MAI ĐỨC HẠNH
1. “Vườn Kim Quất”, Hành Cung trang
Làng Giao Thủy, có tên Nôm là làng Keo. Làng Keo là tên Nôm của một làng cổ ven sông Hồng, có từ trước thế kỷ thứ X, xưa là ấp Hộ Xá nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ, tiếp giáp với huyện Vũ Thư - Thái Bình (cũ) và huyện Trực Ninh - Nam Định (cũ). Đời Lý Thánh Tông (1054-1072), người làng Giao Thủy dựng ở ven sông Hồng ngôi chùa gọi là chùa Keo, tên chữ là Nghiêm Quang tự, thờ Thánh Minh Không (1065 - 1141), người Điềm Xá (Ninh Bình), Quốc sư triều Lý, người Ninh Bình gọi là Đức Thánh Minh Không, người Nam Định gọi là Thiền sư Dương Không Lộ (nhân vật còn có nhiều tranh cãi, chưa có hồi kết).
Tương truyền, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập cả làng Giao Thủy, sạt lở cả làng Nghĩa Xá. Sau nhiều lần di dời, dân làng Giao Thủy định cư ở bờ tả ngạn, chếch về phía Tây Bắc, lập làm trang Dũng Nhuệ1, bờ phía Bắc của sông Hồng, thời Tự Đức (1848 - 1883) đổi thành xã Dũng Nghĩa, sau thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (cũ), năm 2025 thuộc tỉnh Hưng Yên; người dân Nghĩa Xá định cư ở một khu đất có vườn cam ngọt gọi là “Vườn kim quất”. Khu vườn cam ngọt ấy thường được các vua nhà Trần đến chơi, sau lập thành trang Hành Cung. Trang Hành Cung2 nằm ở hữu ngạn sông Hồng (bờ phía Nam). Dân hai trang Dũng Nhuệ và trang Hành Cung đều xây dựng lại các chùa mới tại trang ấp định cư của mình, cùng lấy tên là chùa Keo, tên chữ là Thần Quang tự. Chùa của trang Dũng Nhuệ gọi là chùa Keo Thượng (hay Keo trên) nay thuộc Vũ Thư, Thái Bình (cũ); chùa của trang Hành Cung gọi là chùa Keo Hạ (dưới). Thời Trần, chùa Keo Hạ thuộc phủ Hải Thanh sau đổi làm phủ Thiên Trường. Thời Hậu Lê, trang Hành Cung được nâng lên thành xã Hành Cung.
Năm 1823, đời vua Minh Mạng (1820 - 1840) đổi trang Hành Cung làm Hành Thiện. Tên Hành Thiện - nơi làm những điều lành, điều thiện - có từ khi đó. Trước 1/7/2025, Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.
2. Hành Thiện đất linh
|
Làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình có diện tích 409 ha, dáng "Lý Ngư" vẫy vùng trong tích truyện “Cá chép vượt vũ môn” ẩn chứa nhiều huyền tích kỳ bí gắn liền với thầy địa lý “Tiên tích đức, hậu tầm long”, Tả Ao - “Thánh phong thủy”, nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ, giáp giới hai huyện Vũ Thư - Thái Bình (cũ) ở phía Bắc và Trực Ninh - Nam Định (cũ) ở phía Nam. (Xem ảnh bên) |
Bản đồ Hành Thiện (1947), ảnh sưu tầm
|
Hai nhánh của sông Con3 (nhỏ) như vòng tay mềm mại, lại như hào lũy bao ôm gọn lấy làng một cách tự nhiên, rất hợp với phong thủy. Nhìn từ trên cao, sông Con như đường viền sóng nước lấp lánh làm nổi bật dáng của “cá chép”, đầu ở phía Nam hướng ra ngã ba sông Hồng - Ninh Cơ, đuôi ở mạn Bắc, phía sông Hồng - Thái Bình, bụng tựa “nghiên mực” ở phía Tây, lưng quay sang phía Đông. Sông Con bao quanh khép kín, làm ranh giới nước tự nhiên phân Hành Thiện (Keo hạ) với những vùng đất chung quanh. Theo xã chí của làng, Hành Thiện - Hành Cung trang của các vua Trần chạy dọc từ đầu cá và mắt cá (hiện là chợ và giếng làng) tới đuôi cá (gồm chùa, nghĩa địa và cánh đồng). Xâu chuỗi, gắn kết 14 dong (xóm - phố) làm xương sống cá bằng một con đường trục lát gạch nghiêng (làm thân cá); hai bên là hai “dãy hàng phố”, nhà đều quay về hướng Đông Nam làm nơi cư dân của làng sinh sống. Bến nước ở lối trước và lối sau tượng trưng cho các vi, vây cá.
Đầu cá ứng với đầu làng, có miếu Tam giáp4 thờ người có công đầu tạo lập và phù trợ làng; “mắt cá” là giếng nước dân gian gọi là Giếng Ngọc. Phần mang cá là 4 gian đình chợ làng. Truyền rằng: vào thời Lê Sơ, thầy địa lý Tả Ao đi qua phủ Xuân Trường, đến làng Giao Thủy (tên cũ của làng Hành Thiện bây giờ) được người làng tiếp Cụ rất chu đáo. Khi dân làng ngỏ ý muốn cụ xem cho thế đất của làng. Cụ ngắm nhìn sắp lượt rồi nói: Kiểu đất làng rất đẹp, chẳng khác gì hình con cá đang quẫy đuôi tung mình ra biển. Chỗ kia là đầu và mình cá, cánh đồng kia là khúc đuôi. Sau này kết phát, khúc đuôi đó sẽ nở to dần, do đất phù sa của sông Con bồi vào. Lại nữa, những con lạch (sông Con) bao bọc quanh làng là mạch nước nuôi sống con cá, quanh năm chẳng bao giờ bị cạn. Nhờ đó dân trong làng ta được thịnh vượng, làm ăn phát đạt, ít bệnh tật ốm yếu. Chỉ hiềm một nỗi là con cá không có mắt, nên đến giờ làng vẫn không thể phát kết khoa danh. Nghe thế, làng khẩn khoản xin thầy điểm mắt cho cá. Cụ Tả Ao liền tìm đúng vị trí huyệt mạch rồi bảo dân làng đào một cái giếng để làm mắt cá. Giếng Ngọc ngày nay là cái giếng “mắt cá” ấy. Giếng không sâu, nước không thật nhiều nhưng nước giếng thiêng, cần giữ sạch, sau này dân làng sẽ có nhiều người đỗ đạt và làm quan.
Các làng vùng Bắc bộ xưa thường có cổng làng, bao bọc bảo vệ làng bằng các lũy tre. Là làng Bắc bộ nhưng Hành Thiện không có cổng làng, chỉ có cổng xóm, lấy sông làm hào, lũy bảo vệ làng. Lối vào xóm (làng) qua sông bằng các cây cầu. Trước năm 1945, làng có 8 cầu, nay là 19 cầu. Những cây cầu quanh làng ứng với “cổng xóm”, được xây dựng ở vị trí tương ứng với các lớp “vi, vây” trên mình cá.
Khu dân cư của làng bắt đầu từ mang cá đến rốn cá, chia hình “thân cá” thành 14 khúc, ứng với 14 dong, thông nhau, từ lối trước ra lối sau theo hình xương cá. Mỗi khúc (dong) cách nhau 60 mét (còn gọi là đạc). Khúc (dong) dài nhất là 600 mét, khúc ngắn nhất là 200 mét. Dong dài được chia làm hai xóm, dong ngắn là một xóm. Chúng cách nhau đúng 200m như đường hàng phố. Hàng phố ấy là nơi sinh sống của dân làng, có các cửa hàng cửa hiệu buôn bán sầm uất.
Làng có ba dòng họ lớn là Nguyễn, Đặng và Phạm. Dòng họ Đặng phân biệt bằng tên đệm: Đặng Xuân, Đặng Vũ, Đặng Đức, Đặng Ngọc, Đặng Huy, Đặng Hữu. Ngoài ra còn hai chục họ nhỏ khác. Cư dân Hành Thiện sống tập trung hai bên đường dong (phố) đông đúc trở thành khu dân cư sầm uất đông vui từ rất lâu đời.
Ở phần đuôi cá là chùa miếu để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Làng Hành Thiện có tới hai ngôi chùa5 và khu nghĩa trang “nơi về” của người Hành Thiện cùng đứng ở phần “đuôi cá” (cuối làng). Phía ''bụng cá'' giáp làng Ngọc Tiên có hình giống một nghiên mực; phía giáp làng Hương Phúc là "lưng cá'' có mảnh đất giống cái ngòi bút. Đầu cá có miếu Thành Hoàng ngự, giữ bản sắc thuần phong của làng; Đuôi cá Thiền sư Minh Không ngự trấn làm phúc thần bảo an.
Theo cách nhìn của các nhà phong thủy, hình dáng của làng Hành Thiện là thế đất thiêng cá chép gặp nước hóa rồng. Chính vì thế mà Hành Thiện trở thành mảnh đất địa linh nhân kiệt với những người con ưu tú, thành đạt nhất vùng.
3. Làng nghề Hành Thiện
Người Sơn Nam xưa truyền rằng: “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” phía Đông (Hải Phòng), có làng Cổ Am6, phía Nam (Nam Định cũ) làng Hành Thiện có nhiều người học hành đỗ đạt; người Nam Định lưu truyền “Đậu phụ Thủy Nhai7, Tú tài Hành Thiện” (làng Thủy Nhai làm đậu phụ ngon nhất, Hành Thiện có nhiều Tú tài).
Người Hành Thiện có hai nghề “gia truyền”: “Trai học hành, gái canh cửi” (nghề “học” của con trai và nghề dệt vải của con gái). Con cá chép Hành Thiện nổi bật giữa vùng quê yên bình của xứ Sơn Nam. Học và dệt vải ở làng Hành Thiện thời bấy giờ là hai nghề song song cùng phát triển. Cũng không hẳn vì đất đai của làng Hành Thiện chật chội, chẳng đủ ruộng để cày thì phải “cày sách”, “bất ly tổ phụ bất giàu sang”. Tất cả mọi người trong làng cùng đi học, không phân biệt giàu nghèo, học giỏi hay chậm chạp. Nhiều người Hành Thiện có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn quyết chí học, coi học là một nghề cao quý được lựa chọn và dâng hiến. Có những người nhà nghèo như cụ Nguyễn Trọng Trù dù đi cày bừa hay giã gạo cũng mang theo sách để học, năm 19 tuổi đã đỗ Cử nhân. Cụ Đặng Hữu Ngữu, thuở hàn vi không có tiền theo học, đến nhà thầy Nguyễn Như Bổng xin vào thổi cơm, rửa bát… để được ngồi học, đỗ Cử nhân năm 20 tuổi. Giáo sư Vũ Khiêu nói về Hành Thiện của mình: “Ở làng quê đó, mỗi sáng chỉ nghe tiếng đọc bài của con trai, tiếng đạp vải của con gái và tiếng sáo diều”. Ở Hành Thiện, người có chữ luôn được trọng hơn người giàu. Những gia đình giàu có cũng rất trọng chữ, trọng hiền tài. Họ thường chọn những nho sinh, hàn sĩ nghèo để gả con gái và lấy đó làm niềm vinh hạnh.
Hơn tám trăm năm (1075 - 1919) của giáo dục Nho học Việt, làng Hành Thiện có 419 người đỗ đạt, trong đó: 7 đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Người khai khoa của làng là cụ Nguyễn Thiện Sĩ, đỗ Cử nhân, người đỗ cao nhất là Tam giáp Tiến sĩ đệ nhất danh Đặng Xuân Bảng, ông nội của cố Tổng bí thư Trường Chinh. Làng có bốn quan Thượng thư; bốn quan Tuần phủ; bốn Tổng đốc; 23 quan triều đình; 69 quan Tri phủ, Tri huyện… Làng có 17 họ thì 11 họ có người thi đỗ. Thời Nguyễn (1802 - 1919), Hành Thiện lập kỷ lục khi 42 kỳ thi hương ở Nam Định đều có người đỗ Hương cống - Cử nhân, đứng đầu cả nước về số người đỗ đạt. Nhiều gia đình cả cha và con đỗ cùng khoa, nhiều người đỗ đạt từ khi còn nhỏ như Đặng Huyết đỗ tú tài (11 tuổi), Đặng Xuân Bảng đỗ Tiến sĩ năm 29 tuổi…
4. Người Hành Thiện gìn giữ phong tục truyền thống
Truyền thống hiếu học của người Hành Thiện rất đặc biệt. Ngoài việc khắc tên tân khoa vào bia Văn chỉ ở đình, làng còn coi việc học là một nghề. Nghề đó được người Hành Thiện lưu truyền trong nhân gian trở thành nét văn hóa, văn hiến, niềm tự hào và đậm đà màu sắc trữ tình: “Sáng trăng trải chiếu hai hàng/ Chiếu anh đọc sách, chiếu nàng quay tơ”. (Ca dao Nam Định)
Các thế hệ người Hành Thiện luôn biết cách tiếp nối và nuôi dưỡng truyền thống đó. Xưa, làng Hành Thiện còn có văn chỉ thờ thánh hiền và ghi danh các tân khoa tiền bối để các nho sinh đến đó cầu khấn trước khi đi thi và lễ tạ khi đỗ đạt trở về. Thế hệ đi trước luôn hỗ trợ thế hệ đi sau vươn lên trong học tập. Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) sau khi trí sĩ, về làng (1878) mở trường dạy học. Ông đã lập ra Hy Long thư viện – nơi chứa sách Hán học lớn nhất Bắc kỳ thời bấy giờ. Hành Thiện còn có tủ sách của cụ Phó bảng Đặng Đức Dịch, cụ Nghè Nguyễn Ngọc Liên… Nhờ nhiều thầy giỏi và nhiều sách quý, học trò Hành Thiện biết nhiều, hiểu rộng, tri thức uyên thâm vang dội cả vùng Sơn Nam (tỉnh Ninh Bình ngày nay).
Vì thế, năm 1823, vua Minh Mạng (1820 - 1840) ban tặng cho Hành Cung trang 4 chữ: “Mỹ tục khả phong” (đạo sắc phong cho vùng đất nhiều phong tục đẹp) và đổi tên trang Hành Cung thành Hành Thiện.
Không chỉ thế, đời nối đời, dù ở đâu thì người Hành Thiện vẫn mang theo hồn cốt của quê hương, giữ nếp nhà, sống mực thước, trọng tri thức, ham nghề học.
Trong tư duy của người Hành Thiện, học và hành dường như là phương thức duy nhất để tồn tại, nó được giống như “đạo làm người” vậy. Người Hành Thiện ham học đến kỳ lạ. Chẳng quý gì bằng chữ. Chữ nghĩa, vừa giống như cơm để ăn, nước để uống, khí để thở, vừa là ân đức thiêng liêng, tôn kính truyền đời. Người, người đi học, nhà, nhà cùng học. Học luôn là bắt đầu mà không có điểm kết thúc. Người Hành Thiện giao tiếp với nhau bằng khẩu khí trí tuệ có từ học vấn, bằng những “ẩn ý” thâm thúy có trong “điển tích”, hành xử trước là bằng văn hóa “tôn sư” sau là tình nghĩa“bằng hữu”, luôn “kính lễ” không hẳn chỉ là ngôn ngữ thường ngày. Bố mẹ nghèo đến mấy, dù có phải làm thuê, cuốc mướn, vẫn dành dụm chu cấp cho con cái học hành tử tế, luôn coi đó mới tròn “đạo” làm cha mẹ. Một người học hành giỏi giang, thành công, thành danh không chỉ là niềm tự hào của gia đình mà còn của cả dòng tộc, quê hương. Người con đó được tôn vinh bằng những nghi thức văn hóa truyền thống, không chỉ là khắc vào bia đá của làng.
|
Bia đá sân đình hiện nay trở thành biểu tượng văn hóa mà người già, con trẻ của làng đều tôn kính và tự hào. Đến năm 2023, bia làng đã khắc tên hơn 220 Tiến sĩ, trong đó có hơn 80 Giáo sư, Phó Giáo sư. (Xem ảnh bên) Truyền thống hiếu học, trọng chữ, trọng người tài, “nghề học” của Hành Thiện như một dòng chảy liên tục, không bị đứt đoạn, thời kỳ nào cũng có người tài cho đất nước, xứng là: “Bắc Hà Hành Thiện, Hoa Diễn Quỳnh Đôi”. Làng còn có hàng chục tướng lĩnh quân đội, anh hùng lực lượng vũ trang, Bộ trưởng. |
Bia đá Hành Thiện (ảnh sưu tầm)
|
Hàm Giáo sư có Đặng Vũ Khiêu - người viết “Văn bia tưởng niệm Lý Thái Tổ” ở cố đô Hoa Lư, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Vũ Minh, Nguyễn Sĩ Quốc, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Việt Tiến… nổi danh đất học Hành Cung. Ba nhà khoa học được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh: GS. Anh hùng Lao động Đặng Vũ Khiêu; GS Y khoa Đặng Vũ Hỷ; GS.TS. Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Xuân Thụ… xứng danh đất học, làng khoa bảng mà không nhiều làng quê ở Việt Nam có được.
Tôi xin mượn hai câu thơ phong tình của người con Hành Thiện - nhà thơ Sóng Hồng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam - Trường Chinh để kết lại bài viết về “LÀNG NGHỀ HÀNH THIỆN”, đất khoa bảng, miền đất địa linh nhân kiệt này. Thơ rằng: “Trăng xuống làm gương em chải tóc/ Làm đèn anh học suốt đêm dài”. (Sóng Hồng -Trường Chinh)
----------
1. Dũng Nhuệ, một làng cổ ở phía bắc sông Hồng, lập năm 1611, thời Tự Đức được đổi tên thành xã Dũng Nghĩa, huyện Vũ Thư, Thái Bình, nay thuộc tỉnh Hưng Yên; 2. Hành Cung Trang - trang trại là cung nghỉ của vua khi vi hành; 3. Sông Con, con sông nhỏ (để phân biệt với sông Cái – sông Ninh Cơ và sông Hồng) được tạo thành bởi những cư dân đầu tiên đến đây khai khẩn vùng đất nhằm mục đích phù hợp với phong thủy và ngăn giặc cướp; 4. Miếu Tam giáp thờ 3 vị Thượng đẳng thần Thành hoàng của 3 giáp Đông, Nam, Bắc và phụng thờ Cửu Công. Miếu ở đầu cá, bên chợ nên dân gian gọi là miếu Chợ; 5. Hai ngôi chùa là Thần Quang tự - chùa Keo hạ thờ Đức Thánh Tổ Thiền sư Không Lộ (nhân vật trong nhiều truyền thuyết gây tranh cãi), vị Thánh bảo hộ của dân làng, được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia (1962) hơn 400 năm tuổi và Đĩnh Lan Tự (chùa Ngoài) thờ Mẫu gắn liền với sự tích về một bức tượng Mẫu trôi dạt vào làng, được trẻ mục đồng hương khói và phù hộ cho những người lính ra trận, từ đó nhân dân lập chùa thờ phụng; 6. Cổ Am xưa có tên là Úm Mạt thuộc tổng Đông Am, Hải Dương, nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng được biết đến “Cổ Am tiếng nhất xứ Đông” có một thứ nghề: nổi tiếng là “Nghề học”. Đất nghèo sinh chí học. Từ thế kỷ 15, Cổ Am đã có nhiều sĩ tử nổi tiếng về tài thi phú, được người đương thời mệnh danh là một trong “Ngũ hổ Tràng Am”. Thế kỷ 19, đất Cổ Am được mệnh danh là “Tứ Kiệt xứ Đông” (Nhất Đội, nhì Huy, tam Kỳ, tứ Vượng). Cố Am (Hải Phòng) và Hành Thiện (Nam Định) là các làng khoa bảng “Đệ nhất đất Việt” có nhiều người đỗ đạt; 7. Thủy Nhai cách Hành Thiện không xa là làng nổi tiếng với nghề làm đậu phụ.
M.Đ.H
(Nguồn: TC VNNB số 311 - 10/2025)