Thứ ba, 18/08/2026

Đặng Tử Mẫn một chiến sĩ cách mạng kiên cường của Việt Nam Quang Phục hội

Thứ tư, 17/06/2026

(Nhân kỷ niệm 100 năm 1926 - 2026 ngày mất của chiến sĩ cách mạng Việt Nam Quang Phục hội Đặng Tử Mẫn) 

 

ThS. HOÀNG PHƯƠNG

1. Vài nét về lịch sử Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX

Sau khi phong trào Cần Vương tan rã, các sĩ phu văn thân yêu nước bị chính quyền thực dân phong kiến đàn áp khống chế, nhưng còn rất nhiều người vẫn đau đáu nỗi lòng con cháu Lạc Hồng với giang sơn gấm vóc.

Trong số ấy có Phan Bội Châu đã vào Nam ra Bắc tìm cách tổ chức lực lượng cách mạng. Vào năm 1904 Phan Bội Châu cùng hơn hai chục người tâm huyết đã tập họp nhau tại Nam Thịnh sơn trang (Quảng Nam) để lập ra một tổ chức bí mật có tên gọi là Duy Tân hội. Mục đích của hội là khôi phục non sông Việt với chủ trương: liên kết các văn thân sĩ phu để tập họp lực lượng chống Pháp, khi cần thì cầu ngoại viện. Duy Tân hội ra đời đã mời Kỳ Ngoại hầu làm Hội chủ. Hội chủ trương phát triển thế lực về người và tài chính, chuẩn bị lực lượng đấu tranh vũ trang, xác định phương hướng ra nước ngoài cầu viện được nhiều hội viên tán thành. Tháng Giêng Ất Tỵ (1905) Phan Bội Châu, Đặng Tử Kinh được Tăng Bạt Hổ dẫn đi theo đường biển qua Trung Quốc để tới Hoành Tân (Yokohama Nhật Bản). Duy Tân hội đưa Cường Để sang Nhật; cùng viết sách báo gửi về cổ vũ phong trào và tranh thủ dư luận thế giới.

Ở trong nước thực dân Pháp đã đàn áp Đông Kinh Nghĩa thục ở phía Bắc Kỳ và phong trào cự sưu khất thuế (chống sưu thuế) ở Trung Kỳ. Do thư gửi qua đường bưu chính nên Pháp đã đón bắt được hai phái viên của hội khi họ từ Nhật về tới Sài Gòn. Pháp đã thẳng tay đàn áp phong trào và ký với Nhật hiệp ước để đuổi du học sinh Việt Nam khỏi Nhật, đổi lại cho Nhật vào Việt Nam buôn bán. Từ đó học sinh Việt Nam ở Đông Á đồng văn thư viện ở tô giới của Nhật bị giải tán. Tháng 3 năm 1909 cả Cường Để và Phan Bội Châu đã bị trục xuất khỏi Nhật. Nhiều người bị bắt, một số tìm cách lẩn tránh vượt khỏi tô giới Nhật sang đất Trung Quốc, rồi sang Xiêm. Tháng 6/1912 Duy Tân hội quyết định giải tán và thành lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ chuyển từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ với mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, lập nước cộng hoà dân quốc.

2. Đặng Tử Mẫn chiến sĩ cách mạng kiên cường của Việt Nam Quang Phục hội                    

Đặng Tử Mẫn quê làng Hành Thiện huyện Xuân Trường, Nam Định (nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình). Ngoài tên khai sinh là Đặng Huy Dật, khi hoạt động cách mạng ông Tử Mẫn còn có tên là Đặng Ôn, Ngô Loan.

Đặng Tử Mẫn là con cụ Tú tài Đặng Huy Duệ, từ nhỏ ông được gia đình cho theo học ở trường của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên. Đặng Tử Mẫn thông minh học giỏi là học sinh xuất sắc của ngôi trường này.

Vào năm 1904 Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước do Phan Bội Châu khởi xướng với Kỳ Ngoại hầu Cường Để làm minh chủ (hội trưởng) được thành lập để đấu tranh chống Pháp bằng vũ trang, giành độc lập cho dân tộc. Duy Tân hội đề ra 3 nhiệm vụ:

- Mở rộng thế lực của hội, thu hút người vào hội, thu hút hội phí

- Chuẩn bị kế hoạch khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc

- Xuất dương sang Nhật Bản để học tập.

Năm 1905 Phan Bội Châu sang Nhật tìm sự giúp đỡ (cầu viện) của các nước láng giềng đồng văn, đồng chủng (da vàng) là Nhật Bản và Trung Hoa. Nghe theo lời khuyên của các nhà cách mạng Trung Quốc, Phan Bội Châu quyết định trước hết là đưa thanh niên đi du học, chuẩn bị lực lượng để đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.

Năm 1906 Đốc học Nam Định Nguyễn Thượng Hiền một yếu nhân của Duy Tân hội tìm đến Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên vừa là bạn, vừa là anh em đồng hao để trao đổi bàn bạc về việc tìm những thanh niên ưu tú đưa sang Nhật du học nhằm chuẩn bị lực lượng cho đấu tranh chống Pháp. Một số học trò ưu tú của Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền, của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên trong đó có Đặng Huy Dật chuẩn bị lên đường. Cuối năm 1906 Đặng Huy Dật (Đặng Tử Mẫn) đã bán gia tài 50 mẫu ruộng của mình, để lại một nửa cho vợ và con trai nhỏ mới lên ba ở quê, còn một nửa ông mang theo rồi cùng 3 người bạn là Đặng Đoàn Bằng (Đặng Xung Hồng), Đặng Quốc Kiều (Hai Kiều), Nguyễn Xuân Thức (Tư Thức) và một người nữa cùng làng Hành Thiện cầm thư giới thiệu của cụ Nguyễn Thượng Hiền sang Nhật tìm Phan Bội Châu. Họ đã gặp được Phan Bội Châu ở Yokohama Nhật Bản và đưa cho Phan Bội Châu số tiền là 1.000 đồng Đông Dương (trị giá 50 lạng vàng) để ủng hộ Duy Tân hội. Đây là số tiền thật quý giá đã giúp cho Phan Bội Châu vượt qua khó khăn trong thời điểm đó. Trong cuốn Tự phê phán Phan Bội Châu viết về cuộc gặp gỡ này: “Hạ tuần tháng 11, tôi thấy số học sinh xuất dương hãy còn ít, mà công việc cách mạng trong nước cũng chả thấy tin tức gì, nóng ruột muốn về nước ngay để tự mình tham gia việc vận động, nhưng khó vì nỗi không đủ lộ phí, may sao có 5 người thanh niên ở Nam Định vừa xuất dương tìm đến gặp tôi là anh Đặng Xung Hồng, Đặng Tử Mẫn và một anh trẻ tuổi nhất là Đặng Quế Kiều (14 tuổi) cùng 2 người nữa. Ba anh kể trên đều rất nhanh nhẹn đáng yêu, mà sốt sắng kiên quyết thì anh Đặng Tử Mẫn vẫn hơn cả; sau này có anh dám làm công việc mạo hiểm đem thân mình hy sinh cho sự nghiệp cách mạng… các anh đưa ra hơn một ngàn đồng để giúp đảng, bấy giờ tôi mới quyết định việc trở về nước…”(1)

Đến Nhật, Đặng Tử Mẫn theo học ở trường Võ bị Chấn Vũ Đông Kinh (Tokyo). Tháng 3 năm 1908, Pháp phát hiện có đường dây đưa thanh niên đi du học là do phụ huynh của học sinh ở Nam Kỳ gửi thư cho Phan Bội Châu theo đường bưu điện công khai nhắn cho người về nước để nhận tiền quyên góp. Phát hiện được việc này, Pháp đã bố trí người vây bắt được Hoàng Quang Thanh và Đặng Bỉnh Thành là hai người được cụ Phan Bội Châu cử về nước liên lạc với các hội viên Duy Tân ở Nam Kỳ cùng với mọi giấy tờ khi tầu thuỷ vừa cập cảng Sài Gòn. Từ đó Pháp buộc các phụ huynh ở Nam Kỳ phải gọi con em mình đang học ở Nhật phải về nước, cùng lúc khám xét, bắt bớ các hội viên Duy Tân hội và những người liên quan.

Cuối 1908 phong trào cách mạng phát triển như ở Trung Kỳ có phong trào chống thuế, ở Bắc Kỳ có Đông Kinh Nghĩa thục, rồi vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (Hà Thành đầu độc)… Pháp đã tìm mọi cách đối phó như đã đưa quân về đóng ở đình làng Hành Thiện để truy lùng đàn áp phong trào Duy Tân nơi có những thanh niên xuất dương sang Nhật du học.

Tháng 9 - 1908 Pháp ký với Nhật một Hiệp ước, theo đó Nhật được mở rộng tự do buôn bán ở Đông Dương, đổi lại Nhật phải trục xuất tất cả thanh niên du học sinh người Việt đang du học ở Nhật phải về nước. Ngay lập tức trong ngày Đặng Tử Mẫn và các du học sinh theo học tại trường Võ bị Tokyo đang liên hoan mừng tốt nghiệp thì nhận được lệnh của chính quyền Nhật Bản là “Giải tán du học sinh Việt Nam”.

Đầu năm 1909 Nhật đã buộc được đa số du học sinh Việt Nam về nước. Một số người trung kiên của phong trào trong đó có Đặng Tử Mẫn đã quyết định ở lại. Đặng Tử Mẫn đã đổi sang tên Trung Quốc, rồi vừa đi làm, vừa trao dồi học thêm kiến thức. Nửa năm sau ông từ Nhật sang Trung Quốc đi lại giữa Hương Cảng và hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, liên hệ với các đảng viên cách mạng Trung Quốc. Ông đã cùng Đặng Thúc Hứa bí mật tìm mua vũ khí để chuyển về Việt Nam giúp cuộc chống Pháp của cụ Đề Thám. Tháng 10 - 1910 việc bại lộ, vũ khí bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Công tịch thu, ông đã trốn khỏi Hương Cảng, sang lục địa, rồi sang Thái Lan cùng cụ Phan Bội Châu vượt qua bao gian khó. Trong cuốn Tự phê phán cụ Phan viết: “Anh (Đặng Tử Mẫn) thường cùng tôi đi ăn xin ở các cánh đồng nước Xiêm, tuyệt nhiên anh không lộ vẻ buồn rầu”.

Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911) thành công mang đến hy vọng mới cho những người yêu nước Việt Nam. Cụ Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình thành lập Việt Nam Quang phục hội một tổ chức cách mạng yêu nước chủ trương đấu tranh vũ trang giành độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước Việt Nam dân quốc. Trong tổ chức Việt Nam Quang phục hội, Phan Bội Châu làm Phó hội chủ đồng thời làm đại diện của Trung Kỳ, Nguyễn Thượng Hiền là đại diện của Bắc Kỳ, Nguyễn Thần Hiến là đại diện của Nam Kỳ. Ba ông là “Bình nghị Bộ” của Việt Nam Quang Phục hội. Đặng Tử Mẫn cùng Mai Lão Bang là uỷ viên ban Kinh tế, ông Đặng Tử Mẫn kiêm nhiệm chức thủ quỹ hội và đã cho phát hành Quân dụng phiếu.

Năm 1913, ông Mẫn cùng Đặng Bỉnh Thành và 4 hội viên khác chế tạo vũ khí ở Hương Cảng, do sơ suất ông để trái bom tự tạo phát nổ làm cụt mất 3 ngón tay nên phải vào bệnh viện. Khi ông rời bệnh viện thì bị cảnh sát Anh bắt rồi kết án tù 6 tháng. Ra tù ông đã cùng đồng chí của mình là Trần Hữu Lục thủ tiêu viên mật thám Bát Hựu đang theo dõi các ông. Ông thoát khỏi Hương Cảng đi tới vùng biên giới Việt - Trung tìm hiểu địa hình thông thổ, tìm nơi có điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các cuộc tấn công vào đồn binh Pháp nhằm gây thành thế theo chủ trương của Việt Nam Quang Phục hội. Ông còn liên hệ với các nhà cách mạng của Trung Quốc và một số thủ lĩnh ở địa phương nhờ họ giúp đỡ đánh đồn binh Pháp ở biên giới Việt - Trung. Trong các năm 1914 - 1915, Đặng Tử Mẫn cùng đội quân của Việt Nam Quang phục hội tấn công các đồn Tà Lùng (Cao Bằng), Na Sầm (Lạng Sơn), ở Hoàng Su Phì (Hà Giang), ở Móng Cái (Quảng Ninh). Tháng 5 -1915 Toàn quyền Đông Dương Albert Saraut ra lệnh truy nã Phan Bội Châu, Cường Để, Phạm Tử Mẫn và một số người khác trong Việt Nam Quang Phục hội về tội chế tạo vũ khí bất hợp pháp và chống lại nhà cầm quyền. Ngày 22 - 01 - 1916, ông Tử Mẫn bị bắt giam 3 tháng ở Quảng Tây. Bị trục xuất khỏi Quang Tây, ông liền sang Quảng Châu (Quảng Đông), ông chở vũ khí từ Quảng Châu về Hải Phòng trang bị cho Việt Nam Quang Phục hội và nhiều lần thâm nhập về Việt Nam tuyên truyền chống Pháp. Năm 1918 ông xâm nhập về Hải Ninh (Quảng Ninh) vận động binh lính người Việt ở đồn Bình Liêu nổi dậy chống Pháp nhưng không thành công. Những năm sau đó cho tới 1921, ông tiếp tục xâm nhập vào Lạng Sơn tuyên truyền công cuộc đánh Pháp. Những bất ổn ở biên giới Việt - Trung làm cho thực dân Pháp vô cùng lo lắng, vì vậy Pháp đã treo giải thưởng một vạn đồng Đông Dương (trị giá 500 lạng vàng có thể mua được 500 khẩu súng Mauser) cho ai lấy được mạng ông.

Cuối năm 1926 ông bị quân đội ở Vân Nam của tướng Hoàng Bội Quế bắt được, trên đường đưa về thủ phủ Vân Nam, ông tìm cách trốn thoát và bị bắn chết, chúng chặt hai bàn tay ông đem về lĩnh thưởng vì ông bị mất 3 ngón tay (khi chế bom) để Pháp có thể nhận dạng về ông.

Nhà sử học Giáo sư Georges Boudarel (Trường Đại học Paris VII đã viết bài về Đặng Tử Mẫn với nhan đề L/ homme Aux doiggts arrache/s (Người có các ngón tay bị bứt cụt) thuật lại cuộc đời hoạt động của ông (Đặng Tử Mẫn) và nhận xét rằng: Ông là nhà cách mạng Đông Du hoạt động hăng say và liên tục nhất.

Đặng Tử Mẫn - ông không chỉ là niềm tự hào của người Hành Thiện nói riêng mà là niềm tự hào của bao thế hệ người Việt chúng ta, một tấm gương về lòng yêu nước kiên trung, không sợ khó khăn, không quản ngại gian nguy, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho độc lập của Tổ quốc Việt Nam./. 

Chú thích: (1) Phan Bội Châu. Tự phê phán/ Văn Sử Địa. XB 1955, tr. 88.

H.P

(Nguồn: TC VNNB số 319 - 05/2026)

Bài viết khác