PHẠM THỊ DUYÊN
Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình
Mỗi dân tộc đều sở hữu những giá trị di sản để tạo nên bản sắc văn hóa riêng. Di sản vật thể được lưu giữ trong đền đài, di tích, núi đá, thư tịch…, di sản phi vật thể hiện diện trong trong đời sống tinh thần xã hội, trong kho tàng văn hóa được tích lũy, trao truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Trong di sản ấy, còn có một loại di sản đặc biệt được tạo nên từ chữ nghĩa. Đó là báo chí. Báo chí thực hiện chức năng thông tin, phản ánh hiện thực đời sống, đồng thời tham gia lưu giữ dấu ấn lịch sử - xã hội, góp phần hình thành và truyền nối các giá trị văn hóa của dân tộc. Mỗi tờ báo là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử nhất định. Khi mới xuất bản, một bài báo chủ yếu đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự phục vụ đời sống hằng ngày. Nhưng cùng với thời gian, những trang báo ấy lại trở thành tư liệu quý giúp người đọc hôm nay hiểu thêm về đời sống xã hội, đời sống văn hóa và tâm thế của con người trong quá khứ. Khi nhìn lại một giai đoạn lịch sử, báo chí đã trở thành một phần di sản của dân tộc.
101 năm trước, ngày 21/6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Thanh Niên, mở đầu cho sự hình thành của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam. Từ những tờ báo hoạt động bí mật trong hoàn cảnh nhiều khó khăn đến hệ thống báo chí hiện đại ngày nay, Báo chí Cách mạng Việt Nam luôn gắn với các chặng đường phát triển của đất nước và đời sống nhân dân.
Trong lịch sử hơn một thế kỷ hình thành và phát triển của nền báo chí cách mạng, báo chí văn nghệ luôn giữ một vị trí đặc biệt, gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân. Bên cạnh chức năng thông tin, phản ánh hiện thực xã hội, các ấn phẩm văn nghệ còn thực hiện việc bảo tồn các di sản văn hóa, văn học nghệ thuật; bồi đắp, lan tỏa giá trị Chân - Thiện - Mỹ; lưu giữ nhiều tư liệu về con người, phong tục, tập quán, cảnh quan và những biến đổi của đời sống văn hóa. Vì vậy, khi lý tưởng cách mạng thấm sâu vào sáng tạo nghệ thuật, báo chí văn nghệ không đi bên lề thông tấn thời sự, càng không phải là nơi giải trí thông thường mà bản chất cốt lõi của báo chí văn nghệ là có sự gắn kết tự nhiên giữa thế giới quan cách mạng và quy luật của cái đẹp.
Hay nói cách khác, báo chí văn nghệ chính là một bộ phận quan trọng của di sản báo chí cách mạng Việt Nam. Tính báo chí giúp các tạp chí văn nghệ bám sát đời sống, phản ánh những chuyển động của xã hội, tham gia vào các nhiệm vụ chính trị và văn hóa của đất nước. Tính văn học nghệ thuật giúp những trang báo vượt lên khỏi giới hạn của thông tin thuần túy để chạm tới chiều sâu nhân văn, khám phá thế giới tinh thần của con người và lưu giữ những giá trị bền vững, hun đúc nên bản sắc văn hóa của một dân tộc. Chính sự kết hợp ấy đã tạo nên vị trí riêng của báo chí văn nghệ trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Thời gian đã minh chứng, từ các tờ báo văn nghệ thời kỳ kháng chiến đến hệ thống tạp chí văn nghệ trung ương và địa phương hiện nay, nhiều giá trị văn hóa văn nghệ và dấu ấn của từng giai đoạn lịch sử đã được lưu giữ trên các trang tạp chí. Nhìn lại lịch sử, báo chí văn nghệ chính là mặt trận văn hóa được định hình từ tinh thần của bản Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943). Di sản lớn nhất mà dòng báo chí văn nghệ để lại sau hơn một thế kỷ không phải chỉ là những trang tư liệu cũ mà chính là bài học về cách thức đưa nghệ thuật đồng hành cùng lịch sử dân tộc.
Di sản rõ nét nhất của báo chí văn nghệ giai đoạn 1945 - 1975 là khả năng cảm hóa, tập hợp giới trí thức và cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân. Báo chí văn nghệ thời kỳ này đã làm thay đổi căn bản tư duy của người cầm bút: đưa văn chương hòa vào đời sống của công binh, dân công và người chiến sĩ nơi chiến trường. Với phương châm đồng hành cùng dân tộc, cùng đất nước báo chí văn nghệ đã bước vào cuộc kháng chiến với tư thế những người chiến sỹ. Ví dụ như Tạp chí Văn nghệ tiền thân của tuần báo Văn nghệ ra đời giữa chiến khu Việt Bắc năm 1948 là một cột mốc lịch sử định hình nền văn nghệ mới: Dân tộc – Khoa học – Đại chúng. Trên mặt báo công bố các bài viết định hướng tư tưởng của các nhà lãnh đạo cách mạng như bài “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” của Trường Chinh đã giúp nhiều trí thức, nghệ sĩ tự tin từ bỏ cái tôi cá nhân để gắn bó với sự nghiệp chung. Những tác phẩm thơ Tây Tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu in trên báo chí chiến khu đã trở thành bức tượng đài bằng ngôn từ về người lính Cụ Hồ. Sau này trong những năm tháng chống Mỹ khốc liệt có thêm tạp chí Văn nghệ Quân đội ở miền Bắc và báo Văn nghệ Giải phóng ở miền Nam. Không dừng lại ở việc đóng vai trò tập hợp những tuyển tập tác phẩm thuần túy, báo chí văn nghệ đã tạo ra các diễn đàn tư tưởng lớn, nơi những vấn đề cốt lõi của nền văn hóa mới được bàn thảo và khẳng định. Chính vì thế mà các tác phẩm kinh điển như Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành hay những vần thơ bùng nổ của Phạm Tiến Duật như Tiểu đội xe không kính, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm… được phát hành ngay trong tầm bom đạn để đến với người đọc. Báo chí văn nghệ giai đoạn này đã thành công trong việc "tiếng hát át tiếng bom", chứng minh rằng trong những khúc quanh của lịch sử, trang báo văn nghệ cũng là một trận địa bảo vệ phẩm giá con người. Có thể khẳng định rằng, Báo chí văn nghệ cách mạng giai đoạn này đã để lại một di sản con người vô giá: tư cách và bản lĩnh của người nghệ sĩ - chiến sĩ. Đó là một thế hệ không có khoảng cách giữa trang viết và đời sống thực tế. Chân dung của Nam Cao ngã xuống trên đường đi công tác tại vùng địch hậu Ninh Bình vào năm 1951, Nguyễn Thi hòa mình vào lòng đất mẹ trong chiến dịch Mậu Thân 1968 khi tay vẫn ghì chặt cây bút và khẩu súng, hay trên điểm cao Lao Páo Chải nơi biên cương Tổ quốc Bùi Nguyên Khiết đã anh dũng hy sinh trong lúc vừa viết báo vừa thực hiện trách nhiệm của người chiến sĩ tại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Những dòng nhật ký, ký sự, phóng sự của họ đăng tải trên các trang báo văn nghệ cho thấy một nguyên lý sáng tạo nghiêm túc: Văn chương phải được trải nghiệm, thậm chí được bảo chứng bằng chính sự dấn thân của người viết. Ở phương diện hình thức, báo chí văn nghệ chính là mảnh đất màu mỡ làm giàu cho tiếng Việt. Các thể loại như ký sự, phóng sự văn học, tùy bút hay chân dung văn học được rèn dũa, thử nghiệm liên tục trên mặt báo đã giúp ngôn ngữ báo chí cách mạng thoát khỏi sự khô khan, công thức, hướng tới ngôn ngữ chính luận nghệ thuật vừa chuẩn xác, khúc chiết, vừa giàu nhạc điệu và biểu cảm. Những trang viết của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Minh Châu, Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Cao trên các tạp chí chuyên ngành đã nâng tầm ngôn ngữ báo chí lên độ tinh tế, uyển chuyển, giúp thông tin có sức lay động sâu sắc và bền bỉ hơn.
Sau ngày đất nước thống nhất, báo chí văn nghệ tiếp tục phát huy vai trò là diễn đàn sáng tạo, nơi phản ánh công cuộc xây dựng đất nước, đổi mới tư duy văn hóa và mở rộng không gian sáng tạo nghệ thuật. Đặc biệt từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, hệ thống báo chí văn nghệ ở trung ương và địa phương ngày càng được củng cố và phát triển.
Từ các tờ báo, tạp chí lớn như Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Văn nghệ Công an, Thơ, Mỹ thuật, Sân khấu, Nhiếp ảnh... đến 64 tờ tạp chí văn nghệ địa phương trải dài từ Bắc vào Nam như Hà Giang, Tân Trào, Người Hà Nội, Văn nghệ Ninh Bình, Văn nhân, Sông Châu, Cửa Việt, Xứ Thanh, Sông Hương, Non Nước, Langbiang, Bạc Liêu, Cà Mau… đã hình thành một mạng lưới rộng lớn, góp phần tạo nên diện mạo phong phú của đời sống văn hóa nghệ thuật nước nhà.
Lịch sử báo chí văn nghệ địa phương, xét cho cùng, cũng là lịch sử của đời sống văn hóa từng vùng đất. Mỗi tờ báo, mỗi tạp chí văn nghệ ra đời đều gắn với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh nhu cầu sáng tạo, nhu cầu công bố tác phẩm và nhu cầu đối thoại văn hóa của đội ngũ văn nghệ sĩ trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Cùng với khí thế xây dựng cuộc sống mới, đời sống văn học nghệ thuật ở nhiều địa phương có bước phát triển mới. Năm 1975, ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Nam Ninh. Mùa thu năm 1977, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh được thành lập và cùng giai đoạn này, tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh – cơ quan ngôn luận của Hội cũng ra đời để công bố các tác phẩm của các văn nghệ sĩ trong tỉnh. Tổng biên tập đầu tiên của tạp chí là nhà văn Chu Văn. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn sau chiến tranh, phương tiện làm báo còn thiếu thốn, đời sống còn nhiều vất vả, nhưng khát vọng sáng tạo của văn nghệ sĩ lại vô cùng mạnh mẽ. Gần hai thập niên cuối thế kỷ XX (1977-1991), Tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh đã trở thành nơi hội tụ trao đổi học thuật của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa trong tỉnh; công bố các tác phẩm mới. Tạp chí đã góp phần quan trọng kết nối những sắc thái riêng biệt của 3 vùng văn hóa Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam chung về cội nguồn văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
Trong bối cảnh khi tỉnh Hà Nam Ninh tách ra thành các tỉnh nhỏ theo địa giới hành chính: Năm 1991, chia thành hai tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình; đến năm 1996, tỉnh Nam Hà tiếp tục được chia thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam. Hội Văn học nghệ thuật Ninh Bình được thành lập mới vào năm 1992, Hà Nam vào năm 1997. Theo đó, hệ thống các tạp chí văn nghệ địa phương lần lượt được hình thành và phát triển trên nền tảng kế thừa di sản của Văn nghệ Hà Nam Ninh. Nếu ví Văn nghệ Hà Nam Ninh là dòng sông mẹ, thì sau chia tách, từ dòng sông ấy đã tỏa ra những nhánh sông mang sắc thái văn hoá riêng của từng vùng đất. Tại Ninh Bình, quý 1/1993, Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình ra số đầu tiên, trở thành cơ quan ngôn luận của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Ninh Bình. Tại Nam Định, Tạp chí Văn nhân ra đời cuối năm 1996. Tại Hà Nam, tháng 1/1997, Tạp chí Sông Châu chính thức xuất bản số đầu tiên. Mỗi tạp chí lựa chọn cho mình một tên gọi mang biểu tượng văn hóa đặc trưng riêng có của từng vùng đất. Đến mùa hè năm 2025, Ba tỉnh được hợp nhất thành tỉnh Ninh Bình mới. Theo đó, tháng 8/2025, ba Hội Văn học nghệ thuật Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình như 3 ngọn núi Ngăm, núi Đọi, núi Thuý chụm về cùng một cội, 3 Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, Văn nhân, Sông Châu như 3 nhánh sông mây, sông trăng, sông lụa hợp lưu vào cùng một dòng sông di sản văn hoá Cố đô. Đây cũng là dịp nhận diện rõ hơn di sản của các báo chí văn nghệ nam châu thổ sông Hồng nửa thế kỷ qua, trong đó có Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, một diễn đàn văn học nghệ thuật được khơi dòng lịch sử từ Hà Nam Ninh, hơn ba thập niên qua vẫn đang đồng hành cùng vùng đất Cố đô Hoa Lư ngàn năm huyền thoại.
Nhìn ở góc độ báo chí, đây là quá trình phát triển mang tính tất yếu. Một tỉnh Ninh Bình sau sáp nhập, hợp nhất có thể không lớn về diện tích, nhưng luôn sở hữu một không gian văn hóa riêng cần được nhận diện, nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá. Chính tạp chí văn nghệ sẽ tích cực tham gia đảm nhận vai trò này. Dẫu địa giới hành chính có đổi thay, nhưng mạch nguồn văn hóa của vùng đất Hà Nam Ninh xưa vẫn âm thầm thắp sáng từng trang viết của các thế hệ văn nghệ sĩ trong hành trình gìn giữ di sản quê hương. Trên hành trình ấy, Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình tiếp tục là một trong những nhịp cầu bền bỉ nối liền di sản với đời sống hiện thực và với tương lai, để những lớp trầm tích văn hóa của vùng đất nam đồng bằng Bắc bộ tiếp tục được đánh thức trong đời sống đương đại và trao truyền cho các thế hệ mai sau./.
P.T.D