T.S ĐINH VĂN VIỄN
1. Làng Cự Trữ, chùa Cự Trữ và bài Minh khánh do Bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn
Cự Trữ là làng cổ ven sông Ninh Cơ, hình thành sớm, gắn với quá trình khai phá bãi bồi. Đến thời Trần, cư dân nhiều nơi, nhất là ở vùng Nam Sách (Hải Dương) đã di cư về đây đông dần, lập làng và sinh sống.
Ban đầu cư dân địa phương gọi nơi vùng này là làng Đáy (do người dân nơi đây khi mới tụ cư thủa ban đầu làm nghề chài lưới, đóng đáy để bắt cá, nên gọi là làng Đáy). Sau đó đổi tên là làng Cự Trữ. Theo Từ điển Hán - Việt của Thiều Chửu, 巨 (Cự) nghĩa là to, lớn; 储 (Trữ) nghĩa là chứa, cất, lưu giữ. Tên gọi Cự Trữ hàm ý vùng đất tích tụ nhiều của cải, thể hiện niềm tin của cư dân vào phong thủy tốt, cuộc sống sung túc. Đến thế kỷ XIX, làng Cự Trữ với 4 giáp (Đoài, Trung Đoài, Đông, Trung Đông), là một trong bốn làng của xã Phương Để (gồm Cổ Chất, Cự Trữ, Nhự Nương, Phú Ninh), huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường. Thời Pháp thuộc, làng Cự Trữ thuộc xã Phương Để, tổng Phương Để, huyện Chân Ninh. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, trải qua nhiều lần thay đổi, từ năm 1978, Cự Trữ thuộc xã Phương Định. Và hiện nay thuộc xã Ninh Giang, tỉnh Ninh Bình. Từ thế kỷ XVII, Cự Trữ đã phát triển thành một làng lớn, giàu có. Không gian cư trú của làng được tổ chức dọc theo sông Phương Để (còn gọi là sông Đáy), với các trục đường chính ven sông và hệ thống đường dong tỏa nhánh theo kiểu xương cá.
Cự Trữ nổi tiếng là làng nghề với các nghề ươm tơ, dệt lụa, dệt vải, tạo nên sự sung túc cho dân làng. Câu “Giàu Phương Để, phong thế Trí An” (xã Phương Để nhiều nhà giàu có, còn Trí An nhiều điều sang trọng)([i]) là chủ yếu để ca ngợi sự phát triển phồn thịnh của xã Phương Để (mà trong đó có Cự Trữ). Cự Trữ còn là vùng đất có truyền thống hiếu học với nhiều người đỗ đạt (như họ Vũ, họ Bùi …). Làng xây Văn chỉ và dành riêng 10 mẫu ruộng công làm học điền. Cư dân Cự Trữ đã xây dựng đình Cự Trữ, đền Cự Trữ, phủ Mẫu, chùa Thanh Quang… Đặc biệt đình Cự Trữ được xây dựng từ sớm và nhiều lần trùng tu, song đến nay vẫn bảo lưu rõ nét dấu ấn kiến trúc thời Hậu Lê và Nguyễn. Tại đình Cự Trữ đã phát hiện chân đèn cổ bằng gốm sứ niên đại thời Mạc (năm 1590), được chế tác công phu với các hoa văn rồng, phượng, hoa thị, lá đề, chữ Hán “Phật” và họa tiết hình học. Năm 2013, chân đèn cùng bát hương phát hiện tại chùa Cổ Chất đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Chùa Cự Trữ được xây dựng từ sớm. Đến năm 1566, ông Bùi Bạt Tụy đã hưng công xây dựng chùa quy mô hơn, chính thức mang tên Thanh Quang tự. Các đợt trùng tu lớn diễn ra vào thời Hậu Lê, năm Tự Đức thứ 14 (1861), năm Bảo Đại thứ 15 (1940), năm 1951, năm 1989, 2006 và mở rộng khuôn viên năm 2007. Tổng thể kiến trúc chùa Thanh Quang được thiết kế theo hình chữ “Sơn” (山) với nhiều di vật quý giá. Cổng tam quan được làm bằng gỗ lim với nhiều mảng chạm khắc tinh xảo (sử dụng kỹ thuật chạm bong kênh) phong phú, mô tả cả đề tài linh thiêng (rồng, tiên nữ…) lẫn đời sống sinh hoạt của người dân (cảnh mẹ cho con bú, cho lợn ăn, người nông dân chăn trâu…). Tiền đường được xây cao theo kiểu tam sơn, chồng diêm hai tầng, lối cuốn vòm bằng gạch vữa. Thượng điện nối tiếp phía sau với hệ thống vì kèo, cột gỗ lim, mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Hậu Lê. Ngoài ra, trong khuôn viên quần thể chùa - đình - đền Cự Trữ còn có các công trình khác như Phủ Mẫu, nhà thờ Đức Ông, nhà thờ Tổ, nhà khách và gác chuông.
Tại chùa Cự Trữ còn giữ được ba thành bậc bằng đá và ba tượng sấu đá được tạc trên thành đá đó: Thành bậc thứ nhất: Dài 86cm, dầy từ 15cm - 18cm và tượng sấu đá với thân tượng dài 70cm, phần đầu tượng cao 28cm, phần đuôi cao 18cm; Thành bậc thứ hai: Dài 82cm, dầy 15cm - 18cm và tượng sấu đá với thân tượng dài 7,2cm, đầu tượng cao 29cm, đuôi cao 18cm. Hình tượng sấu trang trí trên thành bậc giống như ở thành bậc thứ nhất; Thành bậc thứ ba: Dài 110cm, dày 23cm, cạnh dưới cao 38cm, cạnh trên cao 33cm. Thân tượng dài 95cm, phần đầu cao 27cm, đuôi cao 15cm. Các nhà khoa học đã xác định các thành bậc và sấu đá này “có nhiều nét tương đồng với những nét hoa văn thế kỷ XVII được chạm khác trên gỗ ở toà Tam quan của chùa Cự Trữ. Hai tấm thành bậc 1 và 2 có niên đại muộn hơn vào khoảng thế kỷ XVIII. Niên đại này tương đồng với niên đại của chiếc khánh có khắc bài minh văn của Lê Quý Đôn hiện vẫn đang treo tại chùa Cự Trữ”([ii]).
Với những giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật tiêu biểu, chùa Thanh Quang đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1990. Chiếc khánh bằng đồng tại chùa Cự Trữ có kích thước 1,40m x 2,3m được đúc năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), có khắc bài minh do Bảng nhãn, Trạng nguyên Lê Quý Đôn soạn. Bài minh đó được phiên âm, dịch nghĩa bài minh này như sau([iii]):
Phiên âm: Thanh Quang tự đồng khánh kí dẫn tự
Nhất giáp thuận niên, bản thôn thủy chú thành đồng khánh, long kiệu nhất tòa cung.
Ký bản thôn Thứ chỉ, Tri huyện Bùi Viết Tuân đồng dịch kỳ Trùm thôn lương y phó Vũ Viết Mã, Trùm lệ Tri sự Nguyễn Văn Tân, Trùm giáp Vũ Danh Đệ, Bùi Trọng Thuân, Bùi Duy Thận, Bùi Duy Nghiêm, Sinh đồ Vũ Duy Tiêu, Vũ Danh Huyên, Vũ Đình Nhai, Nhiêu nam Bùi viết Thành đẳng dương dịch, kỳ tứ giáp văn thư Vũ Danh Bá, Bùi Phi Cơ, Vũ Danh Liên, Bùi Danh Thản, đẳng biên bạ.
Nhất tạo đồng khánh, nhất diện hồng đồng cộng lục bách bát thập cân, giá cổ tiền tứ bách tứ thập lục quán nhất mạch tam thập thất văn.
Nhất tạo long kiệu nhất tòa kỳ cổ tiền nhất bách tứ thập quán.
Nhất bản thôn khánh thành nhân thuộc ký văn ư thôn viên Thận Trai, tái kỳ minh văn ư Diên Hà quý nha.
Thanh Quang tự đồng khánh ký
Phù bát âm chi trung, khánh chi phù kim chân ngọc dữ chung tương vi chung thủy điều lý dã. Tự cố kỳ viên Cam vũ tại tại dụng chi dĩ tuyên dương đại thiên pháp giới giả phù phi diệc dĩ kỳ thanh vi pháp khí chúng âm chi cương kỷ dã dư.
Quyết duy Nam Chân huyện, Phương Để xã, Cự Trữ thôn, Thanh Quang tự tích tự cổ sáng tòng lai biên đài lang vu chi xương kỳ quy mô bổ các quan tường chi tặng kỳ thức quách, nguy nhiên tuân nam chiêu để nhất danh thắng kỳ gian pháp khí tiệm tiệm diệc dĩ kỳ thời nhị bị chúng âm chi đại thành tiết tấu giả.
Tư Tri huyện Bùi Viết Tuân thôn chi tôn trưởng kỳ túc nhân dã, đồng chư tôn lão xướng hiệp đồng thôn quan viên, tự Hạp Môn Bùi Việt Thuật huyện thừa Vũ Kim Ánh, Vũ Danh Nhai, Bùi Duy Trạc, phó Thiên bộ Vũ Hữu Thụy đẳng dĩ hạ, đập dương thôn tứ giáp đàn na chư nhân, nhân hữu trụ trì tăng tự Huệ Thanh khai phát tùy xúc lương thiên nhân gai tại gia Bồ tát, nài giả thời triền ư Quần nhi hạ chi cát đồng tập thiện duyên.
Nhất xướng bách ứng, a đô chi trình bát nhật nhi tuyền dũng sơn tích, dụng thị quyên long cốc quảng cưu công thuộc ư tuế mộ đông dư tiết cương thời khởi tạo tô quy nê hình, Kỳ bị dụng tác Cận sơn chi tích, Da Khê chi dòng, tòng cách canh tân chi thành kì đức. Kỳ thuộc dịch tác Phi Liên chi bị, Uất Lam chi thán. Viêm toại Bính Đinh chi thờ kì diện. Nan văn vũ cấp, tài bán ương gian nhi Chúc Dung trợ xác, Minh Phong hiệu công, ngũ bách dư can chi tại dung giả , tùy phạm thành chất.
Khai nhi thị chi, kì thế hoạt nhuận túy nhiên dã, từ nhi thức chi, kỳ thanh thanh việt khanh nhiên dã, quái nhi phóng chi thơ luân thùy tượng thượng huyền chi nguyệt dã. Cát nhi kích chi điều dực chấn xỉ lệ thiên chi diên dã thanh chi phát Đông việt Tây, xuất thượng nhập kỳ phong vận khả dĩ thông huyền nhi cách vi, kỳ ương lượng khả dĩ tính mễ nhi danh tục. Uyển nhiên vi tuệ thiền chi pháp bảo, thứ thành đại phúc quả đại thiện tâm chi đại đàn Việt giả đại.
Hạ khánh chi thạch giả, cố dã kim dã, lục nhi kim chi khởi phi thư kỳ đức kiêm thanh hòa, chất kiệm kiên trinh, khí dữ phạm sát tương vi du cửu. Nhi kim nhi huệ xử nhân văn cơ nhập đạo, trị dĩ chính tinh mạc bất ư thứ cảm xúc thành như.
Nội điền kinh vân “Thanh tịnh chân giác thế”
Lăng Nghiêm kinh vân “Viên thông thường tam đức” Sở vị thiện cơ chi nhất đoan dã! Thử hương chi dĩ tương xuất vi thiện vô lượng công đức bất khả tư nghị dã dĩ.
Quân tử tương bất một nhân chi thiện, nhân bái thư kí chi nhi kế minh vu tả:
Minh viết:
Duy nhân chi tâm/ Xuất nhập vô thì/ Định cố tuệ bản/ Văn diệc ngộ ky/ Quyết chất tác kim/ Quyết danh tác khánh/ Tham thấu kỳ lý/ Nhất động nhất tĩnh/ Liễu ngộ giai tỉnh/ Nãi thiết chân âm/ Hình khí tuy thô/ Ý thú tự thâm/ Nhân quả không hoa/ Vật đàm thiển thiển/ Ngã cáo chư nhân/ Đãn lực hành thiện.
Hoàng Việt Cảnh Hưng vạn vạn niên chi nhị thập lục, Long phi Ất Dậu, Xuân thiên, cốc nhật. Cự Trữ thôn hội quan Cẩn sự tá lang. Vĩnh Khang Tri huyện Bùi Viết Tuân đồng thôn đang khánh.
Tứ Nhâm Thân khoa Tiến sĩ cập đệ Hàn lâm viện Thừa chỉ, kiêm Bí thư các học sĩ, kiêm Quốc sử viện sự Dĩnh Thành Bá, Diên Hà Quế Đường Lê Quý Đôn soạn minh.
Quí Hợi khoa Cống sĩ Tiến Công thứ lang Hồng Lô tự Hạp môn xứ ti Hạp môn xứ, Phương Để Thận Trai, Bùi Viết Thuật thảo kí, kiêm phụng khảo địa học trúng cách, Hải Dương xứ Tán trị Thừa Chánh xứ ti tả quan.
Ban cai quản phụng sai dao lĩnh Tuyên Quang đẳng xứ trấn thủ Súy trung tuyên lực công thần tri công mã, hữu nạp ngôn Trung Hùng quân doanh, trưởng doanh quan, đề đốc Liêu Quận công Vũ Đình Trác, hộ công thi hồng đồng thập cân.
Bản thôn liệt danh
Nhất bản thôn viên trưởng Thủ chỉ Hội quan Bùi Viết Tuân tiến cúng cổ tiền ngũ bách quán, đồng nhất kiện. Tuế thứ Ất Dậu niên kỉ thôn nội thuyên.
Dịch nghĩa: Bài tựa dẫn bài ký khánh đồng chùa Thanh Quang
Năm Giáp Thân (1764), thôn ta khởi công đúc khánh đồng và tạo một cỗ kiệu rồng để cung tiến vào chùa và đền.
Thứ chỉ thôn ta là Tri huyện Bùi Viết Tuân đứng ra đốc suất công việc. Cùng tham gia còn có Trùm thôn lương y phó Vũ Viết Mã, Trùm lệ Tri sự Nguyễn Văn Tân, Trùm giáp Vũ Danh Đệ, Bùi Trọng Thuân, Bùi Duy Thận, Bùi Duy Nghiêm, sinh đồ Vũ Duy Tiêu, Vũ Danh Huyên, Vũ Đình Nhai, Nhiêu nam Bùi Viết Thành và các văn thư bốn giáp gồm Vũ Danh Bá, Bùi Phi Cơ, Vũ Danh Liên, Bùi Danh Thản phụ trách việc ghi chép.
Đúc khánh đồng số đồng tốt phải dùng cộng là 680 cân, giá tiền có là 446 quan 1 tiền 37 đồng.
Kiệu rồng một cỗ, giá tiền cỗ là 140 quan.
Đúc khánh xong xin bài văn của vị quan viên trong thôn là Thận Trai ghi sự việc lại càu xin bài minh với quý nha Diên Hà Văn Thành cho người trong thôn khắc vào.
Bài ký khánh đồng chùa Thanh Quang
Trong tám âm, tiếng khánh đồng vang lên như vàng ngọc, hòa cùng tiếng chuông tạo nên sự hài hòa.
Từ xưa, nơi Kì Viên Cam Lộ, khánh được dùng để tuyên dương đại thiên pháp giới. Phải chăng, tiếng khánh chính là pháp khí, là chuẩn mực của các âm thanh?
Tại huyện Nam Chân, xã Phương Để, thôn Cự Trữ, chùa Thanh Quang từ xưa đã nổi tiếng với quy mô rộng lớn, đài sen, giải vũ uy nghi, chuông tam quan đồ sộ. Đây thực là một danh thắng của vùng Nam, nơi pháp khí dần được hoàn thiện, tạo nên sự hài hòa trong tiết tấu âm thanh.
Nay quan Tri huyện Bùi Viết Tuân, là bậc tôn trưởng cao niên trong thôn, cùng với các bậc lão thành trong thôn và các quan viên như: Từ Hạo môn Bùi Viết Thuật, Huyện thừa Vũ Kim Ánh, Vũ Danh Nhai, Bùi Duy Trạc, Phó Thiên hộ Vũ Hữu Thụy, cùng những người đàn na (đóng góp) trong bốn giáp, nhân có vị trụ trì tên tự là Huệ Thanh khuyên bảo mọi người phát tâm Bồ Tát, vào tiết mùa hạ, ngày lành, đã cùng nhau khởi xướng việc thiện.
Một lời kêu gọi, trăm người hưởng ứng, công trình lớn lao chẳng mấy chốc mà như suối chảy từ núi cao, như rồng cuộn trong thung lũng. Rồi tìm thợ giỏi, tiến hành đúc tạo vào tiết cuối đông. Về nguyên liệu, có thiếc từ núi Cận Sơn, đồng từ khe Da Khê, theo sự thay đổi của thời gian mà thành tựu đức lớn. Về phụ liệu, có pháp bảo của Phi Liên, than của Uất Lam, cùng lửa Viêm Toại Bính Đinh thổi bùng lên, khi to khi nhỏ, chẳng bao lâu mà Chúc Dung giúp sự khéo léo, Minh Phong hỗ trợ thành công. Hơn năm trăm cân nguyên liệu được đưa vào khuôn đúc, tạo thành vật phẩm hoàn mỹ.
Mở ra xem, hình thể tròn đầy, mịn màng, lắng nghe tiếng vang, thanh thoát cao vút. Treo lên ngắm, tựa như vầng trăng sáng trên cao, gõ vào thì tiếng vang như chim vỗ cánh, diều lượn trên trời. Âm thanh vang từ đông sang tây, từ cung Thương đến cung Vĩ. Về phong vận, có thể thấu suốt chốn huyền vi; về âm hưởng, có thể đánh thức người đời khỏi giấc mộng tục, trở thành đại phúc quả, đại thiện tâm, đại đàn việt vậy!
Ôi! Khánh bằng đá, xưa cũng thế, nay cũng thế, khắc vào kim khí, há chẳng phải là lấy đức thanh nhã hòa hợp, chất kiệm kiên trinh, có thể cùng với chùa chiền trường tồn mãi mãi? Từ nay về sau, khiến người nghe thấu cơ vi mà theo đạo, chỉnh đốn bản thân, dù không cảm xúc cũng thành chân thành.
Kinh nội điển có nói: “Tấm lòng thanh tịnh mới thực là giác ngộ chân chính.”
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Viên thông gồm ba đức.” Đó chính là khởi đầu của việc thiện!
Làng ta khuyên nhau làm điều thiện, công đức vô lượng không thể nghĩ bàn!
Người quân tử không nên ngăn cản việc thiện của người khác, vì thế đã viết bài ký và khắc bài minh bên trái như sau:
Bài minh rằng:
Lòng của con người ta/ Thay đổi vào ra không thường/ Duy kiên trì Định, giữ tuệ làm gốc/ Nghe pháp Giác ngộ thiền cơ/ Cái chất [của vật này] thuộc loài kim/ [Định] danh gọi là cái khánh/ Hiểu thấu lý lẽ thiền/ Một động một tĩnh/ Đã ngộ ra rồi thì ắt đều thức tỉnh/ Cho nên tạo ra [cái khánh] âm thanh chân thực/ Hình dáng tuy thô/ Ý thú của nó đã tự uyên sâu/ Cây Nhân quả không có hoa/ Cho nên chớ nói qua loa/ Ta bảo cho mọi người/ Hãy gắng sức mà làm việc thiện.
Vào năm thứ 26 triều đại Cảnh Hưng của nước Việt, năm Ất Dậu, mùa xuân, ngày lành. Thôn Cự Trữ, hội quan Cẩn sự tá lang, Tri huyện Vĩnh Khang Bùi Viết Tuân cùng dân làng tạo ra khánh.
Khoa Nhâm Thân, Tiến sĩ cập đệ, Thừa chỉ Viện Hàn lâm, kiêm Bí thư các Học sĩ, kiêm Quốc sử viện sự, tước Dĩnh Thành Bá, người Diên Hà, Quế Đường Lê Quý Đôn soạn bài minh.
Khoa Quý Hợi, Cống sĩ Tiến Công thứ lang, Hồng Lô tự Hạp Môn sứ ti, Hạp Môn sứ Phương Để Thận Trai Bùi Viết Thuật soạn thảo bài ký, đồng thời phụng khảo địa học trúng cách, Tán trị Thừa Chánh sứ ti tả quan sứ Hải Dương.
Ban cai quản, phụng sai đảm nhiệm chức Trấn thủ Tuyên Quang, Suy Trung tuyên lực công thần, tri công mã, Hữu nạp ngôn, Trưởng doanh quân Trung Hùng, Đề đốc Liêu Quận công Vũ Đình Trác cúng vào việc đúc khánh đồng tốt mười cân.
Danh sách người trong thôn:
Quan viên đứng đầu thôn, Thư chỉ Hội quan, Tri huyện Bùi Viết Tuân cúng tiền cổ năm trăm quan, đồng một kiện.
Năm Ất Dậu, khắc tại thôn.
3. Quan điểm về Phật giáo của Bảng nhãn Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn (1726 - 1784) là một trí thức lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII. Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, sớm bộc lộ tư chất học vấn sâu rộng. Năm 18 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương; đến khoa Nhâm Thìn (1752), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị danh (Bảng nhãn).
Trong sự nghiệp quan trường, Lê Quý Đôn từng đảm nhiệm nhiều chức vụ trọng yếu dưới triều Lê - Trịnh. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, trọng dân, yêu dân.
Lê Quý Đôn còn được biết đến như một nhà bác học lớn, với vốn tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Với hơn 40 tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, Lê Quý Đôn xứng đáng là danh nhân văn hóa, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Nhà sử học Phan Huy Chú viết: Lê Quý Đôn là “nhà bác học ham đọc, ham biết và ham viết”, “có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà (vẫn) giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh (ông) làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời”([iv]). Tiến sĩ Bùi Huy Bích ca ngợi Lê Quý Đôn là: “Thông minh nhất đời, học rộng các sách, soạn ra văn chương đủ dạy đời và lưu truyền về sau, nước ta trong vài trăm năm nay mới có một người như thầy”([v]).
Qua bài minh khắc trên khánh đồng chùa Thanh Quang, Lê Quý Đôn thể hiện một quan điểm khá tích cực đối với Phật giáo. Dù là một Nho sĩ, ông không nhìn Phật giáo bằng thái độ đối lập hay bài xích, mà tiếp cận với tinh thần dung hội, coi Phật giáo là một hệ tư tưởng có giá trị sâu sắc trong việc tu thân, giáo hóa con người và ổn định xã hội.
Trước hết, trong bài minh khánh, Lê Quý Đôn bộc lộ rõ sự am hiểu Phật học, đặc biệt là tư tưởng Thiền. Ngay những câu mở đầu: “Lòng của con người ta/ Thay đổi vào ra không thường”, ông đặt vấn đề tâm tính con người theo đúng tinh thần Phật giáo, coi tâm là gốc của mọi hành vi thiện - ác. Để khắc phục sự bất định ấy, ông nhấn mạnh con đường tu tập nội tâm: “Duy kiên trì Định, giữ tuệ làm gốc/ Nghe pháp giác ngộ thiền cơ”. Ở đây, các khái niệm “Định”, “Tuệ”, “Giác ngộ” không phải vay mượn hình thức, mà phản ánh sự tiếp nhận trực tiếp giáo lý Phật giáo, đặc biệt là tư tưởng trong các kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già - những bộ kinh mà chính Lê Quý Đôn thừa nhận ông “thường đọc”([vi]).
Đối với Phật giáo, nhất ở Việt Nam, khánh không chỉ là pháp khí mang ý nghĩa nghi lễ, mà trở thành biểu tượng của phương tiện giác ngộ. Âm thanh khánh có tác dụng “đánh thức” con người: “Cho nên tạo ra [cái khánh] âm thanh chân thực/… Đã ngộ ra rồi thì ắt đều thức tỉnh”. Quan niệm này tương ứng trực tiếp với tư tưởng Phật giáo về “nghe mà ngộ”, như Lê Quý Đôn từng dẫn Kinh Lăng Nghiêm: “Muốn có được Tam - ma - đề, ắt phải bằng con đường nghe thấy”([vii]). Như vậy, Phật giáo trong cách hiểu của Lê Quý Đôn không xa rời đời sống, mà hiện diện ngay trong sinh hoạt thường nhật, thông qua âm thanh, hành động và sự tỉnh thức của con người.
Đặc biệt, bài minh khánh chùa Thanh Quang thể hiện rõ niềm tin của Lê Quý Đôn vào thuyết nhân quả - một nội dung cốt lõi của Phật giáo. Ông viết: “Cây nhân quả không có hoa/ Cho nên chớ nói qua loa”, khẳng định nhân quả là quy luật tất yếu, âm thầm nhưng chi phối toàn bộ đời sống con người. Từ nhận thức ấy, ông mượn lời khánh, đưa ra lời khuyên mang tính đạo đức - tôn giáo rõ rệt: “Ta bảo cho mọi người/ Hãy gắng sức mà làm việc thiện”. Điều này được ông thể hiện rõ:
“Nhân quả không hoa/ Chớ bảo qua loa…
Ta bảo cho mọi người/ Hãy gắng sức mà làm việc thiện”
Quan điểm này hoàn toàn tương ứng với những nhận định của ông trong Kiến văn tiểu lục, thiên Thiền dật: “Người làm việc thiện sẽ được trăm điều lành, người làm bất thiện sẽ phải trăm tai họa”([viii]), hay: “Muốn biết nguyên nhân kiếp trước, xét ngay vào sự hưởng thụ hiện tại; muốn biết quả báo kiếp sau, xét ngay vào hành vi hiện tại”([ix]).
Lê Quý Đôn còn nhìn nhận Phật giáo như một học thuyết có giá trị đối với việc trị nước, an dân. Trong Kiến văn tiểu lục, ông dẫn Thái bình quảng ký, Pháp uyển châu lâm để chứng minh rằng Phật giáo không chỉ dạy xuất thế mà còn bàn rất sâu về đạo làm vua, đạo làm quan, lấy từ bi, khoan dung và trách nhiệm với dân làm chuẩn mực. “Người làm quan,… lúc làm việc công, nếu giữ lòng từ bi thương xót, mở bụng cứu tế mọi người”([x]). “Chỗ bất cập của người khác, ta nên lượng tình mà tha thứ; chỗ thiếu sót của ta, ta cần dùng lý lẽ mà nghiêm trách”([xi]). Tinh thần ấy, tuy không nói trực tiếp trong bài minh khánh, nhưng đã được hàm chứa trong quan niệm coi việc đúc khánh, dựng chùa là “việc thiện”, là cách tích phúc cho cộng đồng và duy trì nền tảng đạo đức xã hội.
Kết luận
Như vậy, việc khảo cứu làng Cự Trữ, chùa Thanh Quang và chiếc khánh đồng khắc bài minh của Bảng nhãn Lê Quý Đôn cho thấy đây là một không gian văn hóa - lịch sử tiêu biểu của vùng ven sông Ninh Cơ, nơi hội tụ hài hòa giữa truyền thống làng nghề, hiếu học và đời sống tín ngưỡng. Chùa Thanh Quang, với lịch sử lâu đời, kiến trúc đặc sắc và nhiều di vật quý, giữ vị trí trung tâm tinh thần của cộng đồng, đồng thời là điểm kết tinh các giá trị văn hóa của làng Cự Trữ.
Bài minh trên khánh đồng năm 1765 không chỉ ghi dấu ấn của Lê Quý Đôn tại Cự Trữ mà còn phản ánh rõ quan niệm dung hợp Nho - Phật của ông. Trong tư tưởng Lê Quý Đôn, Phật giáo và Nho giáo gặp nhau ở cốt lõi đạo đức và cùng hướng tới mục tiêu tu thân, giáo hóa và ổn định xã hội. Vì thế, bài minh khánh chùa Thanh Quang vượt lên chức năng bài minh thông thường, trở thành biểu hiện sinh động tư tưởng “Nho - Phật dung hội” của một trí thức lớn Việt Nam thế kỷ XVIII.
Chú thích
(I) Khiếu Năng Tĩnh (2000), Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược (Dương Văn Vượng dịch), Phòng Địa chí - Thư mục, Bảo tàng Nam Định xuất bản, Nam Định, trang 150. (II) Nguyễn Văn Anh - Nguyễn Hữu Công, Những thành bậc ở chùa Cự Trữ (Nam Định)// Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006, trang 542, 543.(III) Bảo tàng Hà Nam Ninh (1989), Hồ sơ tư liệu chùa Cự Trữ, xã Phương Định thuộc huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam Ninh.(IV)Phan Huy Chú (1992). Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 391. (V)Trần Lê Sáng (2004), Ngữ văn Hán Nôm, tập 4. Nxb. KHXH, Hà Nội, trang 503.(VI) Phạm Minh Đức (2019), Bảng nhãn Lê Quý Đôn đối với Phật giáo qua bài văn chuông ở chùa Phúc Khánh, tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2 (155).(VII)Phạm Minh Đức (2019), Bảng nhãn Lê Quý Đôn đối với Phật giáo qua bài văn chuông ở chùa Phúc Khánh, tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2 (155).(VIII) Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Nxb VHTT, Hà Nội, trang 430. (IX) Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, sđd, trang 14.(X) Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, sđd, trang 428. (XI) Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, sđd, trang 16.
(Nguồn: TC VNNB số 317 - 03/2026)