T.S NGUYỄN VĂN THẮNG
Giảng viên cao cấp
Nguyên Vụ trưởng Vụ Các trường chính trị
Dẫn nhập
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến việc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có việc chống lại những quan điểm sai trái, thù địch về văn hoá, văn nghệ. Mỗi giai đoạn cách mạng, từ yêu cầu của lý luận và thực tiễn, Đảng đều có những sự chỉ đạo sâu sát về nhiệm vụ này. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Bộ Chính trị xác định đây là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược để bảo vệ vững chắc chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại sự suy thoái về tưởng chính trị và các luận điệu sai trái, thù địch, bảo đảm sự ổn định tư tưởng chính trị, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Văn nghệ sĩ tham gia sự kiện A80 Ảnh: Sưu tầm
Nội dung
Từ những năm 1930, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hóa vô sản, đồng thời phải kiên quyết chống các tư tưởng, luận điểm sai trái, “văn hóa” nô dịch. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng xác định công tác tư tưởng - văn hóa phải trở thành một thứ vũ khí sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, thức tỉnh quần chúng... Nghị quyết Hội nghị Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương và đại diện các tổ chức Đảng ở trong nước (1934) đặt ra nhiệm vụ “phê phán khuynh hướng cơ hội trong Đảng, vạch trần bọn quốc gia cải lương, bọn tờ-rốt-kít, bọn phát xít"([i]), phê bình thứ văn hóa phi vô sản, phi nhân tính... Nghị quyết chính trị của đại biểu Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương (1935) đặt vấn đề phải đấu tranh cho sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho sự thống nhất về lý luận trong Đảng. Từ 1932 đến 1935, những người cộng sản đã sử dụng báo chí công khai để tiến hành đấu tranh chống lại các quan điểm chính trị, triết học, văn học, nghệ thuật tư sản, nô dịch, tiêu biểu là các cuộc tranh luận “Duy vật hay duy tâm”, “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” in trên nhiều tờ báo lúc bây giờ như: Phụ nữ thời đàm, Đời mới, Ánh sáng... Năm 1933, trên báo Đông phương số 872 (12/8) và số 873, (19/8), Hải Triều - một nhà lý luận xuất sắc của Đảng, sau khi phê phán thứ văn hóa, văn nghệ nghệ “lông bông”, đã có ý kiến xác đáng: “Văn học là cái biểu hiện của nhân sinh, không biểu hiện được nhân sinh thì không thành ra văn học được. Vì thế nên văn học phải bị nền kinh tế của xã hội chi phối một cách trực tiếp và sâu sắc... Văn học là một cái sản vật của xã hội, cho nên cũng phải tùy theo cái cơ bản của xã hội mà biến đổi, mà mất còn...”. Trên Tiểu thuyết thứ bẩy số 38 (16/2/1935), Thiếu Sơn có bài “Hai cái quan niệm về văn học” cho rằng “văn học nước nào cũng đều lây nghệ thuật làm gốc”. Xuất phát từ quan điểm mác xít, trong bài “Nghệ thuật với nhân sinh” đăng trên báo Trung Kỳ số 1 (9/10/1935) và số 4 (6/11/1935), Hải Triều đã phản bác các quan điểm duy tâm: “Nghệ thuật là vì nhân sinh chứ không bao giờ có cái nghệ thuật vì nghệ thuật... Các bạn đã thấy rõ ràng từ cái nghệ thuật vẽ chạm, ca hát, nhảy múa đến chữ nghĩa, văn chương... đều lấy gốc tích trong hoàn cảnh sinh hoạt vật chất của người ta. Mà cái cứu cánh của nó cũng vì sự sinh hoạt của người ta mà có... Một công trình văn nghệ hay mỹ thuật càng diễn đạt được rõ ràng cái tính cách xã hội thì càng có giá trị. Nói một cách khác, nếu một tác phẩm mà có thể biểu hiện được cái tình cảm tư tưởng phổ biến của số đông người trong một thời đại thì cái công trình nghệ thuật ấy sẽ được hoan nghênh”. Những năm 1936 - 1939, cuộc đấu tranh chống lại quan điểm văn hóa tiêu cực tư sản vẫn rất quyết liệt. Vấn đề “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” tiếp tục được đặt ra. Các nhà văn hóa tư sản, tiểu tư sản ôm khư khư lý luận “văn chương muôn đời”, “văn chương là văn chương”, thì Hải Triều, Hồ Xanh, Trần Đình Long... nhấn mạnh vào tính chất giai cấp của văn hóa, văn nghệ, vai trò của các nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ chân chính đối với xã hội. Trong bài “Văn học và chủ nghĩa duy vật” đăng liền 3 số trên báo Sông Hương tục bản (số 8, 9, 10/ 1937), Hải Triều đã chỉ rõ sự khác nhau ấy: “Phái văn sĩ duy tâm cho rằng văn học hay nghệ thuật là những sản vật thiêng liêng thần bí. Trái lại văn sĩ duy vật nhận thấy rõ văn học nghệ thuật chỉ là những sản vật trong xã hội và chịu tất cả những ảnh hưởng của cuộc đấu tranh giai cấp”. Tiến thêm một bước nữa, cũng trong bài viết này, Hải Triều đã đề cập đến bản chất của văn hóa, văn nghệ cách mạng là chân thật, có tính tư tưởng và chiến đấu cao, giữ vai trò “bà đỡ” cho một xã hội mới tốt đẹp hơn, nhân văn hơn: “Nền văn học cách mệnh là cốt nhìn vào sự thật, sự thật trong xã hội hiện đại, họ phân tích, họ chỉ vạch tất cả những sự xấu xa mục nát và sự bất bình của quần chúng cùng sự đấu tranh của dân chúng để đánh đổ cái chế độ ác liệt ấy đi vào gây dựng một cái xã hội khác mà họ hằng mong mỏi cho “bình đẳng” hơn, cho “tự do” hơn, cho “nhân đạo” hơn. “Cái hình thức của văn chương cách mệnh cốt ở sự tả thực là vì thế”. Lần đầu tiên thuật ngữ “văn tả thực xã hội” được nhắc đến, thực chất Hải Triều muốn đề cập phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đặt ra mục tiêu cấp thiết là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc. Nghị quyết Trung ương VI (1939), yêu cầu “Tất cả các lực lượng tuyên truyền phải xoay vào cái tinh thần phản đế và nhằm đến cái mục đích đánh đổ đế quốc, đòi hỏi giải phóng dân tộc”([ii]). Nghị quyết nhấn mạnh công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng phải chú trọng yếu tố “xây”, khơi dậy trong nhân dân lòng ái quốc chân chính, bởi vì lòng ái quốc trong các tầng lớp nhân dân càng dâng cao thì phong trào đấu tranh mới càng phát triển mạnh mẽ. Trên thực tế, để duy trì và củng cố nền thống trị của chúng, thực dân Pháp, phát xít Nhật đã thi hành rất nhiều chính sách phản động. Thực dân Pháp tung ra khẩu hiệu “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc”, “Pháp - Việt phục hưng”. Toàn quyền Đờ cu còn thi hành một số cải cách lừa bịp hướng vào giới quan lại, công chức, trí thức, học sinh, sinh viên, thậm chí tay chân của viên toàn quyền này còn đứng ra tổ chức một số hoạt động thể thao rầm rộ để lôi kéo thanh niên, học sinh theo chúng. Trong khi đó, phát xít Nhật ra sức tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á”, mở trường dạy tiếng Nhật, tổ chức triển lãm, chiếu phim Nhật, trao đổi các đoàn văn hóa, giáo dục, y tế... nhằm gây ảnh hưởng của văn hóa Nhật ở Việt Nam, thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng. Trong bối cảnh như vậy, Nghị quyết Trung ương VI (1939) chỉ rõ: “Không đánh tan sức tuyên truyền phản động của bọn tay sai đế quốc Pháp, bọn Pháp - Việt đề huề, bọn quốc gia cải lương, bọn thân Nhật, không gỡ bỏ mặt nạ bọn tờ - rốt - kít và bọn khoác áo thầy tu, đội lốt tôn giáo làm đầy tớ đế quốc trong dân chúng thì phong trào phản đế sẽ không phát triển được”([iii]). Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (1941) khẳng định lại: “Chống lại sự phản tuyên truyền của bọn Pháp - Nhật. Chống lại sự nhồi sọ của tên phản quốc Pêtanh, lấy những khẩu hiệu: “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc” mà tuyên truyền vạch mặt nó. Lấy khẩu hiệu khỏe để phụng sự đoàn kết của tên phản động Đuy-cơ-roa đối với thanh niên ta mà hiệu triệu thanh niên đoàn kết để phụng sự Tổ quốc Việt Nam, để đánh đuổi Pháp - Nhật”([iv]).
Chủ trương của Đảng trong việc chống lại những quan điểm sai trái về văn hoá, văn nghệ được thể hiện rõ nét trong Đề cương về văn hoá Việt Nam (1943). Sau khi nêu lên ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam, Đề cương nhấn mạnh: “Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm... Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng văn hóa quá trớn của bọn tờ - rốt - kít”([v]).
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai (1948), Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ rõ sứ mệnh của văn hoá, văn nghệ mác xít: “Văn hoá mác xít nói chung và văn học, nghệ thuật nói riêng cốt chuộng sự thật. Chúng bóc trần những căn bệnh của xã hội cũ. Chúng gỡ mặt nạ bọn thống trị áp bức, bóc lột nhân dân trong nước và thường đi hà hiếp nước ngoài. Chúng để xã hội cũ lên bàn mổ xẻ. Chúng vạch rõ những mưu mô, thủ đoạn của giai cấp thống trị, dù khôn ngoan, quỷ quyệt đến mấy cũng không duy trì mãi được chế độ đã thối nát”([vi]). Vì vậy, văn hoá, văn nghệ cách mạng phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật mà phê phán “văn hoá” ngu dân, “văn hoá” phản động của các giai cấp bóc lột. Đồng chí Trường Chinh cũng phê phán hiện tượng “một số văn nghệ sĩ vô ý thức” học đòi “văn hoá” đồi truỵ, cảnh báo họ sẽ “chui vào cái sừng trâu của nghệ thuật” với tiền đồ mờ mịt; phê phán quan điểm sai lạc, mơ hồ của những người theo trường phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Đồng chí Trường Chinh nêu lên quan điểm thể hiện lập trường mác xít rất rõ ràng: “Không thể nói “văn hoá hoàn toàn trung lâp”, “tự do tuyệt đối”, “đứng trên chính trị”, giữ “thái độ bàng quan”, “trung lập để được tuyệt đối thanh cao và tự do hoàn toàn”, đó là một luận điệu che đậy tính hèn nhát hoặc phản động”([vii]). Trong phê bình, không chỉ phê bình khuynh hướng sai lầm về tư tưởng, học thuật, nghệ thuật của ta, phải chú trọng phê bình, đả kích tư tưởng, văn học, nghệ thuật phản động của địch; phải gắn cuộc đấu tranh về văn hoá và tư tưởng với cuộc đấu tranh về chính trị, quân sự và kinh tế. Đồng chí Trường Chinh liên hệ: “Phê bình tư tưởng phản động và văn học, nghệ thuật đồi truỵ của thực dân Pháp còn là một cách cải tạo tư tưởng của giới trí thức, văn nghệ sĩ nước ta”([viii]). Theo đồng chí Trường Chinh, muốn phục vụ quyền lợi dân tộc một cách đầy đủ nhất, trung thành nhất, các chiến sĩ văn hoá, văn nghệ nước nhà phải giữ vững lập trường của những chiến sĩ văn hoá mác xít, tức là lập trường của giai cấp công nhân và của dân tộc, phải có lòng yêu nước kết hợp với lập trường của những chiến sĩ văn hoá tiến bộ thế giới. Tổng Bí thư Trường Chinh yêu cầu những nhà văn hoá, văn nghệ phải nắm vững học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác, bởi học thuyết Mác sẽ mở mang nhận thức cho con người, “hướng dẫn cả loài người cần lao và tiến bộ phấn đấu cho một ngày mai tươi sáng hơn”([ix]).
Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (1951) đặt ra yêu cầu: “Chống lại văn hoá đế quốc, nô dịch, lừa bịp và ngu dân; phát triển truyền thống văn hoá tốt của dân tộc…Chống văn hoá phong kiến lạc hậu…”([x]). Đảng đòi hỏi những nhà hoạt động văn hoá muốn chống những quan điểm sai trái, đồng hành cùng nhân dân phát triển văn hoá thì cần có lập trường lấy nhân dân và trước hết là công, nông, binh với chủ nghĩa quốc tế làm gốc; về thái độ, lấy chủ nghĩa ái quốc chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế làm gốc; về tư tưởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm gốc.
Sau Hiệp định Giơ ne vơ, những năm 1956 - 1957, chủ nghĩa xét lại tấn công công khai vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, một số người có tư tưởng xét lại hoặc ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại đã lôi kéo một số trí thức, nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ sĩ tham gia hoặc không tham gia nhưng viết bài cho nhóm Nhân văn - Giai phẩm. Một số người quá khích đòi trao sự lãnh đạo văn nghệ sĩ cho văn nghệ sĩ, viết chính luận, thơ, văn in trên hai ấn phẩm nêu trên, biểu hiện tư tưởng lập lờ, hai mặt, có bài có biểu hiện xuyên tạc chủ trương của Đảng về văn hoá, văn nghệ. Trong Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957), Đảng chỉ rõ: Sự lãnh đạo của Đảng về mặt văn nghệ đã có những thiếu sót. Bên cạnh những cố gắng, cơ quan trực tiếp phụ trách văn nghệ đã có biểu hiện coi nhẹ việc lãnh đạo tư tưởng, cần phải kiên quyết sửa chữa. Còn đối với các văn nghệ sĩ, Đảng ta chỉ rõ còn còn có người lập trường cách mạng chưa dứt khoát, rõ ràng, sự hiểu biết về đời sống nhân dân chưa sâu sắc, còn phạm chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa sơ lược trong sáng tác.
Ở tầm cao tư tưởng, trí tuệ, Đảng đã nghiêm khắc và cũng rất khoan dung, chỉ rõ những lệch lạc của nhóm Nhân văn - Giai phẩm, không mặc cảm, mở rộng đường cho những người ít nhiều có biểu hiện lầm đường, lạc lối quay về với cách mạng. Đại đa số anh chị em văn nghệ sĩ từng ít nhiều tham gia Nhân văn - Giai phẩm đã nhận ra sự lầm đường, lạc lối của mình. Hầu hết văn nghệ sĩ liên quan đến Nhân văn - Giai phẩm lại tiếp tục có những sáng tác được công chúng đón nhận, đánh giá cao. Nhiều trí thức, văn nghệ sĩ từng viết bài cho Nhân văn - Giai phẩm… sau này được trao tặng hoặc truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Cuộc đấu tranh với những lệch lạc của Nhân văn - Giai phẩm để lại những bài học quý về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khiên quyết, khôn khéo nhưng khoan dung, độ lượng và đã thành công.
Ngày 1/12/1962, phát biểu tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng trong thời kỳ quá độ, bên cạnh những thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu như tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, đánh con, đập vợ…Người yêu cầu văn nghệ cần phê bình rất nghiêm khắc thói xấu đó, làm cho xã hội ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn; khen hay là chê phải đúng mức. Người nhấn mạnh rằng: Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng chân thật những người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu ta đời sau. Từ sứ mệnh vẻ vang đó của văn nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra nhiệm vụ của anh chị em văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, khiêm tốn; phải thật sự hoà mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp…
Sau ngày đất nước thống nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) chỉ rõ: Bước vào thời kỳ mới, bên cạnh thời cơ và những thuận lợi là cơ bản cũng còn nhiều vấn đề quan trọng cần được giải quyết, nhiều nhược điểm và khuyết điểm cần phải khắc phục. Ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân cũ và mới đã để lại những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng. Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, chế độ Mỹ - nguỵ đã tạo ra một thứ “văn hoá” nô dịch, lai căng, phản động, xô đẩy một bộ phận người dân, nhất là thanh thiếu niên ở các đô thị chạy theo lối sống hưởng thụ, vị kỷ hòng huỷ hoại những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc và nếp sống lành mạnh của nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng cũng đánh giá trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, bên cạnh những cố gắng tìm tòi sáng tạo cái mới, cái tiến bộ cần được trân trọng và khuyến khích, đáng tiếc có những hiện tượng lệch lạc, những khuynh hướng không lành mạnh nảy sinh. Trong khi đó, cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa có nơi bị buông lỏng, khiến cho những tàn dư văn hóa thực dân mới, những hủ tục mê tín dị đoan có chiều hướng trỗi dậy ở nhiều nơi và ảnh hưởng đến xã hội, nhất là trong thanh niên. Cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan làm công tác tư tưởng và văn hóa ở một số địa phương chưa thấy hết trách nhiệm của mình trong việc lãnh đạo, quản lý văn hóa.
Trong điều kiện khó khăn về kinh tế và phải giải quyết rất nhiều vấn đề liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền dân tộc, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ, tháo gỡ khó khăn để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê nin, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực sự ngay khi miền Nam hoàn toàn giải phóng và suốt nhiều năm sau này, một số thế lực phản động, bao gồm cả tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước cấu kết với nhau chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta một cách quyết liệt. Ngày 10/9/1982, Hoàng Cơ Minh (vốn là một viên tướng ngụy) lập ra tổ chức “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng”, gọi tắt là “Việt Tân”, tham vọng lật đổ chính quyền cách mạng ở ViệtNam. Vũ khí và hàng tấn truyền đơn kêu gọi biểu tình, gây rối chống chính quyền đã được chúng “chuyển lửa” về Việt Nam. Đã xuất hiện những luồng tư tưởng công khai cũng như giấu mặt xuyên tạc, chống phá công cuộc cải tạo và khôi phục kinh tế của đất nước. Chúng lợi dụng những khó khăn, thậm chí những sai lầm về quản lý kinh tế để lung lạc lòng tin của nhân dân, cho rằng chế độ mới không quan tâm đến nhân dân, đến đồng bào công giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số, vi phạm nhân quyền, bóp nghẹt dân chủ, thậm chí đòi xét lại cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta…hòng tập hợp một số phần tử bất mãn chống đối chính quyền. Đã có những tác phẩm văn học miêu tả hai mặt, đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến của chúng ta, tuyên truyền sai lệch đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng, chính sách của Nhà nước. Có những tác phẩm khai thác đời tư của một số anh hùng dân tộc, của một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thậm chí của cả lãnh tụ mà không có bất cứ kiểm chứng nào, không có chi tiết nào được sử sách ghi nhận nhằm “hạ bệ” uy tín của họ. Từ bên kia Thái Bình Dương có những kẻ trả lời phỏng vấn viện dẫn nhiều nhà khoa học có tên tuổi để tung hoả mù, để khẳng định điều họ nói là sự thật, nhưng thực chất là họ lừa gạt những người dao động, kém hiểu biết.
Ngày 15/7/1976, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 254 - NQ/TW về những công tác trước mắt ở miền Nam, đặt ra nhiệm vụ: “Nắm chắc trận địa tư tưởng và văn hoá, nhất là ở các thành phố, thị xã và các vùng địch chiếm lâu ngày trước đây… Quét sạch những sách báo, phim ảnh, bản nhạc, hoạ, các tác phẩm sân khấu… phản động hoặc khiêu dâm; trừng trị nghiêm khắc những kẻ cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về việc này; đồng thời tăng cường phát hành các sách báo và phổ biến các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị của ta”([xi]).
Khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới, có người cho rằng Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo chủ nghĩa tư bản, rêu rao Việt Nam đổi mới nửa vời, chỉ đổi mới về kinh tế mà không đổi mới về chính trị, thay đổi chế độ. Lợi dụng chủ trương của Đảng nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, một số trí thức, văn nghệ sĩ đã phủ nhận những thành tựu rực rỡ của văn học, nghệ thuật nước nhà trong ba mươi năm kháng chiến hào hùng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. Họ cho rằng đấy là thứ văn học “phải đạo”, minh hoạ theo chủ trương gò ép của Đảng, không phản ánh đúng sự thật nên không có giá trị. Họ cố tình bẻ cong ngòi bút, khoét sâu vào những gì chưa được như mong muốn, hòng làm cho xã hội hoang mang, dao động; vì mục đích cá nhân, hoặc vì sự xúi giục, thậm chí vì cả những đồng tiền không sạch của các thế lực chống phá đất nước từ bên ngoài. Đổi mới là một cuộc cách mạng, ở những năm đầu, có thể có những cái chưa thành công. Vì vậy, qua mỗi nhiệm kỳ đại hội, Đảng lại thẳng thắn, nghiêm túc tự phê bình, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phù hợp, sáng tạo để đưa đất nước tiếp tục phát triển với những thành tựu ngoạn mục, chưa từng có. Do đó, nếu không có lập trường kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị thì họ rất dễ có những cái nhìn u tối, thậm chí cố tình thổi phồng, bơm to để thu hút dư luận; họ tự tách mình ra khỏi bầu không khí phấn khởi, tự hào chung của dân tộc, tự coi mình là “người hùng”. Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ hiện tượng này: “Một bộ phận văn nghệ sĩ chưa tích chưa tích cực phấn đấu tu dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, nghệ thuật, chưa đi sâu vào thực tế, chưa đủ bản lĩnh vượt qua khó khăn, ràng buộc để sáng tác tốt hơn; một số người đã giảm sút ý chí chiến đấu, sống buông thả, chạy theo các khuynh hướng không lành mạnh trong hoạt động văn học, nghệ thuật”([xii]). Đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những phát ngôn, bài viết, những cuốn sách lệch lạc về nhận thức, bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhưng lại được một số thế lực bất mãn, thù địch tung hô.
Có những người vong ơn bội nghĩa, cộng tác với nhiều cơ quan báo chí ở nước ngoài để chống phá đất nước. Dương Thu Hương với các tiểu thuyết “Những thiên đường mù” (1987), “Quãng đời đánh mất” (1989)… và những bài trả lời phỏng vấn ở nước ngoài sặc mùi hằn học, xuyên tạc, chống phá đất nước. Một số người chĩa mũi dùi trực tiếp xúc phạm lãnh tụ của Đảng và nhân dân ta. Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Lê Hữu Mục phủ nhận tác giả “Nhật ký trong tù”, đưa ra những lý lẽ xúc xiểm để khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là tác giả của tập thơ này. Nhằm hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn phải kể tới Bùi Tín, Vũ Thư Hiên… Hồi ký “Đêm giữa ban ngày” (1997) của Vũ Thư Hiên lên án của chủ nghĩa cộng sản, bóp méo, xuyên tạc đầy ác ý về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vũ Thư Hiên dẫn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù” rồi suy diễn, gán cho Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tham vọng quyền lực cá nhân chứ không phải quên mình vì dân vì nước.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1994) chỉ rõ 4 nguy cơ, trong đó có nguy cơ “diễn biến hoà bình”. Đầu những năm 2000, nhóm thơ “Mở miệng” xuất hiện. Nhiều người cho rằng đó là thứ thơ rác rưởi, thơ nghĩa địa…Sự nhảm nhí, bế tắc được đội lốt bởi cái gọi là sự cách tân, bôi bẩn lịch sử, xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, chế giễu chế độ xã hội chủ nghĩa. Có người đã làm luận văn, không tiếc lời ca ngợi thứ thơ rác rưởi đó. Ngày 30/12/2002, Ban Bí thư khoá IX ban hành Thông báo Kết luận số 94-TB/TW về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá. Ngày 17/4/2009, Ban Bí thư khoá X đã ban hành Chỉ thị số 34 - CT/TW về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá. Chỉ thị nêu rõ: “Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và “xâm lăng văn hoá” nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hoá Việt Nam. “Tuy nhiên, vẫn còn không ít cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa nhận thức đúng tính chất nguy hiểm của âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, đặc biệt chưa nhận thức rõ tác hại của “tự diễn biến” trong nội bộ đang có xu hướng tăng lên trong xã hội, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp gây mất ổn định chính trị. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả”([xiii]). Ban Bí thư yêu cẩu: “Phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh chống các luận điệu phủ định, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lê nin, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần thu đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc”([xiv]).
Khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đang đến gần, các thế lực phản động, thù địch tìm đủ mọi cách đưa các tài liệu độc hại vào Việt Nam nhằm phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước. Ngày 27/7/2010, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hoá độc hại gây huỷ hoại đạo đức xã hội, nói rõ thực trạng: “Nhiều sản phẩm văn hoá độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên; làm huỷ hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đoạ; cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Môi trường đạo đức và văn hoá lành mạnh bị đe doạ nghiêm trọng…Tình trạng đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn, an ninh xã hội, dẫn tới khunh hướng tự diễn biến về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau”([xv]). Sau khi phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, Ban Bí thư yêu cầu: “Vận động các tần lớp nhân dân chấp hành đầy đủ, nghiêm túc pháp luật, các quy định về bài trừ các sản phẩm văn hoá độc hại. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, mặt trận, đoàn thể đấu tranh chống sản phẩm văn hoá độc hại, đồng bộ, toàn diện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm, nhất là ở khu vực đô thị, cửa khẩu, vùng biên giới…Ngành Giáo dục và Đoàn Thanh niên cần đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức, lối sống, thẩm mỹ, ứng xử văn hoá và kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, bằng nhiều biện pháp kiên quyết bài trừ các sản phẩm văn hoá độc hại xâm nhập vào nhà trường và thế hệ trẻ”([xvi]).
Sự xuất hiện tự phát của “Văn đoàn độc lập” vào đầu năm năm 2014 thực chất là công khai bộc lộ sự bất mãn núp dưới danh nghĩa “xã hội dân sự” để không thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng. Tuyên bố vận động của người đứng đầu nhóm tự phát này đã xuyên tạc, bóp méo vấn đề và đánh tráo khái niệm. Dù lu loa lên như vậy, nhưng số đông văn nghệ sĩ và công chúng đủ hiểu biết nhóm này tự dựng lên nhằm mục đích gì, nên cũng không thu hút thêm nhiều người đứng về phía họ.
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đảng nhận diện các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng hiện nay, chỉ rõ những nội dung và phương thức chống phá của chúng, đồng thời đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là định hướng quan trọng để Đảng, Nhà nước và các bộ phận trong hệ thống chính trị làm tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có các quan điểm sai trái, thù địch về văn hoá, văn nghệ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (2026) một lần nữa đặt ra yêu cầu: “Tăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự “xâm lăng” về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng”(xvii). Đại hội XIV của Đảng cũng khuyến khích vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa tham gia phát triển sự nghiệp văn hóa, trong đó có nhiệm vụ này. Vậy, yêu cầu đặt ra đối với văn nghệ sĩ là gì? Tại cuộc gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ ngày 30/12/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ thật sự là những chiến sĩ cách mạng kiên trung trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ có tư tưởng lành mạnh, lập trường đúng đắn, trung thành với lý tưởng của Đảng, gắn bó máu thịt với vận mệnh của dân tộc, với sự nghiệp đổi mới, với đời sống lao động sản xuất của nhân dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có ý thức sâu sắc về sứ mệnh, thiên chức nghệ thuật cao cả…; luôn trau dồi tư tưởng chính trị, quan điểm lập trường cách mạng, vốn sống, vốn hiểu biết; có khát vọng, hoài bão lớn về sự sáng tạo, dám đổi mới, sắc bén, mạnh mẽ, nhiệt huyết”(xviii). Như vậy, giờ đây văn nghệ sĩ phải là những chiến sĩ cách mạng kiên trung trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng, chứ không chỉ là những chiến sĩ văn hóa thông thường. Chiến sĩ cách mạng kiên trung đòi hỏi phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn…cũng phải cao hơn. Yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm cũng là những tiêu chí cơ bản nhất đối với văn nghệ sĩ của nền văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam hiện nay. Thấm nhuần một cách tự giác những tiêu chí đó, văn nghệ sĩ sẽ biết mình cần phải làm gì khi cầm bút, ngồi trước cây đàn, cầm cây cọ viết, vẽ cái gì, viết, vẽ cho ai, để làm gì? Các văn nghệ sĩ sẽ biết mình nên khai thác đề tài nào, về quá khứ hay hiện tại, sẽ phản ánh cuộc sống vào tác phẩm như thế nào, cổ vũ cái gì, lên án cái gì, hiệu quả xã hội của nó ra sao, chọn thủ pháp nghệ thuật nào để tái hiện cuộc sống một cách chân thực, sinh động như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra một cách rất cụ thể, thấu lý, đạt tình, mang tầm chiến lược, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Kết luận
Những thành tựu to lớn về phát triển văn hóa, văn nghệ trong hơn 95 năm qua đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, trong đó có chủ trương đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch về văn hóa, văn nghệ. Chủ trương của Đảng chống lại những quan điểm sai trái, thù địch về văn hóa, văn nghệ được đề cập ngay từ những năm đầu Đảng được thành lập, luôn kiên định và nhất quán, nhưng trong mỗi giai đoạn cách mạng, chủ trương đó lại có những nội dung riêng, nội dung mới xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn cách mạng. Chủ trương đó không chỉ phát huy mạnh mẽ vai trò, sứ mệnh của văn hóa, văn nghệ, mà còn định hướng, dẫn dắt văn hóa, văn nghệ phát triển, hài hòa giữa xây và chống, vừa bảo đảm tối đa tự do sáng tạo, vừa kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(i) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999, t.4, tr. 168-169. (ii) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr. 545-546.(iii) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr. 546-547. (iv) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 127. (v) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr.319. (vi) Trường Chinh: Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Nxb Sự thật, H, 1974, tr.18. (vii) Trường Chinh: Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Sđd, tr. 22-23. (viii) Trường Chinh: Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Sđd, tr. 98. (ix) Trường Chinh: Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Sđd, tr. 29. (x) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr.109. (xi) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 37, tr. 222-223. (xii) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 48, tr. 477. (xiii) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 68, tr. 492. (xiv) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 68, tr. 495. (xv) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 69, tr. 617-618. (xvi) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.69, tr. 620. (xvii) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2026, t. 1, tr. 100. (xviii) Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt với văn nghệ sĩ. Link: https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-voi-doi-ngu-van-nghe-si-102241230185930195.htm
(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)