Chủ nhật, 17/05/2026

Làng Thư Điền - “Ruộng sách” và trận mạc

Thứ năm, 16/04/2026

NGUYỄN TỬ CHƯƠNG

 

Trong cấu trúc văn hóa của một vùng đất, làng bao giờ cũng là hạt nhân, là tế bào sống của lịch sử. Mỗi làng quê Việt Nam là một trầm tích nhiều tầng, nơi thời gian không mất đi mà lắng lại. Làng Thư Điền - tên cũ là Giá Hộ - cũng là một thực thể như thế: Một không gian văn hóa được hình thành từ xa xưa, nơi thiên nhiên, tín ngưỡng, dòng họ và lịch sử dân tộc đan cài thành một chỉnh thể.

Về nguồn gốc làng Giá Hộ có từ bao giờ, đến nay vẫn chưa tìm thấy văn bản chính sử khả tín xác định niên đại thành lập. Nhưng trong lịch sử làng xã Việt Nam, không phải mọi giá trị đều nằm trong sử liệu triều đình; nhiều khi di cảo tiền nhân, ký ức cộng đồng và di tích vật chất cũng là những “chứng nhân thầm lặng” rất đáng tin cậy. Tư liệu còn lưu giữ được cho biết: “Chùa Hưng Long có từ xa xưa, tường đất mái tranh, đến tháng Chạp năm Nhâm Thìn (1592) mới tu sửa lại, xây tường đá, lợp ngói”. Dấu mốc 1592 ấy đặt ngôi chùa vào cuối thế kỷ XVI - một thời đoạn đầy biến động của lịch sử Đại Việt.

Chùa không chỉ là nơi thờ Phật; trong kết cấu làng Việt, chùa là trung tâm tinh thần, là nơi cố kết cộng đồng. Chùa Hưng Long vì thế không chỉ là một công trình tôn giáo, mà còn là một “địa tầng văn hóa” của làng. Kết quả giám định của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam ngày 30/11/1998 cho biết cây thị trong khuôn viên chùa có tuổi 522 năm, cây bàng 224 năm - những cổ thụ thuộc hàng lâu đời nhất trong số các cây cùng loại được giám định ở Việt Nam. Cây cổ thụ là “cột mốc sinh học” của thời gian; dưới tán cây ấy đã diễn ra bao lớp sinh hoạt tín ngưỡng, bao biến thiên của lịch sử làng.

Đến ngày 20 tháng 02 năm Giáp Thân (1884), làng Giá Hộ chính thức đổi tên thành Thư Điền, dưới thời Lý trưởng Nguyễn Tử Nghi. Việc đổi tên làng là thay đổi danh xưng hành chính. “Thư Điền” - ruộng sách - là một khái niệm giàu tính biểu tượng. Trong cấu trúc văn hóa truyền thống, “điền” là nền tảng sinh kế nông nghiệp, còn “thư” là biểu tượng của Nho học, của đạo lý và tri thức. Một cộng đồng tự nhận mình là “ruộng sách” tức là đã ý thức sâu sắc về truyền thống hiếu học, về việc coi chữ nghĩa là mạch nguồn nuôi dưỡng làng.

Làng Thư Điền có khoảng 20 dòng họ cùng chung sống, thông gia qua lại nhiều đời. Cấu trúc dòng họ ở đây không khép kín mà đan xen, tạo nên mạng lưới thân tộc chằng chịt. Đó là hình thái điển hình của làng Bắc Bộ: đa tộc họ nhưng cùng chia sẻ một không gian văn hóa và một hệ giá trị chung. Sự đoàn kết không phải khẩu hiệu, mà được thể chế hóa bằng hương ước.

Năm 1772, cụ Nguyễn Tử Dự soạn “Bản xã khoản ước, nhị thập tứ điều” - 24 điều hương ước của làng. Hương ước là “bộ luật mềm” của làng xã, nơi lệ làng bổ sung cho phép nước. Nội dung hương ước Thư Điền quy định thưởng phạt rõ ràng, khuyên răn người dân sống phải đạo, chăm chỉ làm ăn, biết tích trữ, biết tương trợ nhau khi hoạn nạn. Đáng chú ý là nhiều điều khoản đến nay vẫn còn phù hợp với việc xây dựng đời sống văn minh, cho thấy sức sống bền bỉ của thiết chế tự quản làng xã Việt Nam. Hương ước không chỉ điều chỉnh hành vi; nó tạo ra một “ý thức cộng đồng” - thứ vốn liếng tinh thần giúp làng vượt qua biến thiên lịch sử. Thư Điền còn là một không gian dày đặc di tích. Năm di tích Lịch sử, Văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh, gồm: Đền Đô Thiên, Nhà thờ họ Nguyễn Tử, Nhà thờ Nguyễn Tử Dự, Nhà thờ danh nhân Nguyễn Tử Mẫn và Nhà thờ Nguyễn Tử Tương. Sự hiện diện của nhiều nhà thờ họ và danh nhân cho thấy truyền thống khoa bảng và cống hiến xã hội của làng.

Năm 2000, Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử văn hóa Việt Nam tôn vinh 39 danh nhân tiêu biểu của vùng đất Ninh Bình, trải dài từ thời nhà Đinh đến hiện đại. Trong danh sách này, làng Thư Điền có hai nhân vật được ghi danh là Nguyễn Tử Mẫn và Nguyễn Tử Tương (tức Bang Tương). Đáng chú ý, Nguyễn Tử Mẫn còn là một trong mười danh nhân tiêu biểu được vinh danh tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề Ninh Bình trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp đổi mới, do UBND tỉnh Ninh Bình phối hợp cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 23 tháng 3 năm 2022, trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 200 năm danh xưng Ninh Bình. Đây cũng là dịp mà những đóng góp đa diện của ông đối với đời sống xã hội được phục dựng một cách có hệ thống, thông qua tham luận chuyên khảo của nhà nghiên cứu Lịch sử - Văn hóa Nguyễn Tử Chương - có thể xem như một nỗ lực “khai quật ký ức lịch sử” theo đúng tinh thần sử học hiện đại.

Trong khi đó, đặt trong bối cảnh phong trào Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, chùa chùa Hưng Long nổi lên như một “nút” liên lạc của mạng lưới sĩ phu yêu nước. Tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Tử Tương, húy là Nguyễn Tử Ngôn, thụy Đôn Túc, hiệu Cao Tư, tên chữ Tán Khanh, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1844 (theo gia phả họ Nguyễn Tử). Ông là mẫu hình tiêu biểu của lớp nho sĩ Bắc Hà cuối thời Tự Đức: Cương trực, nghiêm cẩn và uyên thâm. Việc ông đỗ Tú tài liên tiếp trong hai khoa Đinh Mão (1867) và Mậu Thìn (1868) - hiện tượng “Tú tài kép” trong chế độ khoa cử Nho học - không chỉ phản ánh năng lực học vấn cá nhân, mà còn cho thấy nền tảng học phong bền vững của một vùng văn hóa làng xã giàu truyền thống.

Ông được biết đến không chỉ là một người có tài văn chương mà còn có tài thao lược, nên được triều đình mời ra làm quan. Lúc đầu giữ chức Bang biện sơn phòng tỉnh Thuận Hóa, sau giữ chức Thương biện tỉnh vụ nên thường được gọi là ông Bang Tương hay ông Bang. Năm 1872, triều đình nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ thực dân Pháp, ông không chịu hợp tác với giặc, xin cáo quan về quê phụng dưỡng bà tổ mẫu (bà nội). Năm 1873, ông theo ông nghè Tam Đăng Phạm Văn Nghị đánh giặc Pháp, năm 1884 ông trở về Thư Điền chiêu binh dấy quân khởi nghĩa. Ông được ông Nguyễn Quang Bích khi đó là Lễ bộ thượng thư của Triều đình kiêm Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ giao cho việc tập hợp lực lượng ở trấn Sơn Nam (Nam Định, Ninh Bình) để đứng lên chống Pháp (xem Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa đầu thế kỷ XIX, trang 179-182, Nhà xuất bản Văn học). Lịch sử Hà Nam Ninh, Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Hoa Lư cũng có ghi chép về ông Bang Tương.

Phong trào Cần Vương nổ ra sau khi quan đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa vị vua trẻ mới 13 tuổi Hàm Nghi, húy là Ưng Lịch được đưa lên ngôi tháng 8 năm 1884 ban chiếu Cần vương (giúp Vua). Phong trào thu hút được một số các quan lại triều đình và văn thân. Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ. Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở khắp các địa phương trong cả nước, kéo dài từ 1885 cho đến 1896.

Cuối cùng phong trào cần vương đã thất bại, bởi tuy là một phong trào rộng khắp nhưng bị phân tán theo từng vùng, lệnh nhau về thời gian, thiếu sự phối hợp. Nói cho thật đúng, từ “Cần vương” chỉ cuộc nổi dậy thể hiện lòng trung với vị vua đang chạy trốn, nhưng dù sao cuộc phản kháng này cũng rất chính đáng theo một cách nào đó, dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu nhằm bảo vệ vương triều. Đó cũng chính là điều mà phong trào này được lịch sử ghi nhận. Tuy thất bại nhưng phong trào cần Vương mang ý nghĩa tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc, tạo tiền đề cho phong trào kháng Pháp ở giai đoạn sau, rút ra bài học xương máu giúp thế hệ sau giành được chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954.

Trước nỗi đau mất nước, bất lực trước thời cuộc và tuổi tác cụ Nguyễn Tử Mẫn, đã viết: “Má lõm, da nhăn, tóc bạc phơ/ Mũ tai, gương mắt, gậy đùa gua/ Có cau vẫn phải ăn trầu cháu/ Còn nước đâu mà uống rượu cô”…

Những câu thơ trên được trích trong bài thơ “tự vịnh” của cụ, bài thơ như một tiếc thở dài, là nỗi xót xa trước cảnh đất nước đã thực sự bị rơi vào tay thực dân Pháp sau khi vua Tự Đức băng hà ngày 19 tháng 7 năm 1883. Vua Dục Đức tức Nguyễn Phúc Ưng Chân vừa kế vị được ba ngày, thậm chí chưa kịp đặt niên hiệu thì bị hai Phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Mạnh Tường phế truất rồi ép Hiệp Hòa tức Nguyễn Phúc Hồng Dật lên làm vua, Hiệp Hòa lên ngôi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ  khiến việc triều đình trở nên hết sức rối ren. Lợi dụng tình thế bất lợi của triều đình nhà Nguyễn, ngày 20 tháng 8 năm 1883, tức sau một tháng kể từ khi vua Tự Đức băng hà, quân Pháp đã tấn công và chiếm cửa Thuận An, khống chế cửa ngõ thủy lộ chính lên kinh đô Huế. Tổng ủy Jules Harmand ra tối hậu thư với nhiều yêu sách ngang ngược và khắc nghiệt, gia hạn cho triều đình Huế phải trả lời trong 24 giờ, nếu không sẽ khai hỏa đánh lên kinh thành. Hòa ước Qúy Mùi (hay còn gọi là Hòa ước Harmand được ký kết ngay sau đó, ngày 25 tháng 8 năm 1883 tại kinh đô Huế giữa đại diện của cộng hòa Pháp là Tổng ủy Jules Harmand và đại diện của triều đình nhà Nguyễn là Hiệp biện Đại học sĩ (chánh sứ) Trần Đình Túc. Hoà ước có tất cả 27 điều khoản với nội dung chính là xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Hiệp ước này chính thức đánh dấu thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự khống chế của Thực dân Pháp (thời Pháp thuộc).

Cuối tháng 12 năm 1946, khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chùa Hưng Long (Thư Điền) không chỉ là không gian tâm linh của làng mà đã chuyển mình thành một di tích kháng chiến, nơi nuôi giấu cán bộ và được trưng dụng làm Bệnh viện Quân y Liên khu. Tại đây, hai trí thức tiêu biểu là Giáo sư Đặng Vũ Hỷ và Giáo sư Phạm Khuê đã đặt những nền móng đầu tiên cho y tế chiến trường, đảm đương sứ mệnh cứu chữa thương bệnh binh trong cuộc chiến tranh ái quốc.

Trong tâm thức của Giáo sư Phạm Khuê, ký ức về làng Thư Điền không chỉ là chuyện “chia ngọt sẻ bùi” cùng nhân dân, mà còn là những thước phim sống động về nhân cách trí thức của người đồng nghiệp Đặng Vũ Hỷ. Giữa không gian văn hóa làng quê Việt Nam thời kháng chiến, hình ảnh người thầy thuốc với “chiếc hòm na ná hòm thợ cạo”, mặc quần xanh công nhân, chống gậy đi khắp ngõ cùng hẻm tận để cấp cứu dân nghèo đã trở thành một biểu tượng bình dị mà cao khiết. Đó là sự giao thoa giữa chuyên môn học thuật Tây học và tinh thần dấn thân, hòa mình vào đời sống nhân dân.

Sự học của những người trí thức lúc bấy giờ cũng mang đậm tinh thần khắc khổ và ý chí. Dưới ánh đèn dầu nơi thôn dã, dù sau một ngày làm việc mệt nhọc, họ vẫn miệt mài bên những cuốn sổ tay ghi chép chuyên môn dày đặc từ sách mượn. Ở Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, ta thấy một phong thái điềm tĩnh, kỷ luật và tự tại. Ngay cả khi thực dân Pháp tấn công vào căn cứ Ninh Bình năm 1947, tạo thành gọng kìm hiểm hóc phối hợp với chiến dịch Việt Bắc, bản lĩnh chỉ huy của ông vẫn sáng rõ. Giữa lằn ranh sinh tử, trên một gò đất cao tại chân núi Dưỡng Khê, ông đã đưa ra những mệnh lệnh chính xác để sơ tán đơn vị, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho thương binh và khí tài.

Cái “tĩnh” trong hành động và cái “tầm” trong tổ chức ấy đã khiến đồng nghiệp phải thốt lên: “Trí thức của ta như thế đó”. Sau giai đoạn gắn bó với nhân dân làng Thư Điền, thuộc tỉnh Ninh Bình. Giáo sư Đặng Vũ Hỷ tiếp tục hành trình phụng sự tại Trường Y sĩ Nông Cống rồi lên Việt Bắc, góp phần đào tạo thế hệ thầy thuốc tương lai tại Đại học Y giữa lòng chiến khu.

Lịch sử không sản sinh anh hùng trong khoảng trống, mỗi nhân vật lịch sử đều có một “hậu phương văn hóa” của mình. Một trong những người con ưu tú được sinh ra ở làng Thư Điền là Trung đội trưởng Quân báo Nguyễn Tử Lan thuộc Đại đoàn 312, người bắt sống viên thiếu úy Jacques (Giắc - Cơ) và lấy lời khai trước trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, đây là một chiến tích quan trọng giúp cho việc lên phương án chính xác để đoạt được một chiến thắng nhanh, gọn, hạn chế tối đa thương vong. Với chiến công đó ông được Bộ quốc phòng thưởng Huân chương chiến thắng hạng nhì. Hậu phương ấy không chỉ là quê hương Thư Điền - “ruộng sách” - mà trước hết là gia phong và tư tưởng của thân phụ ông là: Ông đồ Thiệu (Nguyễn Tử Thiệu).

Nhìn từ góc độ lịch sử giáo dục và văn hóa, danh xưng “ông đồ” (hay thầy đồ) không đơn thuần là một cách gọi phổ thông, mà là sự định danh một tầng lớp trí thức cụ thể trong xã hội truyền thống. Theo bộ sách  “Khoa cử Việt Nam” của Viện nghiên cứu Hán nôm - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2019 do Tiến sĩ Nguyễn Thúy Nga chủ biên và cuốn “Bách khoa thư làng Việt cổ truyền”, nhà xuất bản chính trị Quốc gia xuất bản năm 2022 của PGS Tiến sĩ Bùi Xuân Đính, “ông đồ” chính là hiện thân sinh động của học vị Sinh đồ.

Ngược dòng thời gian, định chế này bắt đầu từ năm 1466 dưới triều vua Lê Thánh Tông, xác lập vị thế cho những người đỗ tam trường (ba kỳ) tại các khoa thi Hương. Đến năm Minh Mạng thứ 9 (1828), dù triều đình chính thức đổi cách gọi là Tú tài nho học, nhưng trong mạch ngầm tâm thức dân gian, danh xưng “ông đồ” vẫn tồn tại bền bỉ. Trong cấu trúc gia đình và xã hội Việt Nam truyền thống, nếu “ông đồ” là biểu tượng của đạo học, thì danh xưng “bà đồ” chính là sự nể trọng phu quân phản ánh sâu sắc sự gắn kết hữu cơ giữa trí thức nho giáo và nền tảng gia đình trong lòng văn hóa làng Việt.

Ông đồ Thiệu sinh giờ Mùi (13h), ngày 21 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1889), niên hiệu Thành Thái thứ nhất, tại làng Thư Điền, xã Ninh Nhất (nay thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Là cháu nội của danh nhân văn hóa Nguyễn Tử Mẫn - tác giả cuốn Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện; thân phụ là Nguyễn Tử Mỹ, từng làm lại mục tại Bình Định; nhạc phụ là Tri huyện Ý Yên Hà Quang Sán. Gia thế ấy đặt ông trong một dòng chảy khoa bảng nhiều đời của họ Nguyễn Tử - một dòng họ mà qua các thế hệ, chữ nghĩa chính là căn cốt nhân cách. Ông đồ Thiệu thuộc lớp trí thức cuối cùng của nền Nho học truyền thống, ở thời của Ông, khoa cử phong kiến đã ở vào buổi hoàng hôn. Nhưng chính hoàn cảnh “giao thời” ấy lại tạo nên một thế hệ đặc biệt: họ đủ sâu trong Hán học để hiểu truyền thống, đồng thời đủ tỉnh táo để tiếp cận cái mới. Ông đồ Thiệu ngoài tinh thông Nho học, Ông còn thành thạo chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và có vốn Pháp ngữ nhất định. Điều quan trọng không phải là sự cộng gộp ngôn ngữ, mà là khả năng chắt lọc tinh hoa của nhiều hệ tư tưởng để giữ lấy hồn cốt Việt.

Dưới chế độ thuộc địa, khi người Pháp áp đặt mô hình giáo dục Pháp - Việt, không ít trí thức bản địa rơi vào khủng hoảng căn tính. Nhưng các nhà Nho có tư tưởng tiến bộ, trong đó có Ông đồ Thiệu, đã lựa chọn một con đường khác: giữ vững nền tảng đạo lý phương Đông, đồng thời tiếp nhận tri thức phương Tây như một công cụ phát triển dân trí. Đó không phải là sự thỏa hiệp, mà là một hình thức tự vệ văn hóa.

Sinh thời, Ông đồ Thiệu hành nghề lương y và mở trường dạy học tại Phúc Thành (sau đổi là Phúc Am, nay thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Trong lời tựa cuốn Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện, địa danh này được ví như “Thái Sơn Bắc Đẩu của rừng Nho” - một trung tâm học vấn của vùng đất Cô đô truyền thống. Triết lý giáo dục của ông có thể khái quát ở ba điểm:

1. Giáo dục là quyền của mọi tầng lớp - học trò nghèo vẫn phải được học. Học đi đôi với hành - chữ nghĩa phải phục vụ cuộc sống. Học suốt đời - tri thức không dừng lại ở bằng cấp hay khoa cử.

2. Đây là tư tưởng vượt trước thời đại nếu đặt trong bối cảnh xã hội nửa phong kiến - nửa thuộc địa đầu thế kỷ XX. Đã cho thấy Ông không chỉ bảo tồn Nho học, mà đã làm mới tinh thần Nho học theo hướng nhân văn và thực tiễn.

3. Trong một thời kỳ mà văn hóa bản địa chịu sức ép đồng hóa mạnh mẽ, chính những nhà nho như Ông đồ Thiệu đã góp phần giữ cho làng quê Việt Nam không bị đứt mạch truyền thống. Người Pháp có thể thiết lập bộ máy hành chính, nhưng họ không thể thay thế cấu trúc tinh thần đã ngàn năm bồi đắp.

Điểm đặc biệt trong tư tưởng của Ông đồ Thiệu không nằm ở việc ông dạy con học Hán văn từ sớm - điều ấy phù hợp truyền thống gia tộc trong suốt thời Nho học - mà ở quyết định chiến lược: khuyến khích người con trai duy nhất, Nguyễn Tử Lan, theo học trong hệ thống giáo dục Pháp - Việt. Đó là một lựa chọn có ý thức. Trước hết, Ông đã truyền cho con nền tảng đạo lý phương Đông, rèn chữ Hán vững vàng. Sau đó, ông để con bước vào môi trường học đường thuộc địa, tiếp cận tri thức hiện đại. Cách giáo dục ấy tạo nên một cấu trúc nhân cách hai tầng:

Tầng nền: Đạo lý, gia phong, ý thức cộng đồng.

Tầng phát triển: Tư duy khoa học, khả năng tổ chức, tinh thần kỷ luật hiện đại.

Chính cấu trúc ấy sau này giúp Nguyễn Tử Lan trở thành một chỉ huy quân báo có bản lĩnh trí tuệ, biết phân tích tình huống, kỹ năng đảm bảo bí mật, biết hành động chính xác trong những thời khắc quyết định.

Trước trận đánh mở màn ở Trung tâm đề kháng Him Lam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Nguyễn Tử Lan với vai trò là một Trung đội trưởng quân báo của Đại đoàn 312, được nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, chỉ sau ba ngày, Ông đã cùng đồng đội bắt sống viên thiếu úy Jacques của quân đội Pháp. Đây không chỉ là hành động dũng cảm, mà là một thành công về nghệ thuật quân báo. Muốn làm được điều ấy, người chiến sĩ Quân báo phải có: Tư duy phân tích.Khả năng phán đoán. Sự bình tĩnh trước hiểm nguy. Ý thức kỷ luật tuyệt đối.

Những phẩm chất ấy không tự nhiên được áp dụng ở chiến trường. Tất cả được hun đúc từ gia phong, từ nền giáo dục, từ môi trường “ruộng sách” của Thư Điền. Nếu nói rằng chiến thắng Điện Biên Phủ bắt đầu từ quyết định chiến lược của Bộ Chính trị, thì ở bình diện con người, nó cũng bắt đầu từ những lớp học, nơi những người thầy như Ông đồ Thiệu gieo vào học trò ý thức trách nhiệm với dân tộc.

Ông đồ Thiệu không trực tiếp cầm súng. Nhưng ông góp phần tạo nên con người có đủ Tri thức, Bản lĩnh để tham gia chiến tranh. Trong tiến trình lịch sử dân tộc có những đóng góp lặng thầm nằm ở chiều sâu văn hóa. Nếu không có những nhà giáo giữ vững căn cốt truyền thống trong thời kỳ thuộc địa, thì sẽ không có lớp người đủ bản lĩnh để bước vào cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Vì thế, khi nghiên cứu về vai trò của Nguyễn Tử Lan trong chiến dịch Điện Biên Phủ, không thể tách rời khỏi nền tảng gia phong mà Ông đồ Thiệu đã xây dựng, đó chính là logic nội tại của lịch sử.

Bước sang thời cận - hiện đại, Thư Điền tiếp tục chứng tỏ mình là một “làng lịch sử”. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi lệnh Tổng khởi nghĩa được phát động trên cả nước, ông Nguyễn Quang Khải đã lên gác chuông chùa Hưng Long đánh ba hồi chuông làm hiệu lệnh tập trung nhân dân tại sân đình. Sau đó, bằng những con thuyền nan mộc mạc, người dân tiến về thị xã Ninh Bình tham gia giành chính quyền.

Chi bộ Đảng đầu tiên của xã được thành lập và họp tại chùa Hưng Long, do ông Nguyễn Tử Chiêu làm Bí thư. Tháng 9/1945, tại sân đình, nhân dân nhất trí bầu ông Nguyễn Tử Vân (tức Nhất Vân) làm Chủ tịch Ủy ban lâm thời. Không gian đình - chùa từ chỗ là trung tâm tín ngưỡng đã trở thành trung tâm chính trị cách mạng. Đó là một sự chuyển hóa mang tính lịch sử: thiết chế truyền thống hòa nhập vào dòng chảy hiện đại của dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, làng bị càn quét nhiều lần, nhà cửa bị đốt phá gần hết. Năm 1946, đội tự vệ chiến đấu được thành lập, lấy sân đình và chùa làm nơi huấn luyện. Thanh niên Thư Điền gia nhập Nam tiến, vào Vệ quốc đoàn, tham gia dân công hỏa tuyến. Ngày bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tam quan chùa Hưng Long được trang trí khánh tiết, đặt hòm phiếu cho cử tri tham gia bỏ phiếu - một hình ảnh biểu tượng cho sự kết hợp giữa truyền thống và quốc gia dân tộc hiện đại. Trong kháng chiến chống Mỹ, hầu hết thanh niên trai tráng của làng tiếp tục lên đường ra trận; nhiều người anh dũng hy sinh. Làng Thư Điền vì thế không chỉ là một “làng ruộng sách”, mà còn là một “làng trận mạc” - nơi tinh thần hiếu học và lòng yêu nước song hành.

Nhìn từ chiều sâu lịch sử, Thư Điền là một chỉnh thể văn hóa gồm: chùa - đình - hương ước - dòng họ - danh nhân - cách mạng. Mỗi yếu tố là một mạch nguồn, hợp lại thành bản sắc riêng. Nếu ruộng nuôi sống thân thể, thì “ruộng sách” nuôi dưỡng tâm hồn. Và chính sự kết hợp ấy đã làm nên sức bền của làng qua bao thế kỷ. Ngày nay, trong tiến trình hiện đại hóa và đô thị hóa, việc giữ gìn những giá trị truyền thống của Thư Điền không chỉ là bảo tồn di tích vật thể, mà còn là bảo tồn ký ức cộng đồng, đạo lý ứng xử và tinh thần hiếu học. Một làng quê chỉ thực sự tồn tại khi nó còn giữ được “hồn làng” - cái hồn được tích tụ từ đất, từ người và từ lịch sử.

Thư Điền, từ Giá Hộ xưa đến ruộng sách hôm nay là minh chứng cho sức sống của văn hóa làng Việt: lặng lẽ, bền bỉ và sâu xa như chính những tầng đất quê hương.

                                                                         N.T.C

(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)

Bài viết khác