa của xóm làng đang bị mất dần. Ngõ xóm không còn đá thước nữa, thu hẹp lại bởi hai bên là nhà, là quán xá, nhà hàng. Toàn bộ vườn tược trở thành homestay, bungalow* phục vụ khách du lịch. Cả làng tôi thành một mặt bằng xây dựng, hàng loạt công trình tự phát đã mọc lên lấp đầy. Ban ngày đi trên đường làng chỉ nhìn thấy toàn quán xá hai bên mặt đường. Gốc tích xưa bị chìm khuất. Phong cảnh sơn thủy hữu tình trước đây được phô trình ở phía Bắc đường nhìn về phía đỉnh Linh Sơn nơi trấn ải vùng Tam Cốc, giờ chỉ còn thấp thoáng, xa mờ. Con kênh dọc theo bên trái đường trục làng đã bị gác tấm bê tông đậy kín để làm nhà hàng. Giờ đây trong lòng đất làng tôi không còn là trầm tích hồn thiêng, cũng không còn là nguồn long mạch trong lành nữa mà đang hứng chịu một nguy cơ hiểm họa khôn lường. Tất cả chất thải các khu vệ sinh nhà nghỉ, nhà hàng, quán xá, tất cả nước thải sinh hoạt, đặc biệt là chất tẩy giặt chăn ga, gối, đệm ngấm xuống lòng đất. Hình dung đến một độ nào đó nó sẽ căng tức, buộc phải bốc mùi lên bầu không khí của làng, mùi ô nhiễm ấy sẽ không ai chịu nổi và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người. Con kênh ngầm giờ đây đang gồng mình chịu đựng, quá tải rồi một ngày nào đó cũng sẽ bục phát, báo hại làng tôi. Người Văn Lâm đã nhiều nét khác xưa, có vẻ sớm già nua, lam lũ, khắc khổ. Những khuôn mặt đăm đăm ở bến đò chờ đến lượt chở khách vào Tam Cốc, gặp nhau thoáng qua rồi vác đôi mái chèo chạy vội. Mà sao làng tôi nhiều người để râu đến vậy, già để đã đành, trẻ cũng để râu, mọc là để. Khách đến nhìn người có râu nghĩ là người già. Tôi về làng, cháu gọi tôi bằng ông cũng bắt đầu để râu. Để râu tạo mốt còn tùy lứa tuổi, tùy khuôn mặt, tạng người mà để, đằng này để râu theo trào lưu, để văng mạng. Đâu phải là tập tục truyền thống như một số tộc người ở Trung Đông. Thời tôi, trẻ mà để râu vô lối như vậy các cụ cho là hỗn xược. Tôi đã về tìm hiểu, có người nói rằng: “Để râu cho già đi thì khách du lịch sẽ bo nhiều tiền”. Tôi cảm thấy tự ái, sao lại hèn thế? Tìm hiểu kỹ hơn thì không phải lý do ấy mà để râu nhằm làm cho khách nể. Thật buồn cười. Rồi lời ăn tiếng nói cũng khác xưa quá nhiều, ngôn ngữ pha tạp, xa lạ. Thời các cụ mà chúng tôi nói năng như vậy thì rũ đòn…
Viết đến đây tôi không khỏi chạnh lòng, cảm thấy tâm can như có gì đang đè nặng, nước mắt chỉ chực trào ra. Làm sao để giữ được nét xưa, giữ được những gì quý báu cội rễ của “Làng Văn”. Làng tôi giàu lên, mấy nơi bì được. Giàu mà mất đi quá nhiều, giàu mà đâu biết hậu họa đang rình rập bủa vây. Giá mà trước khi thời cơ vận hội đến, có sự chuẩn bị kỹ càng, nhất là được trang bị về nhận thức và ý thức, biết tự trọng để đón nhận thời cơ vận hội ấy một cách hợp lý với đầy đủ ý thức trách nhiệm. Cùng với sự quản lý vĩ mô kịp thời và đúng đắn thì Văn Lâm không chỉ giàu về kinh tế, mà còn đẹp về văn hóa, môi trường lành mạnh, phát triển bền vững, xứng đáng là điểm sáng kim cương của vùng đất Cố đô rạng rỡ ngàn năm.
Xin khép lại trang viết với lòng biết ơn và thành kính đối với quê hương. Mong “Văn Lâm hoài cổ” được các bậc Tiền nhân “Làng Văn” chứng giám, hiển linh phù hộ độ trì cho con cháu hậu sinh hồi tâm, ngoái nhìn về quá khứ mà suy nghĩ và hành động một cách có ý thức với lòng biết ơn Tiên tổ, chung tay gìn giữ và phát huy những giá trị tinh hoa của làng xưa còn đọng lại, để tiếp tục xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, tươi đẹp và trường tồn…
Đ.N.L
(Nguồn: TC VNNB số 314 - 12/2025 - Số Đặc Biệt)