NGUYỄN CAO TẤN
Ninh Bình hiện nay với diện tích gần 4.000 km², dân số trên 4,4 triệu người. Với vị trí chiến lược là cầu nối giữa Đồng bằng sông Hồng với Bắc Trung Bộ, Ninh Bình mới hội tụ hệ thống tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và độc đáo:
Chùa Tam Chúc, chùa Bái Đính - trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á; Khu di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần - chùa Phổ Minh, Quần thể di tích Phủ Giầy - các trung tâm văn hóa tâm linh nổi tiếng. Không gian du lịch của tỉnh trải dài từ miền núi - trung du, đồng bằng - sinh thái ngập nước, hệ sinh thái đa dạng từ rừng nguyên sinh, sông hồ, đồng bằng đến biển; Vườn quốc gia Cúc Phương, Khu Ramsar Vân Long và Vườn quốc gia Xuân Thủy - những vùng sinh thái tiêu biểu mang tầm khu vực và toàn cầu cùng 90km bờ biển có thể phát triển nhiều loại hình du lịch: sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch biển, du lịch mạo hiểm, chữa bệnh… cùng hệ thống di sản văn hóa đồ sộ, trong đó nhiều di sản có giá trị tầm quốc gia và quốc tế được bồi tụ bởi nhiều lớp trầm tích văn hóa, giao thoa của 3 vùng kinh tế và văn hóa (vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Tây Bắc và vùng duyên hải Bắc Trung Bộ). Đặc biệt có những di tích khảo cổ ghi dấu sự xuất hiện của người tiền sử cách đây hơn 3 vạn năm, nhiều di sản văn hóa cho thấy cư dân Ninh Bình qua nhiều thế hệ đã sáng tạo, lưu truyền, lan tỏa nhiều giá trị văn hóa đặc sắc với cốt cách riêng.
Toàn tỉnh có gần 5.000 di tích đã kiểm kê, trong đó có 10 di tích quốc gia đặc biệt, cùng 33 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nổi bật là “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Vùng đất này cũng là trung tâm kết tinh văn hóa vùng châu thổ - ven biển Bắc Bộ với nhiều lễ hội truyền thống (lễ hội Hoa Lư, lễ hội khai ấn, lễ hội đền Trần Thương…), làng nghề đặc sắc (Chiếu cói Ninh Hải, đá Ninh Vân, làng nghề đúc đồng Tống Xá, chạm khắc gỗ La Xuyên, rối nước làng Rạch, trống Đọi Tam), ẩm thực phong phú, đa dạng (phở bò Nam Định, dê núi Ninh Bình, chuối ngự Hà Nam...) và các loại hình nghệ thuật dân gian như hát chèo, chầu văn, ca trù được bảo tồn tốt.
Tiêu biểu và nổi bật, năm 2014, Quần thể danh thắng Tràng An được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Đây là Di sản thế giới đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á được ghi nhận giá trị nổi bật toàn cầu cả về tự nhiên và văn hoá. Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An (sau đây gọi tắt là Di sản Tràng An), có diện tích hơn 12.000 ha, ở về phía Tây Nam tam giác châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90 km theo đường chim bay. Là phần kéo dài và phân tán về phía Đông của dãy núi đá vôi đồ sộ phía Tây Bắc của tổ quốc, hay trong không gian rộng hơn nơi đây là phần chân của dãy Hymalaya vươn ra biển Thái Bình Dương. Di sản Tràng An có nhiều dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam cùng song song là những dòng sông, suối nhỏ, trong không gian ấy điểm thêm những thung lũng, làng mạc, những cánh đồng trước núi, mom sông, những hồ nước trong xanh in bóng mây trời tạo nên một cảnh sắc đẹp mắt. Thời điểm hình thành những dãy đá vôi này dao động trong khoảng 250 triệu năm cách ngày nay. Trải qua nhiều thời kỳ bị nâng lên, hạ xuống, bị uốn nếp, bào mòn dẫn đến những dãy đá vôi ở đây có dạng địa hình hết sức đa dạng với hàng loạt các hệ thống thung lũng, hố sụt, hang động cạn và hang động nước nối thông giữa các hố sụt, thung lũng ngập nước hay chạy dài theo những dãy núi đá vôi sắc mảnh. Và đặc biệt hơn nữa hầu hết những dãy núi đá vôi ở đây đều chịu sự xâm lấn và biến cải nhiều lần bởi biển trong giai đoạn Pleistocene sang giai đoạn Holocene. Nơi đây còn sở hữu địa hình đồng bằng phù sa cổ ở trước núi, địa hình cồn cát xuất hiện trong quá trình hình thành đồng bằng sông Hồng. Riêng về mặt địa chất, địa mạo của di sản Tràng An cũng đã đủ cho chúng ta tuyên bố với thế giới về giá trị nổi bật toàn cầu bởi nó đã nói lên một giai đoạn lịch sử hình thành trái đất với một dạng địa mạo riêng, cần bổ sung vào sách giáo khoa địa lý của thế giới, đó là vùng giao thoa giữa những tháp núi đá vôi được nối liền với nhau bởi những sống núi sắc mảnh và những tháp núi đá vôi đứng độc lập cùng đều bị biến cải nhiều lần do sự xâm thực của biển.

Đền Thái Thượng Sơn nơi thờ Nhồi Hoa Công chúa Ảnh: TL
Trên cơ sở lịch sử địa chất lâu dài, đa dạng về địa hình, địa mạo là điểm giao thoa giữa các luồng di cư của động vật, thực vật theo hướng lục địa và biển và giữa các vịnh biển theo hướng Bắc - Nam đã làm cho Di sản Tràng An có một hệ sinh thái hết sức đa dạng. Đây cũng là cơ sở cho sự xuất hiện sớm của loài người, là tiền đề góp phần hình thành nhà nước và có một thời đóng vai trò là kinh đô của nước Đại Cồ Việt (TK.X), là hậu phương vững chắc tạo thế cho nhà Trần ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông (TK.XIII), là bàn đạp cho nhà Lê đánh đuổi quân Minh (TK.XV). Và vùng đất này cũng là điểm giao thoa về văn hóa, điểm hội tụ và lan tỏa của một số tôn giáo lớn. Tất cả những thứ đó làm nên một kho di sản văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc trong Quần thể danh thắng Tràng An.
Trong số những di sản quan trọng của Tràng An không thể không nhắc tới đền Thượng thôn Thái Sơn, phường Tây Hoa Lư, nơi thờ công chúa nước Lào (công chúa Nhồi Hoa) đã có công giúp nhân dân Đại Việt huấn luyện voi chiến góp phần vào chiến thắng giặc phương Bắc. Di sản này ngoài những giá trị di tích kiến trúc cổ kính toạ lạc trên một khu đồi với hệ sinh thái rừng nguyên sinh mà còn là một di sản tín ngưỡng tôn thờ một nhân vật có công giúp nhân dân Đại Việt, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, một di sản về tinh thần uống nước nhớ nguồn, một địa chỉ đỏ, một biểu tượng của tình đoàn kết gắn bó giúp đỡ giữa hai dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử đã cùng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập, gìn giữ hoà bình.
Không gian của di tích đền Thượng thôn Thái Sơn
Ngôi đền nằm trong không gian của Hành đô Sơn Lai (TK.X)
Sau khi đánh dẹp và thu phục 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Tiên Hoàng đế đã quyết định lập quốc đô của nước Đại Cồ Việt ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư hiện nay. Sau chiến thắng năm 938 của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, giành độc lập quốc gia, đến năm 968, Đinh Tiên Hoàng thống nhất quốc gia, củng cố nền độc lập là sự kiện hết sức quan trọng không chỉ cho quốc gia nước Việt mà còn là sự cởi trói cho những quốc gia phương Nam trước ách đô hộ của thế lực phương Bắc, một tuyên ngôn độc lập cho khu vực vượt ra khỏi không gian một quốc gia. Do vậy còn có nhiều truyền thuyết về việc sau khi giành độc lập, thống nhất quốc gia thì có nhiều quốc gia lân bang sang nước Việt (Đại Cồ Việt) để chúc mừng, tích diễn trò Xuân Phả là một trong những kịch diễn tái hiện sự kiện này.
Viết về kinh đô này, Đại Việt sử ký toàn thư đã chép khá rõ: “Mậu Thìn năm thứ nhất (968), Vua (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư, xây dựng kinh đô mới, đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi”(1).
Từ sự phân tích hàng loạt các tầng văn hóa khảo cổ, các mũi khoan địa chất, qua các đợt khai quật khảo cổ, khảo sát địa chất tại khu Kinh thành Hoa Lư xưa đã cho chúng ta nhận biết về bối cảnh môi trường tự nhiên dưới góc độ địa chất, địa mạo nơi đây khi xây dựng kinh đô là vùng thung lũng đá vôi, được bồi lắng phù sa không đều, một vùng sình lầy ven biển. Vậy với diện tích có hạn khoảng 300 ha trong bối cảnh sình lầy, cần phải đắp thành, cần tôn nền, đắp đường, xây dựng số lượng lớn các cung điện phục vụ cho một đế chế nhà nước trung ương tập quyền thì việc vừa đóng đô điều hành quốc sự vừa xây dựng kinh đô là không thể. Vì vậy cần có một kinh đô dã chiến, một kinh đô tạm thời mà ở đây chúng tôi dùng khái niệm “hành đô” ở một nơi khác vừa có cơ sở phòng thủ, thuận tiện cho việc điều hành bộ máy nhà nước mới thành lập lại vừa thuận tiện cho việc giám sát công trình thi công xây dựng kinh đô thì nơi đó phải cận kề với kinh đô Hoa Lư. Do vậy vùng đất Sơn Lai đã được lựa chọn xây dựng hành đô. Quanh khu vực này chúng ta còn bắt gặp các địa danh: Cửa Vua; Núi Văn (Núi Chiêng); Núi Võ (Núi Trống); Núi Tướng; Bãi Vật; Chợ Quán (tương truyền là nơi đón tiếp sứ giả các nước); Đồi Thờ (núi Mã Can); Lăng Trưởng công chúa; lăng Duyên Khang Công chúa và thành Hẻo gắn với huyền tích khu thành này chỉ xây dựng trong một đêm đã xong, đến nay còn dấu tích lờ mờ đoạn tường thành này. Tất cả những dấu tích, địa danh trên tồn tại trên bậc thềm phù sa cổ, trầm tích pleistocene đã bị laterit hóa dạng sỏi đá ong, và trên nền cảnh không gian văn hóa thời Đông Sơn trước đó (gốm Đông Sơn, trống đồng Đông Sơn được phát hiện ở đồi Đống và núi Sưa, xã Sơn Lai) và những dấu tích thời thuộc Bắc (mộ xây kiểu cuốn vòm ở xã Quỳnh Lưu) và những dấu tích vật chất giai đoạn sau đó.
Trên một thềm đất cao đồi đất phù sa cổ, có sẵn cơ sở vật chất của những giai đoạn lịch sử trước lại có thế tựa lưng vào khối núi đá vôi Hoa Lư được bao quanh bởi sông Hoàng Long; sông Mới; sông Bến Đang và lại cận kề với kinh đô Hoa Lư là một nơi rất thuận lợi cho một hành đô trong thời điểm tiến hành xây dựng kinh đô Hoa Lư, và vì vậy cũng là cách cho chúng ta giải thích những vật liệu kiến trúc thời Đinh(2), thế kỷ X còn tồn tại quanh những địa danh kể trên.
Qua điền dã khảo cổ học đã tạm cho chúng ta câu trả lời vị trí của hành đô này. Từ trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư hôm nay ngược theo bờ hữu của dòng Hoàng Long (về phía Tây Nam), đến Âu Lê vào sông Mới, qua sông Bến Đang để xuôi về phía Đông Nam ra biển, trên địa bàn của xã Gia Sinh huyện Gia Viễn; xã Sơn Lai; xã Quỳnh Lưu; xã Sơn Hà, huyện Nho Quan nằm gọn trong không gian của tứ giác nước ôm ấp lấy kinh đô Hoa Lư xưa chúng ta còn bắt gặp những di tích, địa danh, truyền thuyết, huyền thoại về một hành đô trong những ngày đầu xây dựng nhà nước Đại Cồ Việt.
Ngôi đền nằm bên con đường Thượng đạo xưa
Đi suốt chiều dài đất nước qua những dấu tích của những đoạn đường cùng với những làng mạc hai bên, những gì còn sót lại trong quá trình giao thông cho chúng ta vạch ra hình hài con đường Thiên Lý ra Bắc vào Nam xưa trong bối cảnh tự nhiên tam giác châu thổ sông Hồng đã được bồi tụ đầy đặn như ngày nay và trong bối cảnh xã hội có điều kiện kỹ thuật khá phát triển sau các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Tuy nhiên trong bối cảnh khi tam giác châu thổ sông Hồng chưa khoác lên mình chiếc áo phù sa mới dày dặn và lại còn chịu sự xâm thực của biển trong giai đoạn cách ngày nay khoảng 1.500 đến 2.000 năm và điều kiện kỹ thuật còn hạn chế thì con đường bộ ra Bắc vào Nam ấy bám theo vùng rừng núi ở phía Tây và men theo bậc thềm phù sa cổ. Qua những dấu tích khảo cổ học, những làng cổ chúng ta có thể phác hoạ con đường Thượng Đạo này.
Như vậy từ bậc thềm phù sa cổ sông Mã (phía Nam) đi ra Bắc qua dãy đá vôi Tam Điệp vượt Phố Cát, Dốc Giang, Thạch Thành đến địa bàn xã
Phú Long, huyện Nho Quan tới Phủ Đồi Ngang; qua Gia Thuỷ; Gia Tường; Xích Thổ (Nho Quan, Ninh Bình) và dọc theo bờ hữu sông Bôi, qua Chi Nê; Đầm Đa; chùa Tiên (Hoà Bình) hay qua Kim Bảng (Hà Nam); Chương Mỹ (Hà Nội) về bậc thềm phù sa cổ ven Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai, Hà Nội, là sự kết nối, thông tin - không gian từ các di vật, di tích khảo cổ học, làng cổ trên bậc thềm phù sa cổ tạm vạch ra con đường Thượng Đạo xưa. Vùng đất Sơn Lai là cửa ngõ phía Tây của “Hoa Lư tứ trấn”, thời nhà Trần (năm 1226), vùng đất này thuộc trấn Thiên Quan. Thời Hậu Lê, Sơn Lai thuộc phủ Thiên Quan, xứ Thanh Hóa. Đặc biệt “Năm thứ hai niên hiệu Thuận Thành Hồ Hán Thương (năm Nhâm Ngọ, tức năm 1402), tháng Ba, con đường từ Tây Đô (tức Thanh Hóa) đến Hóa Châu được sửa sang xây đắp lại, dọc đường cho đến phố xá có thể truyền thư tín, nên gọi là đường Thiên Lý”(3) Sơn Lai nằm trên trục đường Thượng đạo này.
Trong thời kỳ chống giặc phương Bắc, người anh em Lào đã đoàn kết hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nước ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “…năm Tân Mão năm thứ 2 (1471) (Minh Thành Hóa thứ 7)... Thổ quan phủ Trấn Ninh là Cầm Công sai đầu mục sang chầu và biếu sản vật. Thổ quan châu Thuận Bình là hội đạo nhị cùng đến. Bấy giờ vua về đến Thuận Hóa, tri châu là đạo Nhị và em là đạo Đồng cùng bộ lạc hơn 100 người đem voi đến biếu tặng…”. Giai đoạn Lê Sơ (1428 - 1527) Ninh Bình có 2 phủ là Trường Yên và Thiên Quan. Trong sử sách nhắc tới chuyện vua Lê Thánh Tông cho quần thần làm lễ và an táng phong cho công chúa là “Phấn Đại Hương” lập đền thờ tại đỉnh Đền Đồi, giai đoạn này trong lịch sử Lào là sự phát triển của Lào Lạn Xạng, tới thế kỷ XV, vua Xamxenthay nối ngôi cha trị vì, đất nước hòa bình không bị nạn ngoại xâm, quân đội hùng mạnh và mối bang giao với triều Lê Sơ rất tốt đẹp.
Đền Thượng Thái Sơn tọa lạc trên đỉnh đồi, giữa không gian làng quê yên bình với rừng cây cổ thụ rộng trên 5ha. Phía Tây là lăng mộ công chúa, phía Nam là núi Hóe Vụng, phía Đông là núi Mỏ Phượng, phía Bắc là núi Chon Gà. Đền quay hướng Nam, được xây dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần, hiện nay di tích gồm 3 tòa, tòa Trung Đường và Hậu cung còn giữ nguyên vẹn kiến trúc “Tiền đao Hậu đấu”. Tại di tích còn lưu giữ được ban thờ có ảnh công chúa chạm trên gỗ cùng nhiều đồ thờ tự có giá trị, đặc biệt là 04 sắc phong triều Nguyễn, trong đó có sắc phong vào ngày 12 tháng 01 năm Tự Đức thứ 6 (1852) phong cho bà mỹ tự “Linh Quang Huyền Cảm Diễm Quyên Nhàn Uyển chi thần”. Sắc phong ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) bà được phong là Thượng đẳng thần.
Theo truyền ngôn tại địa phương, Công chúa Nhồi Hoa là con gái vua nước Triệu voi được cử đem đàn voi sang Đại Việt thời Lê sơ và giúp vua Lê huấn huyện cho các chiến binh sử dụng voi chiến. Khi giao xong đàn voi và huấn luyện hướng dẫn cho các chiến binh, trên đường trở về không may công chúa bị lâm bệnh. Binh lính đi theo phải hạ trại, đóng hai đồn thành dinh lũy tại đồi Đền và đồi Đập lo thuốc thang cho bà. Sau một thời gian điều trị, công chúa được các thái y chăm sóc thuốc thang, hết lòng cứu chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm, công chúa qua đời tại trại đóng trên đồi Đền. Sứ giả báo về triều đình Đại Việt, vua Lê Thánh Tông cho quân thần về làm lễ, an táng tại khu vực đồi Đền, xây khu lăng mộ và cho lập đền thờ công chúa ngay tại đó. Sau đó, nhà vua cho người sang nước Lào báo tin. Triều đình Lào liền chạm ảnh công chúa trên gỗ và đưa sang nơi Bà mất làm lễ viếng đồng thời cũng là để lưu niệm tình đoàn kết giữa hai nước Việt - Lào. Truyền thuyết này rất hợp với lịch sử thời bấy giờ.
Và quan trọng hơn cả ngôi đền trong lòng người dân địa phương, qua những nghi thức thờ cúng trang nghiêm, tôn kính. Hàng năm, tại di tích diễn ra lễ hội truyền thống vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, ngoài phần rước kiệu quanh làng, tổ chức tế còn nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, đấu vật, kéo co, cờ người... Đặc biệt có múa hát theo điệu Lam Vông, điệu Chăm Pa (điệu múa hát cổ truyền của nước Lào) để tưởng nhớ về công lao của công chúa Nhồi Hoa, bảo tồn và tôn vinh truyền thống tốt đẹp hai dân tộc Việt - Lào.
Bảo tồn phát huy giá trị thiêng liêng của di sản
Quần thể di tích đền Thái Sơn nằm trong vùng Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, nơi mà các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và của tỉnh đều đề ra phương châm đặt con người làm trung tâm và văn hóa làm nền tảng để bảo tồn di sản, sáng tạo ra các giá trị mới. Từ đó, xây dựng chiến lược lồng ghép bảo tồn Quần thể danh thắng Tràng An với phát triển bền vững đô thị, biến Quần thể danh thắng Tràng An thành trung tâm dẫn dắt xây dựng mô hình “đô thị - di sản - hệ sinh thái - truyền thống văn hóa” kiểu mẫu trong khu vực.
Trong số đó thì Di tích đền Thái Sơn đã được dành sự quan tâm đặc biệt để nghiên cứu và xây dựng phương án trùng tu, tôn tạo di tích. Với mục tiêu chung và mục tiêu của tỉnh Ninh Bình đặt ra rất cao cả, mong muốn di tích Đền thờ công chúa Nhồi Hoa phải xứng tầm là biểu tượng của tình hữu nghị truyền thống lâu đời, keo sơn, gắn bó giữa hai dân tộc, hai đảng, hai nhà nước Việt Nam - Lào và Lào - Việt Nam.
Đền thờ phải xứng tầm là điểm đến văn hoá, lịch sử, tâm linh với lòng thành kính, giáo dục truyền thống văn hoá của quê hương đất nước, của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào và cho cả du khách quốc tế về tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước chúng ta Việt Nam và Lào. Và chúng ta cũng khẳng định, đền thờ được xác định là di tích văn hoá lịch sử, làm phong phú, sâu sắc, sâu đậm hơn những giá trị văn hoá, lịch sử của vùng đất Cố đô Hoa Lư Ninh Bình, với ý nghĩa là chúng tôi tập trung để đền thờ công chúa Nhồi Hoa.
Để làm được điều đó, chúng ta mong muốn có sự phối hợp của các nhà khoa học, các chuyên gia trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hoá của quốc gia, của tỉnh Ninh Bình, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Cần có sự tham gia, chủ động, tích cực, chân thành và trách nhiệm của các doanh nghiệp, xây dựng những chính sách thu hút nhà đầu tư, doanh nghiệp và cộng đồng, thúc đẩy mạnh mẽ sự tham gia của khu vực tư nhân và xã hội hóa nguồn lực trong công tác bảo tồn và phát triển kinh tế di sản. Đặc biệt mong muốn sự đồng tâm, đồng hành của các bạn Lào, của hai nhà nước và nhân dân hai nước vun đắp cho mục tiêu cao cả vun đắp, xây dựng tình hữu nghị của hai nước Việt - Lào chúng ta mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Trong không gian của Di sản Tràng An, khi chúng ta lập quy hoạch bảo tồn cần đặc biệt chú ý đến việc phục dựng, phỏng dựng kinh đô Hoa Lư trong không gian hành đô Sơn Lai xưa cùng với những công trình diễn giải về giá trị di sản, cách thích ứng của người Tiền sử, bảo tàng lịch sử tôn giáo tín ngưỡng (bảo tàng Phật giáo) cần có thêm những dự án bảo tồn làng cổ (làng Thái Sơn, nơi có di tích…), đường cổ (đường Thượng đạo xưa) cùng những di sản văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng tạo nên không gian đáng sống, đáng đến, tiếp tục khẳng định thương hiệu đa sắc thái văn hoá của Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An. Hoạch định tầm nhìn chiến lược phát triển Ninh Bình đến 2030 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo; một trung tâm lớn, có giá trị thương hiệu cao về du lịch, công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản của cả nước và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời liên tục bồi đắp và hình thành một cộng đồng từ việc: “Sống trong Di sản - Bảo vệ Di sản - Hưởng lợi từ Di sản” đến việc “Hiểu di sản - Yêu di sản - Tự nguyện gìn giữ Di sản” gắn với xây dựng từ chính bản sắc, chiều sâu di sản và niềm tự hào của người dân địa phương thúc đẩy chiến lược thương hiệu được xây dựng một cách có hệ thống, dài hạn và bài bản, dựa trên nghiên cứu khoa học, định vị rõ ràng trong chỉ dẫn địa lý và phân khúc thị trường cụ thể (di sản, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch học thuật…), đồng thời, gắn thương hiệu với giá trị kinh tế và tăng trưởng bền vững tạo ra lợi ích kinh tế to lớn nếu được quản lý và phát triển đúng cách. Đây là cơ sở để huy động đầu tư, liên kết vùng, phát triển sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng của ngành du lịch và công nghiệp văn hóa.
N.C.T
(Nguồn: TC VNNB số 319 - 05/2026)
Chú thích:
[1]. Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Văn học Đông A, Hà Nội 2017, Tr.130.
2. Nguyễn Lữ - Cao Tấn, Phát hiện dấu tích kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở đền Lăng, Báo Ninh Bình, 2004.
3. Phủ biên tạp lục, tập I . Lê Quý Đôn. tr. 35