ĐINH NGỌC LÂM
Nghề thêu làng Văn Lâm phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã có từ lâu đời, tạo cho nơi đây một nét văn hóa đặc sắc và độc đáo. Những nghệ nhân tài hoa nhiều thế hệ đã tạo nên bao bức thêu lộng lẫy, tinh sảo mang giá trị văn hóa truyền thống độc nhất vô nhị trong nước và tiếng vang lan tỏa trên khắp thị trường thế giới.
Nhờ có nghề thêu mà dân nơi đây có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên bình vững vàng từ nhiều đời nay. Để tỏ lòng biết ơn tiền nhân đã tạo nghề cho làng, nhân dân Văn Lâm đã lập đền thờ Tổ nghề từ đầu những năm 80 thế kỷ trước bên dòng sông Ngô Đồng khu vực bến đò Tam Cốc phía tây Đình Các, tôn bát nhang thờ Tổ nghề thêu Lê Công Hành. Ông là quan trong triều Hậu Lê học được cách thêu lọng từ Trung Quốc về truyền dạy cho làng Quất Động (huyện Thường Tín thuộc Sơn Tây cũ), được phong là Tổ nghề thêu Việt Nam; cùng hai bát nhang thờ hai Tổ nghề Đinh Ngọc Hênh và Đinh Ngọc Xoang là hai anh em ruột ở làng Văn Lâm đã học được từ người Pháp kỹ thuật thêu hàng trắng về truyền dạy cho làng. Tuy nhiên nguồn cội nghề thêu làng Văn Lâm có từ bao giờ và ai là người khởi nguồn truyền dạy nghề cho làng thì vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp. Sau một quá trình sưu tầm, tìm hiểu khá công phu thông qua chính sử, dã sử, thần tích và các bài viết tham gia hội thảo cũng như tìm hiểu lịch sử, đến nay câu hỏi trên đã có câu trả lời.
Trong cuốn sách “Danh nhân Ông Tổ nghề thêu Lê Công Hành” của nhiều tác giả do Nhà xuất bản Văn học ấn hành đã làm rõ Lê Công Hành là người học được lý thuyết thêu lọng của Trung Quốc thông qua tự quan sát, rồi tự thực hành thành công trong lần đi sứ vào năm 1646 (năm Bính Tuất, thời vua Lê Thần Tông - Hậu Lê). Sau này về hưu ông truyền dạy cho bà con làng Quất Động quê ông. Nghề thêu màu Quất Động đã lan tỏa ra kinh thành Thăng Long, vào kinh thành Huế, không có bài viết hoặc tài liệu nào nói về Tổ nghề Lê Công Hành với làng nghề thêu Văn Lâm. Trong đó có một số bài viết khẳng định nghề thêu ở Việt Nam đã có từ cách thời Lê Công Hành (Hậu Lê) là hơn 400 năm về trước (ứng với triều đại Nhà Trần). Việc tôn bát nhang tại đền thờ Tổ nghề ở làng nghề thêu Văn Lâm là tôn thờ ngôi vị Ông Tổ nghề thêu Việt Nam đã được nhà nước công nhận, nhưng là Ông Tổ truyền nghề thêu cho làng Văn Lâm thì không có cơ sở.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì vua Đinh Tiên Hoàng đã lập 5 hoàng hậu là: Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Cồ Quốc và Ca Ông. Cồ Quốc là Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen, ngày nay bà được ngành may mặc Việt Nam tôn làm Thánh tổ và làng may áo dài Trạch Xá tôn làm Thánh sư. Trong một bài viết “Bà Tổ nghề may là ai? Nguồn gốc và tổ nghiệp ngành may mặc” của trang tin Sư Tử Vàng ngày 02/12/2020 có đoạn: “Với đôi bàn tay khéo léo và trí thông minh hơn người bà đã cùng các cung phi tạo ra những loại quần áo sang trọng và đẹp mắt vô cùng. Đặc biệt đã huấn luyện cho triều đình bấy giờ một đội ngũ thêu thùa, may vá đông đảo giúp cho nghề may mặc trong cung phát triển mạnh mẽ, điều mà trước đây chưa từng xảy ra”.
Theo Báo Pháp luật ra ngày 07/3/2021, với tiểu mục “Tứ phi giỏi thêu thùa, may vá” đã dẫn: “Theo thần tích, bà Nguyễn Thị Sen sinh ra và lớn lên ở làng Trạch Xá, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, trấn Sơn Tây (ngôi làng được Quý Minh Đại Vương là thần tướng dưới thời Hùng Vương lập nên). Vào tuổi trăng tròn bà là người con gái xinh đẹp, nết na, đảm đang, giỏi giang việc trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, may mặc, thêu thùa… Nhân dịp vua Đinh Tiên Hoàng về trấn Sơn Tây chọn hiền tài giúp nước, đến làng Trạch Xá, tổng Hòa Lâm (Ứng Hòa) đã cảm mến và kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Sen. Về kinh đô Hoa Lư, Nguyễn Thị Sen được phong là Tứ phi Hoàng hậu. Tại cung vua, bà được giao quản bộ May trang phục hoàng triều. Với trí thông minh, sự khéo léo và sáng tạo, bà đã cùng các cung phi tạo nên các loại quần áo của Hoàng tôn, Công tử, Hoàng hậu và Triều nghi, thứ nào cũng vừa trang trọng và tiện lợi. Đặc biệt đã đào tạo được đội ngũ người may, người thêu đông đảo. Bà dạy cho các cung nữ từng đường kim mũi chỉ phát triển nghề may trong cung vua mà trước đây chưa hề có”. Từ trong thần tích được trích và khắc lên bức đại tự bằng gỗ sơn son thếp vàng rất uy nghi với 4 dòng văn, nguyên chữ như sau:
“Triều Đinh Phong tặng Đệ Tứ Phi
Dân Việt Tôn Thờ Thánh Tổ Nghề
May Mặc Thêu Thùa Danh Đất Việt
Trạch Xá Linh Từ Mãi Truyền Ghi”
Bức đại tự được treo ở vị trí cao nhất, chính cung đền Trạch Xá thờ Thánh tổ nghể - Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen. Truyền rằng, sau khi cha con Vua Đinh bị sát hại, Tứ phi buồn bã xin triều đình cho đưa con gái là công chúa Liên Hoa về quê hương Trạch Xá sinh sống, về quê bà đem hết tài năng cắt may truyền dạy cho dân làng thành nghề làm kế sinh nhai. Theo các cụ trong Ban quản lý đền Trạch Xá kể lại rằng: về quê vì để mai danh ẩn tích nên Tứ phi chỉ truyền dạy cắt may, nghề thêu thùa được bà kín đáo truyền cho một dòng họ, nhưng sau này vì không có điều kiện phát triển nên đã mai một.

Hội thêu làng nghề Ảnh: LỆ THANH
Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng nghề thêu được hình thành ở thế kỷ thứ 10, bắt đầu từ triều đại Nhà Đinh và khởi nguồn là Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen, người đầu tiên truyền dạy nghề thêu thùa ở Hoa Lư.
- Thứ nhất, Đinh Tiên Hoàng Đế là vị vua dựng nền Độc lập đầu tiên cho nước nhà. Chính vì vậy trong chính sách phát triển kinh tế thì phát triển các ngành nghề là tối quan trọng. Trước mắt là phục vụ cho triều đình, sau phát triển rộng rãi trong dân chúng để phát triển kinh tế. Một số ngành nghề thủ công điển hình cùng hình thành ở thời kỳ đó như nghề mộc, nghề gốm, nghề chế tác đá, nghề rèn, đúc đồng, nghề trồng dâu nuôi tằm, kéo sợi dệt vải, nghề cắt may, thêu thùa .v…v. Trong đó hai nghề thêu thùa cùng với cắt may để phục vụ trực tiếp cho triều đình là một trong những đòi hỏi cấp thiết, cần phải có một lực lượng đông đảo thợ lành nghề mới đáp ứng được. Không chỉ các cung phi mà dân chúng quanh vùng Hoa Lư cũng được tuyển chọn để Tứ phi Hoàng hậu truyền dạy nghề mới đáp ứng được nhu cầu của triều đình. Việc quan hệ hàng hóa với Trung Quốc thời điểm đó gần như tuyệt giao, buộc phải đẩy mạnh phát triển các ngành nghề để tự lực tự cường, trong đó có nghề thêu thùa đi liền với nghề cắt may.
- Thứ hai, việc thêu thùa trong dân gian đã xuất hiện từ thời Hùng Vương, đến thời Hai Bà Trưng xuất hiện cờ khởi nghĩa tiêu biểu được thêu chữ lớn mang nội dung “Đền nợ nước, trả thù nhà”, cùng với những hiện tượng thêu trên vải bằng sợi xe. Song đấy mới chỉ là những biểu hiện thêu dân gian, bằng sự khéo léo, sáng tạo đơn lẻ cá nhân, trong một không gian, một hoàn cảnh nhất thời chưa được tập trung thành nghề sản xuất. Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen với vai trò trọng trách được triều đình giao phó, bà đã bằng tài năng, sự khéo léo, sáng tạo đúc kết tất cả các đường nét thêu dân gian thành quy tắc để truyền dạy thành nghề. Chẳng hạn, muốn thêu hoàn hảo một hình rồng lên vải phải biết cách thêu từng bộ phận trên hình vẽ con rồng, mỗi bộ phận phải được thao tác một cách riêng, muốn làm được điều đó đòi hỏi phải được đào tạo, dạy và học nghề một cách công phu. Điều kiện để truyền dạy thành một nghề cho đông người không đơn giản, phải hội đủ các yếu tố cơ bản như: người dạy nghề phải là người có tay nghề giỏi, kỹ năng điêu luyện, sáng tạo, khả năng truyền thụ tốt, có đức và lòng nhiệt tình, tận tụy; có đủ điều kiện vật chất để tổ chức truyền dạy nghề; có đông người chí thú học nghề, khi thành nghề phải có nơi tiếp thu sản phẩm và người thợ phải kiếm sống được bằng nghề. Theo các điều kiện trên, việc tập trung truyền dạy nghề thêu ở triều đại Nhà Đinh thời điểm đó là có dư điều kiện.
- Thứ ba, năm 990 vua Lê Đại Hành đã cử người đi sứ Trung Quốc mang theo cống vật, một trong bảy cống vật đó có một chiếc dù bằng lụa thêu hình long, phượng, cán dài bằng vàng khảm đồi mồi. điều đó càng khảng định thêm rằng nghề thêu đã phát triển mạnh, làm được những sản phẩm mang giá trị nghệ thuật cao. Từ thời Đinh Tiên Hoàng Đế đã khoác áo long bào thể hiện quyền uy, rồi đến các triều đại sau các vị vua nước ta đều khoác áo long bào. Việc thêu hình rồng trên áo vua, trên cống vật không phải ai cũng làm được, phải là các nghệ nhân điêu luyện. Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen được dân gian truyền tụng, sử sách lưu truyền, hẳn phải là người tài giỏi, có tâm có đức, có lòng thương dân đã truyền dạy để lại cho các đời sau một đội ngũ nghệ nhân thêu thùa tài hoa mới làm nên được những sản phẩm như chiếc dù mà vua Lê Đại Hành làm cống vật ngoại giao như vậy. Điều đó cho thấy nghề thêu thùa ở vùng kinh đô Hoa Lư xưa đã có trước thời Nhà Trần từ rất lâu và đã thành nền tảng vững chắc cho sự nối dòng truyền lưu.
- Thứ tư, nghề thêu được hình thành đầu tiên tại cố đô Hoa Lư là chính xác. Song chỉ hội tụ về Văn Lâm và tồn tại đến bây giờ chứ không hội tụ về bất cứ một ngôi làng nào trong địa hạt Ninh Bình cũ. Điều đó càng chứng tỏ rằng thời điểm đổi tên làng từ Ô Lâm thành Văn Lâm là thời điểm Vua Trần Thái Tông chiêu tập các nghệ nhân thêu và các thợ thêu lành nghề từ quanh vùng Cố đô Hoa Lư về một làng duy nhất là Văn Lâm.
Như vậy, theo các tài liệu sưu tầm trong lịch sử, dã sử, trong thần tích thì việc nhận định Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen là người truyền dạy và tổ chức thành nghề thêu thùa đầu tiên của nước ta ở kinh đô Hoa Lư là hoàn toàn có cơ sở.
Liên hệ với làng nghề thêu Văn Lâm, phường Nam Hoa Lư ngày nay. Làng Văn Lâm đã hình thành từ rất xa xưa, từng có tên là Ô Lâm rồi đến đời Nhà Trần được đổi thành Văn Lâm. Thời Nhà Trần, sau khi chiến thắng quân Nguyên - Mông lần thứ nhất vào năm 1258 vua Trần Thái Tông trao quyền cho con rồi về am Thái Vi tại Hành cung Vũ Lâm (nay thuộc phường Nam Hoa Lư - Ninh Bình) tu hành và tịnh dưỡng. Nhà Vua đã cho xây dựng Hành cung Vũ Lâm thành kinh đô kháng chiến. Làng Ô Lâm được chọn là nơi ở của các quan văn, cùng với việc chiêu tập các nghệ nhân và các thợ thêu thùa lành nghề trong vùng Hoa Lư về làng này định cư, hành nghề để phục vụ triều đình từ đó Nhà Vua đổi tên làng Ô Lâm thành Văn Lâm (Lịch sử và Dư địa chí Ninh Bình). Cho đến nay làng Văn Lâm có tới 11 dòng họ, trong đó chỉ có 2 dòng họ ít hộ nhất làng là không hành nghề thêu (họ Ngô và họ Trần). Nghề thêu đã gắn bó với làng Văn Lâm từ hàng ngàn năm nay trở thành làng nghề truyền thống (năm 2025 nghề thêu đã được nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia). Qua bao cuộc thăng trầm đến nay nghề “thêu thùa” của làng được đổi tên gọi thành nghề “thêu ren”, vì nghệ thuật thêu được kết hợp với nghệ thuật rua, ren tạo nên những sản phẩm đặc sắc và đa dạng. Vào những năm 80 thế kỷ trước, đại diện làng Văn Lâm đã họp và thống nhất tôn bát nhang, đặt tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung (Nhà Trần) tại động Hang Thiên (gần đền Thái Vi) để ghi nhớ công lao của bà với Triều Trần và đất nước (theo tài liệu ghi chép của ông Đinh Công Phan - người làng đã mất, ông sinh vào khoảng năm 1927). Không ít người dân Văn Lâm đã cho rằng bà Trần Thị Dung là Bà Tổ nghề thêu của làng. Lịch sử cho thấy 1258 khi vua Trần Thái Tông về Thái Vi tịnh dưỡng đồng thời khởi xướng xây dựng Hành cung Vũ Lâm làm căn cứ địa kháng chiến. Bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ được triều đình giao làm nhiệm vụ hậu cần phục vụ kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất, sau đó bà bị ốm nặng, mất vào tháng giêng năm 1259 tại Thăng Long (có tài liệu nói bà mất ở Tức Mạc - Thiên Trường). Sau khi bà Trần Thị Dung mất mới được truy tặng danh hiệu Linh Từ Quốc Mẫu. Như vậy sự suy tưởng và đồn đoán của một bộ phận dân làng nghề thêu Văn Lâm là hoàn toàn không có cơ sở.
Sau một quá trình sưu tầm tài liệu rất công phu về Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen, ngày 18/4/2025 làng nghề thêu Văn Lâm đã tổ chức cuộc tọa đàm về Tổ nghề thêu của làng. Thành phần tham dự có đại diện Cấp ủy, UBND cùng các cán bộ phụ trách các ban ngành của xã (Ninh Hải cũ); Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Văn Lâm; đại diện Ban chấp hành làng nghề; đại diện Hội người cao tuổi cùng các nghệ nhân và các tay kim lành nghề của làng. Hội nghị đã mời nhà sử học Trương Đình Tưởng - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Ninh Bình dự với vai trò cố vấn phản biện và thẩm định. Sau khi nghe bản thuyết trình, các đại biểu tham gia ý kiến, hầu hết đã nhất trí với nội dung trình bày. Trên cơ sở tài liệu sưu tầm và các ý kiến trong hội nghị, nhà sử học Trương Đình Tưởng đã đánh giá tài liệu nghiên cứu sưu tầm là rất công phu, đầy đủ cơ sở để khẳng định Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen là người khởi thủy thành nghề thêu ren của làng Văn Lâm ngày nay. Hội nghị thống nhất tôn Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen là Thánh tổ nghề thêu của làng Văn Lâm, bàn thờ đặt chính giữa ngôi đền mới được xây dựng lại trên nền ngôi đền cũ, bên phải đặt long ngai bài vị thờ Tổ nghề Lê Công Hành, bên trái đặt long ngai bài vị thờ hai Tổ nghề Đinh Ngọc Hênh và Đinh Ngọc Xoang.
Ngày 13/5/2025, đại diện làng Văn Lâm đã tổ chức rước chân nhang Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen từ đền thờ Trạch Xá về lập bát nhang tôn thờ với ngôi vị Thánh tổ nghề thêu của làng, sau đó tiến hành đúc tượng, chân dung bức tượng Tứ phi Hoàng hậu theo nguyên mẫu ở đền Trạch Xá, các nghệ nhân tạo hình nổi tiếng đã tạo dựng phần thân, hoàn thành bức tượng Thánh tổ nghề thêu Văn Lâm đẹp lộng lẫy, dung mạo phúc hậu đoan trang, thần thái khí chất thông minh, tươi sáng với chất liệu bằng đồng đúc nguyên khối, dát vàng. Ngày mùng 7 tháng 10 năm 2025 tức ngày 16 tháng 8 âm lịch, tượng được rước về yên vị trên bàn thờ ô sa tại gian chính giữa của đền, long trọng tổ chức lễ hô thần nhập tượng tôn vị Thánh tổ nghề thêu làng Văn Lâm. Điều mong mỏi bấy lâu nay của làng nghề thêu Văn Lâm đã được thỏa nguyện. Một việc làm hết sức ý nghĩa, thể hiện lòng tri ân sâu sắc với các bậc tiền nhân đã khai mở truyền nghề đến muôn đời sau, góp phần tôn vinh một giá trị văn hóa lịch sử quý báu không chỉ của làng Văn Lâm mà còn ghi thêm một giá trị trường tồn tô thắm thêm cho vùng đất Cố đô Hoa Lư - Ninh Bình với bề dày lịch sử văn hóa hùng thiêng.
Hoa Lư, tháng 12/2025
(Nguồn: TC VNNB số 316 - 02/2026)