Chủ nhật, 19/04/2026

Bổ sung và kiến giải về một số sự kiện liên quan đến trận Him Lam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ - 1954

Chủ nhật, 29/03/2026

PHẠM ĐỨC HOÀN

 

Cách đây hơn 70 năm, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Đại đoàn 312 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam - “trận mở màn” của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Qua theo dõi một số cuốn sách viết về trận đánh này, tôi thấy có một vài chi tiết cần làm rõ thêm và sửa lại cho đúng với sự kiện lịch sử đã diễn ra.

1. Về việc bắt tù binh (trong đó có tên Thiếu úy Giắc - cơ)

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp trận đánh này được thực hiện “…hai ngày trước khi trận đánh diễn ra”. Ông đánh giá: “… quân báo đại đoàn tổ chức một trận đánh đột kích táo bạo vào trung đội địch cảnh giới ở Him Lam, bắt về một viên trung úy người Đức bị thương nặng…”(1)

Còn Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 trong chiến dịch hồi tưởng: “... Đến lúc này (đầu tháng 3 - PĐH), tình hình tung thâm Him Lam ra sao chúng ta vẫn chưa hiểu cụ thể”. “Vì thế tôi đã cho gọi Trung đội trưởng Lư lên giao nhiệm vụ, trao đổi thống nhất cách đánh và hẹn trong ba ngày phải bắt được tù binh”.  Kết quả “đúng ba ngày sau, Lư dẫn lên sở chỉ huy tên thiếu úy Giắc - cơ…”(2)

Một trận đánh quan trọng và có ý nghĩa như vậy song không

hiểu sao ở cả hai cuốn chính sử đơn vị hoặc là không đề cập đến(3) hoặc là viết rất sơ lược thậm chí chỉ ghi chú cuối trang: “Trong trận phục kích đầu tháng 3 năm 1954, tổ quân báo của đồng chí Lư bắt được thiếu úy Giắc - cơ và 3 lính Âu Phi”(4)

Khi tôi đọc cuốn “Kí ức Him Lam” của Đại tá Mạc Ninh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 141 trong chiến dịch thì biết thêm rằng: “Do lực lượng phân tán và chỉ huy chưa thống nhất, lực lượng quân báo (của cả đại đoàn và các đơn vị) mặc dù đã nhiều lần tổ chức tiềm nhập trinh sát căn cứ Him Lam nhưng không những kết quả thấp, lại bị thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn đã bàn bạc, đề nghị cho trung đội quân báo của Trung đoàn tạm thời sáp nhập với quân báo của Đại đoàn. Đề nghị này đã được trên đồng ý”(5). Chính sự điều chỉnh này đã góp phần giúp cho lực lượng quân báo đại đoàn, trong đó có trung đội quân báo Trung đoàn 141 do ông Nguyễn Tử Lan chỉ huy tổ chức đánh bắt được tù binh về khai thác.

Nêu tất cả những chi tiết của sự kiện trong các cuốn sách trên, tôi thấy có hai ý cần bàn thêm:

Thứ nhất, cần khẳng định chiến công và sự đóng góp quan trọng của các chiến sĩ quân báo (của cả đại đoàn và trung đoàn) mà ý nghĩa, tác dụng của nó đã được Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn khẳng định: “Không thể thông qua một kế hoạch tiến công khi chưa thật hiểu cụ thể kẻ thù”. Bằng chiến công bắt được tù binh về khai thác, lực lượng quân báo đã giúp cho chỉ huy Đại đoàn 312 và các Trung đoàn 141, Trung đoàn 209 bổ sung hoàn thiện kế hoạch tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam được nhanh chóng hơn và đỡ thương vong hơn. Cần nói thêm rằng, đây là “một pháo đài bất khả xâm phạm!” như một số tướng lĩnh Pháp từng ngạo mạn tuyên bố. Chính tên thiếu úy tù binh Giắc - cơ (sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp viết là Trung úy) sau khi cung cấp cho ta những thông tin về binh lực, hỏa lực và cách bố phòng tại cụm cứ điểm đã khuyên: “Xin các ngài không nên đánh vào Bêatơrit (Him Lam)”.

Thứ hai, cần làm rõ thêm về người chỉ huy trung đội quân báo. Ở cả hai cuốn sách (đã dẫn) đều chỉ viết về người trung đội trưởng này với cái tên là “Lư” (không rõ họ, quê quán…). Có một số lí giải về chi tiết này như: các hồi ức (của đại tướng Lê Trọng Tấn và đại tá Mạc Ninh) được kể lại khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc sau nhiều năm, tác giả có thể cũng không nhớ tên thật của người đó, thậm chí khi viết xong bản thảo, tác giả đột ngột qua đời nên chưa có điều kiện đọc và chỉnh sửa lại khi xuất bản(6), hoặc nhân vật chuyển ngành, sớm ra khỏi quân đội, không có điều kiện trở lại đơn vị v.v… Cũng cần lưu ý thêm, do yêu cầu bí mật trong quá trình hoạt động quân báo, ông Nguyễn Tử Lan không sử dụng tên thật của mình mà thường xuyên sử dụng mật danh. “Lư” có thể là một cái tên như vậy.

Mãi đến gần đây (2024) khi tới thăm Bảo tàng Nguyễn Tử Lan - một bảo tàng gia đình, tôi được nhà nghiên cứu Nguyễn Tử Chương cung cấp một số hiện vật, tư liệu… nhằm chứng minh, xác thực nhân vật “Trung đội trưởng Lư” chính là ông Nguyễn Tử Lan. Ông Nguyễn Tử Lan sinh năm 1935 ở thôn Thư Điền, xã Ninh Nhất, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (nay là phường Hoa Lư tỉnh Ninh Bình mới). Theo lí lịch quân nhân (đang lưu tại bảo tàng), đầu năm 1953, sau khi tốt nghiệp Thành Chung ở trường Pháp - Việt (Nam Định), ông xung phong vào bộ đội. Tháng 11 năm 1953, ông được điều về Đại đoàn 312 để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Do có trình độ văn hóa khá cao, năng lực chỉ huy tốt lại thông thạo tiếng Pháp, ông được phân công về đơn vị thông tin - trinh sát thuộc Trung đoàn 141 và được Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn kí phong chức Trung đội trưởng quân báo ngay từ đầu chiến dịch. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được giao nhiệm vụ “đặc biệt”: quản lí giáo dục, trao trả tù binh Pháp... Giữa năm 1958, do hoàn cảnh gia đình, ông xin chuyển ngành về địa phương công tác mặc dù cấp trên rất muốn ông ở lại quân đội lâu dài. Một số giấy tờ còn lưu giữ tại bảo tàng như: giấy chứng nhận huân chương, các thư từ, lưu bút của nhiều đồng đội liên quan đến sự kiện này… đều xác nhận trung đội trưởng quân báo của đơn vị là ông Nguyễn Tử Lan.

Từ những kiến giải trên, tôi đề nghị ở lần tái bản sau, sự kiện này cần được các nhà biên soạn bổ sung và thể hiện rõ ràng, đầy đủ hơn (về thời gian, địa điểm, đơn vị và người chỉ huy trận đánh…) nhằm tôn vinh chiến công quả cảm - “một cuộc đột kích táo bạo” của các chiến sĩ quân báo do Trung đội trưởng Nguyễn Tử Lan chỉ huy như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá.

Riêng về tên tù binh Giắc - cơ là thiếu úy (sous-lieutenant) hay trung úy (lieutenant), hiện tôi chưa tìm được văn bản gốc nên xin không có ý kiến.

2. Về sự kiện cho phép địch lấy thương binh sau trận đánh

Trong sự kiện này, có một chi tiết được thể hiện không thống nhất là cách thức liên lạc với Bộ chỉ huy quân Pháp để thông báo việc trao trả. Cuốn Lịch sử của Sư đoàn 312 viết: “Trận đánh Him Lam vừa kết thúc, Chính ủy Trung đoàn 141 điện cho bộ chỉ huy của địch thông báo cho phép chúng đến lấy thương binh”(7). Cuốn Lịch sử Trung đoàn 141 cũng viết với ý tương tự(8). Tuy nhiên trong sách của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về chuyện này như sau (đại ý): “23.30 đêm ngày 13 tháng 3, (sau khi trận đánh kết thúc thắng lợi - PĐH), đồng chí Lê Trọng Tấn báo cáo đề nghị cho phép quân địch ở Mường Thanh được ra lấy xác chết và thương binh. Đại tướng thấy đó là một ý kiến hay. Ông đồng ý và hỏi thêm: Thông báo với địch bằng cách nào? Đồng chí Tấn trả lời: Đề nghị cho một viên sĩ quan bị thương về Mường Thanh báo cáo với Đờ Cát…”(9). Trong sách “Kí ức Him Lam”, Đại tá Mạc Ninh kể rõ hơn: “… Đối với thương binh, trên ủy nhiệm cho chúng tôi viết một bức thư cho phép Đờ Cát sáng mai ra nhận thương binh của hắn về.”(10)

Như vậy ở sự kiện nói trên, cách thức liên lạc để trao trả thương binh đã rõ ràng: Đó là viết thư và cho một tù binh mang đi. Chi tiết này tuy nhỏ nhưng cần được bổ sung sửa chữa để nó đúng với sự thật lịch sử. Hơn nữa, nếu suy nghĩ theo logic thông thường, trong điều kiện chiến đấu (ở thời điểm năm 1954 - PĐH), việc thông tin liên lạc trong nội bộ chúng ta đã rất khó khăn, nói gì đến việc liên lạc, trao đổi với Bộ chỉ huy quân Pháp bằng điện thoại, điện tín?.

Tại đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội khoa học lịch sử Việt Nam (1988), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự đã phát biểu: “Lịch sử chỉ xảy ra một lần nhưng viết lịch sử thì (có thể) phải nhiều lần”. Trên tinh thần đó, tôi mạnh dạn có một số ý kiến về hai sự kiện diễn ra trước và sau trận Him Lam của chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Rất mong được các nhân chứng và các nhà nghiên cứu trao đổi cho rõ thêm./.

                                                                               P.Đ.H

(Nguồn: TC VNNB số 317 - 03/2026)

Chú thích: (1) Võ Nguyên Giáp “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” NXB QĐND, Hà Nội 2001, trang 206; (2) Lê Trọng Tấn “Từ Đồng Quan đến Điện Biên” NXB QĐND, Hà Nội 1994, trang 336 - 338; (3) Lịch sử Trung đoàn 141 Trung đoàn Ba Vì (1950 - 2020) NXB QĐND Hà Nội trang 116 - 117; (4) Lịch sử Sư đoàn 312 - Đại đoàn Chiến Thắng 1950 - 2020 NXB QĐND Hà Nội 2020, trang 167; (5) Mạc Ninh “Kí ức Him Lam” NXB Lao động, Hà Nội 2012 trang 24 - 25; (6) Lê Trọng Tấn, sách đã dẫn. Xem Lời nhà xuất bản và Lời giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trang 5 - 7; (7). Sách đã dẫn, trang 171; (8) Sách đã dẫn, trang 121; (9) Võ Nguyên Giáp: Sách đã dẫn, trang 219 - 220; ([1]0) Mạc Ninh: Sách đã dẫn, trang 114.

 

 

Bài viết khác