NGUYỄN QUANG HẢI
Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 01 tháng 12 năm 2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, nước Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Theo Báo điện tử Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 20/7/2018).
Tín ngưỡng thờ Mẫu có xuất xứ từ tín ngưỡng thờ nữ thần ở Việt Nam cũng như ở nhiều dân tộc trên thế giới từ cổ xưa. Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là một đặc trưng ở Việt Nam.
“Tam phủ” vốn có nghĩa là “ba cõi” trong vũ trụ là: Cõi trời (thiên phủ), cõi rừng núi (nhạc phủ), cõi sông nước (thoải phủ). Cai quản, chế ngự ba cõi này là ba mẫu (mẹ) đã hóa thân mà cai quản đầy quyền năng. Mẫu Thượng thiên cai quản cõi trời. Mẫu Thượng ngàn cai quản cõi rừng núi. Mẫu Thoải cai quản cõi sông nước.
Tín ngưỡng thờ Tam phủ là tín ngưỡng thờ ba mẫu: Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải.
Sử sách cho hay: Từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức đông đảo người dân.
Các tài liệu sưu tầm nghiên cứu cho thấy: Các Mẫu thuộc Tam phủ; các chư vị được dân gian tôn thờ nhiều đời nay trong điện thờ Tam phủ có “lý lịch trần gian” là người các dân tộc: Kinh, Mường, Tày, Nùng, Dao v.v.. trong sự gắn bó hài hòa, mật thiết của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là sự dung hòa giữa tín ngưỡng bản địa của người Việt và một số yếu tố, sắc thái của tôn giáo ngoại nhập như Đạo giáo, Phật giáo.
Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, rồi vào tới Nam Bộ… Những biểu hiện thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ phổ biến là: Trên cơ sở hiểu biết của nhân dân, đảm bảo về pháp lý qua mỗi thời kỳ lịch sử để kiến thiết, lập dựng nên các công trình kiến trúc là các đền thờ, phủ thờ, điện thờ Mẫu tam phủ; tổ chức, tham gia các lễ hội với nghi lễ đặc trưng. Nghi lễ đặc trưng vừa tiêu biểu, vừa phổ biến để thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở Việt Nam nói chung, ở Ninh Bình nói riêng chính là nghi lễ Chầu văn.
Trong nghi lễ Chầu văn cổ truyền có sự kết hợp một cách thật là nghệ thuật các yếu tố văn hóa dân gian như: trang phục, âm nhạc, hát, múa, diễn xướng. Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ như một “bảo tàng sống”, qua đó bảo tồn di sản hàm chứa trong đó bản sắc văn hóa của người Việt. Sức mạnh và ý nghĩa của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã từng đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của người Việt.
Chầu văn cổ truyền là một loại hình nghệ thuật đàn - hát, có kết hợp với lên đồng (biểu diễn trong vai các chư vị thần linh). “Chầu văn” nghĩa là: Văn chầu Thánh. Hát chầu văn nghĩa là hát những bài văn để chầu Thánh. Đây vốn là một thể thức diễn xướng tổng hợp, gồm có: đàn, hát, múa… một thể thức biểu hiện có dung nạp trong đó các yếu tố nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.
Chầu văn xưa kia được lưu hành chủ yếu trong không gian các đền, miếu, phủ và tập trung phổ biến tại các lễ hội truyền thống ở nhiều địa phương trong nước. Với hát và diễn xướng (múa), chầu văn chính là một dạng thức nghệ thuật văn hóa dân gian (folklore) tổng hợp.
Trên địa bàn cả nước ta có chầu văn Bắc Bộ với các làn điệu: Dọc, Cờn, Xá, Chèo đò; chầu văn miền Trung (chủ yếu ở Huế) với các giọng: Đằng, Thái, Tẩu và chầu văn Nam Bộ…
Về âm nhạc, đến nay nghệ thuật hát chầu văn đã trải qua nhiều sự biến đổi, thêm chỉnh về tiết tấu, điệu thức. Trong âm nhạc hát chầu văn ở miền Bắc có những làn điệu quen thuộc của hát chèo, ca trù, hát xẩm xoan… Ngày nay, nhiều trường hợp người ta sử dụng những chất liệu âm nhạc đặc trưng chầu văn để cấu trúc thành những tổ khúc mới.
Về nguồn gốc hình thành, căn cứ vào một số nguồn sử sách thì sớm nhất nghệ thuật hát chầu văn, đã có từ thời Trần (thế kỷ XIII). Trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có ghi: “Thời Trần có lối hát trước mặt đế vương, gọi là hát chầu”. Có thể, “Lối hát trước mặt đế vương” ở thời Trần (hay từ trước đó nữa) chính là những bài hát, điệu hát chầu văn ban đầu?!
Về văn học, lời các bài hát chầu văn, còn gọi là các giá văn chầu đều ở thể thơ lục bát hay song thất lục bát. Đây là hai thể thơ dân tộc rất quen thuộc, về cơ bản được phổ biến từ thời Hậu Lê trở đi.

Về các “đối tượng chầu” trong các bài hát chầu văn cổ truyền là một hệ thống tên tuổi các nhân vật là các Mẫu thuộc tín ngưỡng dân gian Việt Nam về Tam phủ (ba cõi: trời, đất, nước) hay Tứ phủ (trời, đất, nước, rừng núi) và các vị quan, các ông hoàng, bà chúa là những nhân vật lịch sử và huyền sử như sau:
- Các Mẫu của Tam phủ là: Mẫu Thượng Thiên (mẹ trên trời), Mẫu Địa (mẹ đất), Mẫu Nhạc (mẹ rừng núi), Mẫu Thoải (mẹ nước).
- Các nữ thần giúp các mẫu cai quản tứ phủ, gọi là “Tứ phủ chầu bà”. (có nghĩa là: thêm một phủ (cõi) nữa trong tâm thức dân gian là: cõi đất. Chầu Mẫu Địa, tức là: chầu Mẹ Đất).
- Các vị quan lớn (năm vị, gọi là ngũ vị tôn quan).
- Các vị quan hoàng.
- Các cô và các cậu.
Đặc biệt, “cha” Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) và “mẹ” Liễu Hạnh Công Chúa (Bà Chúa Liễu) có văn chầu rất phổ biến, được hát chầu vào dịp tháng Ba, tháng Tám theo câu ca: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”. Mẫu Liễu được dân gian nhiều địa phương xem là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Tục thờ Đức Thánh Trần và thờ Mẫu Liễu như được biết, có từ thời Hậu Lê.
“Dấu tích Hậu Lê” khá rõ trong hát chầu văn cổ truyền. Đó là những dấu tích của cả một trường kỳ lịch sử với sự khởi xướng và phát triển của không ít loại hình nghệ thuật dân tộc còn lưu tồn đến nay, trong đó có nghệ thuật đàn, hát chầu văn.
Riêng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ xa xưa đã lưu truyền nghệ thuật hát chầu văn ở các đền, phủ, miếu, đặc biệt là ở những nơi thờ mẫu vào dịp lễ hội, ngày xuân, đầu tháng, ngày rằm… Bởi vì: Ninh Bình là một vùng đất có Kinh đô Hoa Lư cách nay đã nghìn năm, được coi là một trong những cái nôi của nghệ thuật hát chèo cổ truyền, đồng thời là cái nôi gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu và nghệ thuật Chầu văn.
Tỉnh Ninh Bình sau khi hợp nhất là trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ lớn và đậm đặc nhất cả nước. Ở đây có khá nhiều đền, phủ, miếu, điện thờ Mẫu. Đặc biệt, Quần thể di tích Phủ Dầy tại Vụ Bản gắn liền với giáng sinh lần thứ hai của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nơi đây lưu giữ các giá trị văn hóa hầu đồng và hát chầu văn nguyên bản, đậm đặc và lâu đời nhất trong đời sống tâm linh người Việt qua hệ thống Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Bà Chúa Liễu. Hệ thống đền đài vùng“cổ họng Bắc - Nam” núi, đèo Tam Điệp là nơi thờ Tam tòa Thánh Mẫu có quy mô, kiến trúc và phong cảnh nổi tiếng, hương khói quanh năm. Đại diện linh thiêng vùng Duy Tiên lan tỏa đậm đặc qua các di tích nổi tiếng như Đền Lảnh Giang phục dựng không gian diễn xướng Chầu văn thờ Tam phủ, Tứ phủ…cùng một số đền, phủ, miếu khác là nơi thờ Tam phủ như: thờ Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Bạch Hoa Công chúa, Hồng Hoa Công chúa… Phủ Đồi thuộc xã Nho Quan, động núi Non Nước (núi Thuý) thuộc phường Hoa Lư có thờ Tam Vị Thánh Mẫu.
Không gian của chầu văn cổ truyền là nơi trước điện thờ. Hát chầu văn trong các đền, phủ, miếu thường có kết hợp với hầu bóng (nhập vai mẫu hay một chư vị thần thánh). Người xưa quan niệm đó là một phương cách hữu hiệu để mọi người có thể giao tiếp với các Mẫu, với các chư vị nhân thần mà bày tỏ ước vọng, nỗi niềm thầm kín. Đặc biệt, các mẫu trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam là biểu tượng có cội nguồn từ sâu thẳm nơi ký ức của cả cộng đồng dân tộc. Trong bầu không khí buổi chầu văn - trước điện thờ Mẫu hay trước điện thờ các ông Hoàng, bà Chúa, các “con nhang đệ tử” cảm thấy như được sống trong những giờ phút thăng hoa hiếm có.
Trong mỗi dịp lễ hội, ngày xuân, dịp “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, các cung văn (người đàn, hát chầu văn) được dịp trổ tài những ngón đàn, điệu hát đặc sắc và trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Trong đời “tác nghiệp” của mình, mỗi cung văn thường đi đây đó nhiều nơi để vừa hành nghề, vừa học hỏi đồng nghiệp. Có những cung văn đã nhập tâm được hầu hết các giá văn chầu Mẫu, chầu các ông Hoàng, bà Chúa. Song có lẽ hơn ai hết, các cung văn người địa phương (nơi có đền, phủ thường có hát chầu văn) có điều kiện hơn để tiếp thu được tinh hoa sáng tạo đặc sắc về đàn và hát được quy tụ về đây từ bốn phương.
Từ trong các đền, phủ, miếu, với vai trò là một phương tiện nghệ thuật phục vụ tín ngưỡng, nghệ thuật hát chầu văn đã “chuyển mình”, được đưa lên sân khấu, truyền lên làn sóng điện vào khoảng đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX để đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá nghệ thuật của đông đảo nhân dân. Đó dường như là một quy luật. Đã có người nhận xét: “Người đương thời hát dân ca theo tâm trạng và nhạc điệu của thời đại mình. Tới giai đoạn lịch sử chín muồi, bản thân nó sẽ bùng lên và trở thành một “cái khác” mới hơn, mạnh hơn, tiến bộ hơn. Sự chuyển mình của một vùng dân ca nào đó lên sân khấu là một nhu cầu chính đáng và cấp bách trong đời sống văn hoá”.
Tại Liên hoan các trích đoạn chèo hay toàn quốc, tổ chức tại Ninh Bình năm 1993, tiết mục “Ba giá đồng” (tương ứng ba giá văn) đã được đưa lên sân khấu, được đông đảo khán giả tán thưởng nồng nhiệt.
Đến nay, đã có nhiều bài hát văn quen thuộc. Về cơ bản, các bài hát văn đều có nội dung ca ngợi đất nước, quê hương, hòa nhập vào nhịp sống mới, với những chất liệu âm nhạc đặc sắc, tươi vui, sôi động được chắt lọc từ âm nhạc chầu văn cổ truyền.
Trên địa bàn cả nước nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng, âm nhạc chầu văn trên sân khấu nghệ thuật và trên làn sóng điện ngày càng được nhiều khán, thính giả ưa chuộng. Câu hát văn hôm nay đã là một món ăn tinh thần thật hấp dẫn, quen thuộc đối với mọi người dân.
N.Q.H
(Nguồn: TC VNNB số 321 - 07/2026)