Chủ nhật, 13/09/2026

Nét đặc thù giữa hai dòng đồng Đức Thánh Trần và Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Thứ bảy, 29/08/2026

TS. NSƯT TRẦN HẢI MINH

 

Vùng Nam Định thời Trần, các vị vua đều ham nghiên cứu Phật học. Điều đó có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, trong đó có văn nghệ dân gian. Nam Định đã trở thành một trung tâm Phật giáo ở vùng châu thổ sông Hồng. Đạo Phật với tinh thần từ bi, bác ái và hướng thiện, đã có những đóng góp nhất định vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc nói chung và Nam Định nói riêng.

Cùng với Phật giáo, sau Bắc thuộc, Đạo giáo có gốc từ Trung Quốc cũng phát triển. Học thuyết của Lão Tử về đức Thánh Minh Không, Giác Hải - được thờ nhiều ở Nam Định. Đạo giáo khi vào Việt Nam đã hoà với tín ngưỡng dân gian, trở thành một đạo thiên về phù phép, biến hoá. Đặc biệt, từ thế kỷ XVII, trên địa bàn Nam Định, xuất hiện hàng loạt những truyền thuyết liên quan đến Đạo giáo như: Lâm Giang Thủ tướng, Đại vương ông Báo; Bà già ở hồ Động Đình… Hiện tượng phụ đồng giáng bút còn gọi là đồng bóng, giai đoạn này cũng rất phát triển ở Nam Định. Ở đó thánh, thần, ma, quỷ, âm hồn được mượn thân xác người sống mà chuyện trò, phán bảo lành, dữ v.v… Có thể nói rằng đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão trở thành Tam giáo đã có ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội Nam Định. Đó chính là điều kiện, là tiền đề để sản sinh ra một nền văn hoá dân gian đa dạng và phong phú trong đó có diễn xướng nghi lễ lên đồng Nam Định, một thành tố quan trọng trong hệ thống dân ca tín ngưỡng, trong lễ hội cổ truyền và đặc biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ Phủ,  mà Nam Định là trung tâm với hai lễ hội lớn của cả nước đó là lễ hội Phủ Dầy và lễ hội Đền Trần.

Trong tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam nói chung, ở phương diện tư tưởng, người Nam Định cũng luôn thức thời, nhanh nhạy nắm bắt cái mới mà vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống của mình, như khi đạo Thiên Chúa xuất hiện ở Nam Định thì người Nam Định đã khéo léo đưa những tư tưởng nhân ái của Chúa Jesu hòa đồng vào với Phật giáo và Nho giáo trong đời sống văn hoá làng xã Nam Định tạo thành một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đa dạng sinh động. Nét riêng rất đặc trưng ở Nam Định đã song song tồn tại hai tín ngưỡng mang đậm phong cách Việt. Đó là tục thờ Đức Thánh Cha và Đức Thánh Mẫu. Đức Thánh Cha (Đức Thánh Trần Hưng Đạo) là người anh hùng trong lịch sử làm nên sự nghiệp nhà Trần, bất tử trong đời sống thường nhật của dân tộc Việt Nam nói chung và là niềm tự hào của mỗi người dân Nam Định nói riêng. Hơn 20 ngôi đền thờ Đức Thánh Trần, chắc chắn là một biểu tượng cụ thể nói lên tinh thần thượng võ, yêu nước, tự hào của người dân Nam Định. Còn tín ngưỡng thờ Mẫu, vào thời kỳ Lê - Trịnh, các tập đoàn phong kiến tranh nhau quyền lực, người dân lương thiện đau khổ lầm than và đã tìm về cội nguồn tín ngưỡng cổ xưa: thờ mẹ - người mẹ sinh ra con Rồng, cháu Tiên, người mẹ che chở cho bao nỗi nhọc nhằn của cuộc sống. Tục thờ cha, thờ mẹ, tuy có hai nội dung văn hoá khác nhau, nhưng là nét riêng biệt của Nam Định mà không ở vùng đất nào của Việt Nam có được. Đây cũng là một tiền đề quan trọng để sản sinh ra đặc điểm riêng của diễn xướng nghi lễ lên đồng Nam Định. Đó là sự hòa quyện giữa hai dòng đồng (dòng thanh đồng thờ đức Thánh Cha và dòng đồng cốt thờ đức Thánh Mẫu).

Nam Định có bề dầy văn hoá truyền thống và hiện đại. Với vị trí trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, trong tiến trình lịch sử của dân tộc và trong kho tàng văn hóa Việt Nam, Nam Định luôn được xác nhận là vùng đất ngàn năm văn hiến. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá phổ biến, bền vững, phản ánh đời sống tinh thần của các cộng đồng dân c­ư. Lễ hội còn là nơi l­ưu giữ những nét đẹp văn hoá của cộng đồng, của dân tộc thông qua các hình thức tế lễ, các trò chơi dân gian, các hoạt động hội (gọi tắt là lễ và hội). Lễ hội ở Nam Định diễn ra quanh năm nhưng tập trung ở thời điểm mùa xuân và mùa thu. Nam Định là vùng đất đậm đặc các di tích và lễ hội. Hầu hết các làng, thôn, xóm đều có đình, đền, chùa, miếu được xây dựng ở những vị trí trang trọng, là những công trình văn hóa mang tính thời đại. Không gian văn hóa của các di tích thường được gọi là không gian thiêng khi nó gắn với các nghi thức tế lễ, hội hè; vì vậy di tích được coi là văn hóa vật thể và lễ hội là văn hóa phi vật thể và là hai thành tố không thể tách rời nhau trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng.

Hơn nữa, có thể nói, nổi bật trong văn hoá - văn nghệ dân gian Nam Định là diễn xướng nghi lễ lên đồng, một loại hình nghệ thuật gắn liền với lễ hội và tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Cha. Trong môi trường văn hoá dân gian đa dạng và phong phú, diễn xướng nghi lễ lên đồng Nam Định đã giao thoa, tiếp thu những tinh hoa của các loại hình nghệ thuật dân gian khác, tạo cho mình một vị trí vững chắc trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.

Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: Trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu thần dân gian với những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình đạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ (Tam tòa Thánh Mẫu), một thứ Đạo giáo đặc thù của Việt Nam có thể nói một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn là Đạo Mẫu”.

Diễn xướng nghi lễ lên đồng là một nghi lễ tiêu biểu của đạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, song trên thực tế diễn xướng nghi lễ lên đồng ở Nam Định lại có nét đặc thù riêng so với những địa phương khác bởi ở đây tồn tại song song và có sự giao thoa, hòa quyện giữa hai dòng đồng đó là dòng đồng thờ Đức Thánh Trần (dòng thanh đồng) và dòng đồng thờ Đức Thánh Mẫu (dòng đồng cốt) gắn liền với hai thần linh: một là có thật (Trần Quốc Tuấn - nhân vật lịch sử của thời Trần), một là làm cho có thật (Lê Thị Liễu Hạnh - Thánh Mẫu huyền thoại) để rồi trở thành một đối trọng thần linh cao siêu mà gần gũi: Mẹ - Cha.

Về Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã được đề cập đến nhiều trong các tài liệu, huyền tích ly kỳ về Thánh Mẫu tam sinh, tam hóa đã diễn tả sự bất tử của nhân vật thần linh trong tâm thức dân gian người Việt. Nhưng còn Đức Thánh Trần nhân vật có trước Thánh Mẫu gần 4 thế kỷ tại sao cũng nhập vào hiện tượng này và hình thức thờ phụng chính cũng là diễn xướng nghi lễ lên đồng để tế lễ? Sự phong Thánh cũng như ghi chép cụ thể về hành động của dòng đồng Đức Thánh Trần cũng ít có tài liệu nào mô tả một cách cụ thể, hơn nữa trên thực tế việc lên đồng xưa kia có tách bạch thành hai nghi thức khác nhau hay không cũng không thấy tài liệu nào ghi chép kỹ. Những tài liệu nghiên cứu về lên đồng còn lại đến hiện nay hầu hết nói về lên đồng thờ Thánh Mẫu.

Qua tư liệu phỏng vấn sâu một số thủ nhang, đồng đền và những người hành nghề đồng lâu năm ở Nam Định cho biết: dòng thờ Trần triều là lên đồng phù thủy, người đồng cũng đồng thời là thầy phù thủy và có những cách thức bí truyền riêng trong kỹ thuật bắt ma, trừ tà, chữa bệnh khi lên đồng, họ có những cách thức riêng để tạo nên uy lực của mình mà nổi bật là nghi thức chiêu quân (chiêu mộ âm binh) và những hành động biểu hiện tính ma thuật như phun lửa, xiên lình, xẻ lưỡi, hú hét…

Chi tiết được chú ý nhất và cũng là chi tiết đưa Trần Hưng Đạo thành vị Thánh có vị trí đặc biệt trong tâm thức dân gian chính là chi tiết ông đánh thắng một tướng giặc có tên Phạm Nhan, một người mà theo sử sách cho biết Phạm Nhan còn là một thầy phù thuỷ rất cao tay. Theo dân gian người Việt phía Bắc, từ câu nói lỡ lời của Dã Tượng mà cái chết của Phạm Nhan về sau đã để lại nhiều hệ luỵ như: Phạm Nhan hay nhập hồn trên dương thế để trêu trọc phụ nữ mà gây bệnh tật. Vậy là tâm thức dân gian rất hợp lý khi cho rằng chỉ có Đức Thánh Trần mới có thể trị được căn bệnh này. Những bệnh tật trong dân gian lưu truyền là bệnh Phạm Nhan như: đàn bà sinh sản đau yếu, con gái hiếm muộn đều là do Phạm Nhan ám.

Tư liệu phỏng vấn sâu một số Đồng có tuổi được biết lên đồng thuộc dòng Thanh Đồng, tức là dòng thờ Trần triều là lên đồng phù thuỷ, người Đồng cũng đồng thời là Thầy phù thuỷ và có những cách thức bí truyền riêng trong kĩ thuật bắt ma trừ tà khi lên đồng, họ có những cách thức riêng để tạo nên uy lực của mình trước khi lên đồng bắt tà; cụ thể:

- Lên đồng dạng này chỉ để nhằm chữa bệnh: bắt tà, chữa bệnh âm, vì vậy muốn làm nghi lễ lên đồng để bắt tà thì trước hết phải làm nghi thức chiêu quân (chiêu mộ âm binh). Việc này được thực hiện vào khoảng 10 giờ đêm tại nghĩa địa. Những âm binh này là những hồn ma lang thang mà không có người chăm nom cúng khấn. Trước khi vào nghĩa trang, thầy phù thuỷ phải có cờ hiệu màu trắng để đánh dấu lối vào, sau đó đốt một nắm hương to đem cắm vào mộ phần trên tất cả nghĩa địa. Sau khi cắm xong quay lại chỗ bắt đầu vào và đi xem một lượt nếu thấy trên mộ nào mà thẻ hương đổ ngả (theo quan niệm dân gian nếu hương đổ ngả nghĩa là mộ đó không người chăm nom săn sóc) thì nhổ hương lên, khi nào tìm đủ được 10 - 15 cái là được, nếu không đủ lại tiếp tục đi các nghĩa địa khác để chiêu binh tiếp. Một thầy phủ thuỷ chỉ có tối đa 100 quân là đủ. Sau khi lấy đủ quân thì mang đám chân hương cháy dở đó về để dưới điện thờ Trần triều và làm lễ cúng lệnh. Lễ này có ý nghĩa chiêu nạp và công nhận các hồm ma lang thang thành quân binh của Đức Thánh Trần.

Ngày hôm sau đi chữa bệnh thì mang bó chân hương đó theo. Thông thường chỉ rút từ 3-5 thẻ, nếu là đi bắt ma, trừ tà thì mang nhiều hơn 25-30 thẻ (mỗi thẻ tương ứng với một âm binh). Khi đến nhà nạn nhân, Thầy Đồng đốt hương dò tà (đốt thẻ hương và soi vào trước mặt người bị bệnh), soi cả tai, cằm, gáy... nếu thấy người bệnh kêu khi dò đến chỗ nào thì tức là hồn ma trú tại điểm đó và dừng việc dò tà ngay. Sau khi đã dò tà xong, Thầy Đồng báo cho gia chủ làm lễ để cúng ma. Sau khi cúng xong hồn ma đó thoát đi thì thôi, nếu vẫn không đi thì Thầy đồng phải làm lễ đánh ma. Lễ đánh ma bao gồm các bước như bắt người bệnh ngồi yên một chỗ, nếu không ngồi yên được phải trói lại, sau đó Thầy Đồng đốt hương cắm rào xung quanh người bệnh (cắm từ 1-9 nén) và chuẩn bị làm lễ cúng ông Hổ.

Để cúng ông hổ thì cần phải có 3 hoặc 7 hoặc 9 quả trứng sống, một miếng thịt sống và một con gà đen sống, mâm lễ chuẩn bị xong Thầy Đồng cúng xin lệnh Mẫu Thượng Thiên và Quan Trần triều bằng xin đài âm dương nếu đài cho một xấp, một ngửa thì có thể đánh vong. Có trường hợp khi cúng Trần triều ông hổ về nhập vào người Thầy Đồng (thầy Đồng thành ông Hổ) sẽ ăn gạo, muối, trứng sống, gà sống (nhưng bao giờ cũng bỏ lại đầu gà và ruột). Ông hổ ăn xong cũng là lúc bắt đầu lễ thức đánh ma. Đánh ma bằng một dụng cụ roi mây hoặc roi dâu quấn sẵn và cứ như vậy vụt vào người bệnh, khi nào roi nát ra thì tức là ma đã bật rạ và dừng lại. Còn trường hợp với những phụ nữ mà bị Phạn Nhan ám nên sinh đẻ hay mất con thì làm lễ tắm tà. Lễ tắm tà, cũng làm như lễ đánh ma nhưng thay việc đánh vong bằng việc tắm tà. Tắm tà là lấy gáo dừa dội nước sôi lên đầu người bệnh đến khi nào vong linh con ma xin thôi là được.

Tuy nhiên hiện nay những nghi lễ kiểu này cũng chưa xác minh được tính hiệu quả của nó nhưng tính chất nguy ngại thì khôn lường, vì vậy nên hiện nay gần như không phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ. Dù sao đi nữa thì trong dân gian vẫn truyền tụng nhau về sự tồn tại hai dòng đồng, người dân muốn cầu lộc, cầu tài thì tìm đến Thánh Mẫu, muốn cầu khỏi bệnh, xua đuổi tà ma thì tìm đến Đức Thánh Trần. Cả hai mong muốn đó âu cũng là hợp lẽ, là mong ước chính đáng của nhân dân. Qua khảo sát cả hai khu vực lễ hội đền Trần và lễ hội Phủ Dầy ở Nam Định thì cách thức thực hành diễn xướng nghi lễ lên đồng không có nhiều điểm khác biệt, vẫn là các con nhang đệ tử khi hầu đồng Đức Thánh Cha ở đền Trần và sau đó lại về hầu đồng Đức Thánh Mẫu ở Phủ Dầy. Do vậy có thể nói “Thực hành diễn xướng nghi lễ lên đồng hiện nay vẫn đang là nghi lễ chính thức, tiêu biểu trong tín ngưỡng/ đạo thờ Đức Thánh Trần và Đức Thánh Mẫu ở châu thổ Bắc Bộ”.

Có một điều đáng lưu ý là hiện tại ở các lễ hội lớn do Nhà nước tổ chức không thấy tồn tại hoạt động riêng biệt của hai dòng đồng song trên thực tế nó đã giao thoa, hòa quyện, dung nạp những yếu tố mang tính “thiêng” để tạo ra một diễn xướng nghi lễ lên đồng có thể hoạt động ở cả lễ hội Cha và lễ hội Mẹ. Trong diễn xướng nghi lễ lên đồng phục vụ tín ngưỡng thờ Mẫu ngoài những câu nói đế “Cô đẹp quá”, “Cô duyên dáng quá”, “Trông cậu oai phong lẫm liệt quá! Lạy cậu…” thì vẫn thấy những tiếng “hú”, “hét” chủ yếu là khi thỉnh đồng, đồng thăng hoặc phấn kích khi đồng làm việc, có khi đôi tay múa kiểu bắt quyết (thường thấy ở dòng đồng Đức Thánh Trần xua đuổi tà ma, chữa bệnh cho dân. Hoặc trong diễn xướng nghi lễ lên đồng thờ Đức Thánh Cha không còn thấy những hiện tượng xiên lình, phun lửa, xẻ lưỡi… mà lại thấy múa mồi lửa, múa hèo (thường thấy ở dòng đồng thờ Đức Thánh Mẫu). Tuy nhiên, trên thực tế dòng đồng Đức Thánh Cha không mất đi mà một lần nữa “” lại lẩn khuất vào dân gian. Một mặt lui về hoạt động diễn xướng nghi lễ lên đồng tại các điện thờ tư gia. Một mặt thì thay hình đổi dạng theo kiểu phù thủy, “được ăn lộc Thánh”, dùng “âm binh” xua đuổi tà ma, đuổi “vong”; “hình nhân thế mạng” … giúp các con nhang đệ tử khi gặp những biến cố trong cuộc sống (Tư liệu phỏng vấn bà đồng T - thôn Lộng Đồng - ngoại thành Nam Định ngày 07/5/2026).

Như vậy diễn xướng nghi lễ lên đồng ở Nam Định đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thông qua các dấu hiệu, cơ sở thực tiễn đã xác định Nam Định vừa là nơi “xuất phát” vừa là “ trung tâm hội tụ và lan tỏa”. Không có nơi nào trên đất nước Việt Nam tồn tại hai trung tâm lễ hội lớn thờ Đức Thánh Cha và Đức Thánh Mẫu gắn liền với sự tồn tại của hai dòng đồng mà diễn xướng nghi lễ lên đồng là nghi lễ chính thức. Trên thực tế diễn xướng nghi lễ lên đồng tồn tại trong một không gian rộng, trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa diễn xướng nghi lễ lên đồng đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các vùng miền để tạo cho mình sự phong phú, đa dạng song về bản chất diễn xướng nghi lễ lên đồng Nam Định vẫn mang những nét đặc thù của sự hòa quyện giữa hai dòng đồng còn giữ được nhiều nét cổ hơn là các địa phương khác.

T.H.M

(Nguồn: TC VNNB số 321 - 07/2026)

Bài viết khác