Thứ ba, 18/08/2026

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA ÂM NHẠC DƯỚI HÌNH THỨC “BÁO TIẾNG”

Thứ ba, 16/06/2026

Nhạc sỹ, NSƯT KIỀU DƯ

Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Ninh Bình

           Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Hồ Chí Minh với tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

            Từ mốc son lịch sử ấy, báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin mà còn là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng độc lập dân tộc và cổ vũ nhân dân đứng lên đấu tranh giành tự do. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, và sau đó là công cuộc dựng xây, bảo vệ đất nước, báo chí đã đồng hành cùng dân tộc bằng nhiều hình thức: báo in, phát thanh, truyền thanh, văn học nghệ thuật, trong đó có âm nhạc.

            Âm nhạc cách mạng Việt Nam không chỉ đơn thuần là nghệ thuật biểu diễn mà còn mang chức năng của một loại hình “báo tiếng” đặc biệt. Những ca khúc cách mạng đã truyền tải thông tin thời sự, phản ánh hơi thở chiến trường, cổ vũ tinh thần chiến đấu, ghi nhận những chiến công và lan tỏa lý tưởng cách mạng đến hàng triệu trái tim người Việt Nam. Có những thời điểm, một bài hát vang lên có sức lan tỏa mạnh hơn hàng trăm bài diễn văn; có những giai điệu trở thành mệnh lệnh tiến công; có những ca từ trở thành niềm tin giúp quân dân vượt qua bom đạn.

            Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc hiện đại, âm nhạc dưới hình thức “báo tiếng” đã góp phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất non sông, xây dựng đất nước và hôm nay tiếp tục đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hội nhập, đổi mới và vươn mình mạnh mẽ.

            Nếu báo chí truyền tải thông tin bằng chữ viết, hình ảnh và tiếng nói thì âm nhạc cách mạng lại dùng giai điệu và ca từ để tác động trực tiếp vào cảm xúc, tinh thần và ý chí con người. Vì vậy, âm nhạc mang tính tuyên truyền, cổ động và lan tỏa rất mạnh.

            Trước và trong cách mạng tháng Tám, tiếp đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khi phương tiện thông tin còn hạn chế, nhiều vùng căn cứ không có báo in, không điện đài hiện đại, thì những bài hát cách mạng đã trở thành “tờ báo bằng âm thanh” gần gũi nhất với quần chúng. Người dân có thể không biết đọc chữ nhưng vẫn thuộc lòng lời ca cách mạng. Chính vì thế, âm nhạc trở thành phương tiện truyền thông hiệu quả, nhanh chóng và giàu sức lay động. Những ca khúc cách mạng thường phản ánh trực tiếp các sự kiện lịch sử, khí thế đấu tranh, tâm tư của nhân dân và khát vọng của thời đại. Qua âm nhạc, quần chúng nắm được tinh thần cách mạng, hiểu mục tiêu chiến đấu và nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.

            Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.” (Bài nói tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24/11/1946). Trong thư gửi các họa sĩ năm 1951, Người cũng nêu: “Nhiệm vụ của văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác là phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân”. Chính tư tưởng ấy đã hình thành nên dòng nhạc cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu nhưng cũng đậm chất nhân văn. Sau đây chúng ta sẽ điểm qua những nét chính về vai trò của âm nhạc dưới hình thức "báo tiếng" trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng của dân tộc

             1. Vai trò của âm nhạc “báo tiếng” trong kháng chiến chống thực dân Pháp

            Ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, âm nhạc đã trở thành công cụ tuyên truyền cách mạng hiệu quả. Tiêu biểu là ca khúc “Cùng nhau đi hồng binh” của Đinh Nhu xuất hiện sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Đặc biệt là “Tiến quân ca” của Văn Cao viết năm 1944. Với những ca từ hào hùng: “Đoàn quân Việt Nam đi/ Chung lòng cứu quốc…/ Tiến mau ra sa trường…”. Bài hát nhanh chóng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân, cổ vũ tinh thần đứng lên giành độc lập dân tộc. Một năm sau, bài hát ấy được chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời. Ca khúc “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi vang lên ngay trong thời điểm cả nước đứng lên làm cách mạng tháng Tám với lời ca thúc giục, khí thế ngút trời: “Mau mau mau/ Vai kề vai/ Không phân già trẻ trai hay gái/… Diệt phát xít/ Giết bầy chó đê hèn của chúng/ Tiến lên…/ Việt Nam muôn năm!”. Những bài ca đó không chỉ phản ánh khí thế cách mạng, mà còn truyền đi “thông điệp thời đại”, trực tiếp kêu gọi nhân dân đứng lên giành độc lập tự do. Âm nhạc lúc này không chỉ là nghệ thuật mà là “lời hiệu triệu”, là tiếng kèn xung trận của dân tộc.

            Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hàng loạt nhạc sĩ đã đi thực tế chiến trường để sáng tác. Họ vừa là nghệ sĩ, vừa là chiến sĩ. Những bài hát cổ vũ tinh thần chiến đấu như “Du kích ca” của Đỗ Nhuận; “Đoàn vệ quốc quân” của Phan Huỳnh Điểu; “Vì nhân dân quên mình” của Doãn Quang Khải; “Tiểu đoàn Ba lẻ bảy” của Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Bính… Có những bài hát vừa là nghệ thuật, vừa là bản tin chiến thắng từ chiến trường gửi về hậu phương như “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi; “Sông Lô” của Văn Cao; “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận; “Lên ngàn” của Hoàng Việt; “Qua miền Tây Bắc” của Nguyễn Thành... Đặc biệt là chùm ca khúc về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nổi bật với “Chiến thắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận; “Hò kéo pháo” của Hoàng Vân…  

              Âm nhạc khi ấy giống như một bản tin chiến thắng truyền đi khắp mọi miền đất nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng.

             2. Vai trò của âm nhạc “báo tiếng” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

            Nếu kháng chiến chống Pháp là thời kỳ hình thành và phát triển của âm nhạc cách mạng thì kháng chiến chống Mỹ là giai đoạn âm nhạc phát triển mạnh mẽ nhất với hàng nghìn ca khúc đi cùng năm tháng. Âm nhạc lúc này thực sự trở thành “báo tiếng” của chiến trường. Mỗi bài hát là một câu chuyện thời sự, phản ánh nhịp sống chiến đấu của dân tộc.

            Các ca khúc “Tình trong lá thiếp” của Phan Huỳnh Điểu; “Câu hò bên bến Hiền Lương” của Hoàng Hiệp và Đằng Giao; “Tình ca” của Hoàng Việt… phản ánh nỗi đau chia cắt hai miền Nam Bắc sau Hiệp định Geneve năm 1954. Những giai điệu thiết tha, da diết ấy đã lay động trái tim hàng triệu người Việt Nam về khát vọng thống nhất đất nước. Cũng nói về khát vọng cháy bỏng ấy, nhưng ca khúc “Bài ca hy vọng” của Văn Ký lại mang một sắc thái riêng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc: “Kìa ánh sáng chân trời mới đang rực chiếu bốn phương/ Gió mưa, buồn thương và mây mù sẽ tan”.

            Tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Song tương lai ấy chỉ có thể tới khi miền Bắc quyết tâm xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, miền Nam đứng lên làm cách mạng giải phóng quê hương. Hậu phương - tiền tuyến cùng dốc sức, đồng lòng quyết tâm giành thống nhất non sông. Hai mặt trận ấy được phản ảnh rất kịp thời, rõ nét trong âm nhạc thời kỳ này. Hàng trăm bài hát ca ngợi, động viên tinh thần xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, với những đổi thay rất mới mẻ được gửi trong các bài ca như “Ba cô gái đảm” của Văn Chung; “Đường cày đảm đang” của An Chung; “Trên cánh đồng đay” của Nguyễn Văn Tý; “Bài ca cô thợ hàn” và “Múc nước giếng thơi” của Trần Thụ… Tiếp đến thời kỳ giặc Mỹ đánh phá miền Bắc thì một loạt bài ca diễn tả không khí vừa lao động hăng say, vừa chiến đấu dũng cảm nhanh chóng ra đời. Điển hình như “Bài ca Hà Nội” của Vũ Thanh; “Nổi trống lên rừng núi ơi” của Hoàng Vân: “Trai anh hùng, gái đảm đang” của Đỗ Nhuận; “Đào công sự” của Nguyễn Đức Toàn v.v…

            Song phong phú nhất, phát triển rực rỡ nhất là mảng ca khúc về công cuộc chiến đấu giải phong miền Nam “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (Thơ chúc Tết 1968 của Hồ Chủ tịch). Rất nhiều bài ca ra đời trong thời kỳ đó đã là nguồn cổ vũ động viên tinh thần vô giá, thúc giục, nâng bước những đoàn quân từ hậu phương lớn miền Bắc, vượt Trường Sơn ra tiền tuyến lớn miền Nam. Bắt đầu từ “Giải phóng miền Nam” (Lưu Hữu Phước); “Bài hát giải phóng quân” (Lưu Nguyễn và Long Hưng); đến “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối); “Cô gái mở đường” (Xuân Giao); “Đường Trường Sơn xe anh qua” (Văn Dung); “Nổi lửa lên em” (Huy Du và Giang Lam); “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây” (Hoàng Hiệp phổ thơ Phạm Tiến Duật); “Bài ca Trường Sơn” (Trần Chung - Gia Dũng); “Bài ca bên cánh võng” (Nguyên Nhung); “Bão nổi lên rồi” của Trọng Bằng; “Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng” (Hoàng Vân); v.v và v.v… Mỗi bài ca là một bài “báo tiếng” có sức lan tỏa toàn xã hội, lay động tận tâm can những chiến sĩ trên đường đi diệt giặc cứu nước, tác dụng nhanh hơn, mạnh hơn, và cũng “ở lại” trong lòng người bền lâu hơn.

            Bên cạnh những bài ca, âm nhạc thời kỳ kháng chiến chống Mỹ còn phát triển cả nhạc không lời và âm nhạc bác học, với khá nhiều tác phẩm nổi tiếng. Có thể điểm qua như Symphonie (Giao hưởng) của Hoàng Việt, Vĩnh Cát…; Opera, Operette (Nhạc kịch và nhạc kịch nhỏ) của Đỗ Nhuận, Nhật Lai…; tác phẩm viết cho violin của Đàm Linh (Bài ca chim ưng), của Huy Du (Miền Nam quê hương ta ơi); viết cho Violin Cello của Nguyễn Văn Thương (Nhớ về đất mẹ); cho đàn bầu của Huy Thục (Vì miền Nam); cho đàn nguyệt của Xuân Khải (Chung một niềm tin)…  

            Đỉnh điểm là khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước tháng Tư năm 1975, những ca khúc tràn đầy khí thế chiến thắng, náo nức niềm vui “Như có Bác trong ngày đại thắng” của Phạm Tuyên; “Đất nước trọn niềm vui” của Hoàng Hà; “Bài ca thống nhất” của Võ Văn Di; “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” của Cao Việt Bách; “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” của Xuân Hồng… Nếu một bài báo, bài thơ, câu chuyện, bộ phim hay… của thời điểm lịch sử này được truyền hình, in báo, nó chỉ đến với người nghe, người đọc (thính giả, khán giả) trong một thời gian nhất định, gây ấn tượng với số lượng có hạn. Còn những bài ca - “báo tiếng” nói trên thì vọng vang, lan tỏa khắp mọi miền, vang ra ngoài biên giới, đến mọi tầng lớp nhân dân, kể cả kiều bào xa Tổ quốc.

            3. Vai trò của âm nhạc “báo tiếng” trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong thời đại công nghệ số

            Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình nhưng vẫn đối diện nhiều khó khăn: hậu quả chiến tranh, bao vây cấm vận, kẻ thù rình rập… Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được phản ảnh rõ trong âm nhạc với những bài ca như “Mùa xuân trên những giếng dầu” (Phạm Minh Tuấn); “Tình yêu của đất và nước” (Hoàng Vân); “Đường tàu mùa xuân” (Phan Lạc Hoa); “Biển hát chiều nay” (Hồng Đăng); “Tình ca mùa xuân” (Trần Hoàn); “Nơi đảo xa” (Thế Song); “Tổ quốc gọi tên mình” (Đinh Trung Cẩn - Nguyễn Phan Quế Mai)… tiếp tục giữ vai trò thông tin, định hướng tư tưởng, khơi dậy tinh thần lao động dựng xây và bảo vệ đất nước.

            Trong thời kỳ đổi mới, âm nhạc góp phần ca ngợi gương người tốt việc tốt, dám nghĩ dám làm, tiếp tục là tiếng nói mạnh mẽ về chủ quyền biển đảo và tinh thần dân tộc. Thông qua âm nhạc, người dân cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu đất nước, trách nhiệm công dân và tinh thần đoàn kết dân tộc.

            Ngày nay, trong thời đại công nghệ số và truyền thông đa nền tảng, âm nhạc tiếp tục phát huy vai trò của một loại hình “báo tiếng” hiện đại. Nếu trước đây âm nhạc lan tỏa qua loa phát thanh hay sân khấu lưu động thì hôm nay, âm nhạc được truyền tải qua internet, mạng xã hội, nền tảng số và các chương trình truyền hình. Chỉ trong vài giờ, một ca khúc có thể lan tỏa đến hàng triệu người. Nhiều ca khúc mới đã tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tinh thần khát khao cống hiến. Các chương trình nghệ thuật lớn nhân dịp lễ kỷ niệm quốc gia, SEA Games hay các sự kiện chính trị - văn hóa đều cho thấy sức mạnh kết nối cộng đồng của âm nhạc là vô cùng to lớn, vô cùng quan trọng.

            Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế, âm nhạc Việt Nam không chỉ phản ánh đời sống trong nước mà còn góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Những ca khúc, tác phẩm âm nhạc mang tinh thần tích cực, khát vọng vươn lên và niềm tự hào dân tộc đang góp phần xây dựng “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam.

             4. Kết luận

            Suốt hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam luôn giữ vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Trong dòng chảy ấy, âm nhạc dưới hình thức “báo tiếng” đã trở thành một phương tiện truyền thông đặc biệt, giàu sức lan tỏa và đầy cảm xúc. Từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân tộc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, âm nhạc luôn là tiếng nói của thời đại, phản ánh hơi thở cuộc sống và khơi dậy sức mạnh tinh thần của nhân dân Việt Nam. Âm nhạc cách mạng không chỉ là di sản nghệ thuật mà còn là những “trang sử bằng âm thanh” của dân tộc. Mỗi giai điệu, mỗi lời ca đều chứa đựng ký ức lịch sử, lòng yêu nước và khát vọng hòa bình, phát triển.

            Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, âm nhạc tiếp tục phát huy vai trò “báo tiếng” hiện đại, tiếp tục lan tỏa giá trị nhân văn, khơi dậy khát vọng cống hiến và góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam giàu mạnh, văn minh, tự tin hội nhập với thế giới và bè bạn năm châu.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   K.D


 

Bài viết khác