NGUYỄN XUÂN KHANG
Chùa Cổ Lễ tên chữ là 神 光 寺(Thần Quang tự), tọa lạc tại xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình.
Theo các tài liệu, thư tịch cổ cho biết chùa Cổ Lễ (Thần Quang tự) được khởi dựng từ thời Lý do Quốc sư Nguyễn Minh Không sáng lập. Bài minh khắc trên chuông đồng đúc năm 1799 (Cảnh Thịnh năm 7) lưu giữ tại chùa, có câu: “Chân cảnh trời nam, Thánh Tổ đản giáng, dựng chùa Thần Quang”.
Tương truyền, ban đầu chùa được xây dựng ở đầu làng Cổ Lĩnh, ngay cạnh bờ sông Hồng chỉ có ba gian, khung tre, lợp bổi (vỏ cây cói). Sau khi Thiền sư Nguyễn Minh Không đến trụ trì, Ngài đã kêu gọi tín đồ cùng nhân dân đóng góp tiền của, công sức để trùng tu, tôn tạo mở rộng quy mô ngôi chùa. Năm Tân Hợi (1611), nước sông Hồng dâng cao, đê vỡ, lụt lớn làm đất lở, ngôi chùa đã vĩnh viễn bị chôn vùi, khép lại lịch sử huy hoàng sau gần 500 năm tồn tại. Niên hiệu Hoằng Định (1601–1619), nhân dân địa phương cùng nhau góp công góp của phục dựng lại chùa theo kiến trúc hình chữ “工” (công) và vẫn lấy tên chùa cũ là “Thần Quang tự”.
Năm 1902, khi Hòa thượng Phạm Quang Tuyên và các thế hệ sư trụ trì kế cận đã hoàn thiện thêm những công trình như xây dựng thêm nhà Hội quán, đền Thánh, đền Mẫu, tháp mộ Sư tổ, làm bia, xây đài tưởng niệm các nghĩa sĩ phật tử, tháp mộ các vị Hòa thượng... tạo thêm sự bề thế, nguy nga cho ngôi chùa.
Chùa Cổ Lễ tọa lạc trên một khu đất rộng gần 2ha ở một vị thế đắc địa, cảnh quan sơn thủy hữu tình. Chùa gồm rất nhiều hạng mục công trình, như: Tháp Cửu phẩm liên hoa, Tam quan, Hội quán Phật giáo, Linh Quang tự, đền thờ Đức Thánh Trần và Trạng nguyên Đào Sư Tích cùng Tiến sĩ Đào Toàn Bân, Phủ Mẫu, tả–hữu Hội quán, chính điện chùa, nhà Tổ, nhà giảng đường, phương đình, gác chuông "Kim Chung Bảo Các", khu vườn tháp mộ, nhà khách, trai đường, tăng phòng, ni phòng, đài tưởng niệm, hồ nước… Các công trình kiến trúc mặt bằng chùa Cổ Lễ gồm 17 toà, 126 gian. Độc đáo và tiêu biểu nhất là những kiến trúc sau:
Tháp Cửu phẩm liên hoa: Tháp được xây dựng từ năm 1929, có hình bát giác, xây giữa hồ lớn, với kích thước 22,85m x 18,35m, cao 26,30m. Nền tháp thể hiện là một con rùa (biểu hiện của sự trường tồn) đặt giữa một hồ hình vuông, đầu rùa hướng vào trong chùa. Dáng vóc rùa sinh động, chắc khỏe với chiều dài dọc thân tính từ đầu đến đuôi rùa là 18m, chiều rộng mai 10,10m. Tháp có 11 tầng: một tầng đế, chín tầng hoa sen và một tầng đỉnh. Từ xa nhìn lại, cây tháp như một đóa sen khổng lồ với 9 lớp cánh liên tiếp xếp chồng lên nhau đúng như tên gọi của tháp là Cửu phẩm liên hoa (chín tầng hoa sen liên kết mà thành).
Đỉnh tháp, nơi có đặt tượng A Di Đà bằng đồng đang ngồi thiền định. Ngắm nhìn ngôi tháp, chúng ta sẽ thấy sự vững chãi, huyền diệu và gợi cảm thể hiện qua sáu cặp rồng bám theo thân tháp, từng đôi một vờn nhau. Hình tượng rồng mập mạp, uốn khúc với dáng vẻ khỏe mạnh đã làm tôn thêm vẻ hoành tráng của cây tháp. Trong văn hóa Việt Nam, biểu tượng rồng đại diện cho quyền lực, sự may mắn, thịnh vượng, sự thăng tiến, là tín hiệu tốt lành cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Khi được thể hiện trong chùa tháp, rồng biểu trưng cho nền nông nghiệp lúa nước phồn thịnh, biểu tượng cho sự cao quý và những phép biến hóa khôn lường của đức Phật.
Ngoài trang trí hình rồng ở các cạnh tháp, giữa bốn mặt chính của Tháp còn đắp nổi chữ Hán các tên hiệu Phật, những câu kinh Phật trên thân tháp, không chỉ với mục đích trang trí để tạo điểm nhấn mà hơn cả đó là tâm nguyện, lời thỉnh cầu gửi đến chư Phật, Bồ Tát, đấng tối cao linh thiêng luôn phù hộ, dẫn dắt chúng sinh thoát khổ đau, phiền não, gặp nhiều điều tốt lành và may mắn trong cuộc sống.
Cửu phẩm liên hoa là một cây tháp cao, kiến trúc độc đáo, một tháp thời Nguyễn hiếm hoi trong phổ hệ tháp Việt Nam. Cây tháp phối hợp với toàn bộ ngôi chùa, cánh đồng sông nước và đường đi bao quanh tạo thành một thắng cảnh đẹp, sơn thủy hữu tình nơi miền quê dân giã.

Toàn cảnh chùa Cổ Lễ Ảnh: VIẾT DƯ
Cầu cuốn: được xây dựng năm 1921. Cầu dài 10,60m, rộng 4m, cuốn thành 3 vòm nằm vắt ngang qua hồ Chu Tước (còn có tên gọi là A Nốc). Hồ nước này bao quanh nhà Hội quán và Chính điện, thông với sông Cổ Lễ. Trong lễ hội, hồ là nơi neo đậu thuyền chải của các trai bơi vào lễ Thánh trước khi xuất phát. Cầu cuốn bắc qua hồ nước bên cạnh đắp non bộ hai bên làm tăng thêm phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi thờ tự.
Tam quan: Chùa Cổ Lễ có sự khác biệt hoàn toàn với tam quan của các ngôi chùa truyền thống. Ở các ngôi chùa tam quan được dưng ở phía trước chính điện, là công trình kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa, với cả ý nghĩa sử dụng và ý nghĩa tâm linh. Nhưng ở chùa Cổ Lễ, đi qua cầu cuốn là tới tam quan chùa.
Tam quan chùa Cổ Lễ quay hướng Tây (biểu thị hướng về Tây Thiên đất Phật), thiết kế gồm bốn cột trụ vuông, tạo thành 3 cửa ra vào, trong đạo phật thường gọi là trung quan, không quan và giả quan. Mặc dù Tam quan chùa Cổ Lễ có sự khác biệt với tam quan của các ngôi chùa truyền thống nhưng vẫn bảo lưu phong cách kiến trúc nghệ thuật cổ truyền của dân tộc.
Đền thờ Đức Thánh Trần và Thành hoàng (Linh Quang từ)
Đền có bố cục mặt bằng kiến trúc kiểu tiền nhất “—”, hậu đinh “丁”, gồm 3 tòa: tiền đường, trung đường và hậu cung. Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và hai cha con Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích.
Chính điện (Nhất thốc lâu đài)
Chính điện - công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật độc đáo kết hợp giữa kiến trúc cổ truyền dân tộc với kiến trúc Gô tích của Thánh đường Thiên chúa giáo, mang phong cách “cửa Thiền trên nền văn hóa dân tộc, phương Đông kết hợp phương Tây” hiếm có tại Việt Nam.
Chính điện có tới chín tòa khác nhau với nhiều tòa ngang, dãy dọc liên kết thành một khối, kết cấu kiểu khung cột, vòm cuốn, xây dựng bằng gạch, vôi, cát, mật mía. Toàn bộ thành phần kiến trúc cơ bản của chùa gồm: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, đều nằm trong một mặt bằng hình chữ nhật dài 29,30m, rộng 13,90m.
Lần đầu tiên trong lịch sử kiến trúc Phật giáo Việt Nam, xuất hiện một tòa thượng điện cao lớn, vững chãi và đầy uy nghiêm, tạo cảm giác vươn lên bầu trời thay vì nằm sát mặt đất như các ngôi chùa truyền thống. Với lối thiết kế khác biệt này, ngôi chùa không chỉ tạo ra một không gian tâm linh mà còn biến nó thành một biểu tượng kiến trúc. Với mái vòm chịu lực theo phong cách Gothic, thượng điện của chùa mang tính cách mạng về mặt kỹ thuật, mỹ thuật. Nhưng điều quan trọng hơn cả là sự kết hợp tinh tế giữa yếu tố phương Tây và các họa tiết Phật giáo như rồng chầu, hoa sen với tạo hình văn tự và các biểu tượng tâm linh khác. Điều này giúp thượng điện dù đổi mới và có tính đột phá, nhưng vẫn giữ được bản sắc Phật giáo Việt Nam. Một trong những sáng tạo đặc biệt nhất trong thượng điện chùa Cổ Lễ là việc sử dụng mái vòm như một bức tranh khổng lồ. Mái vòm được thiết kế tinh tế với các hình vẽ mây uốn lượn, tạo cảm giác như bầu trời đang mở rộng ra vô tận. Điểm đặc biệt là tràng phan được vẽ trực tiếp trên mái vòm, đan xen với các tràng phan thật treo trong không gian thượng điện. Trong không gian thượng điện, các tràng phan thật được treo dọc theo lối đi và quanh khu vực tượng Phật, chỉ một cơn gió thoảng cũng làm những tràng phan chuyển động liên tục. Trong khi đó, các tràng phan vẽ trên mái vòm lại bất động, như thể chúng đã vượt qua khỏi mọi giới hạn của thời gian và không gian. Sự tương phản này càng làm tăng thêm chiều sâu và sự phong phú cho không gian thượng điện, đưa người chiêm bái vào một trạng thái tâm linh đặc biệt, nơi mà thực và siêu thực không còn ranh giới.
Tại chùa Cổ Lễ, các tượng Phật trong thượng điện không chỉ được đặt trên bệ cao mà còn được nâng lên một cách vượt bậc, tạo cảm giác như các vị Phật đang hiện hữu trong một cõi thiêng liêng, vượt xa khỏi thế giới trần tục. Phía dưới thượng điện thờ Phật là cung thờ Thánh tổ Nguyễn Minh Không. Chùa Cổ Lễ kiến trúc “tiền Phật, hậu Thánh” lại có điểm khác với các chùa hiện diện kiểu kiến trúc này. Bởi vì nơi đây, việc thờ Thánh và thờ Phật được bài trí ngay trong cùng một không gian Phật điện. Bài trí trong cùng một không gian Phật điện như vậy nhưng vẫn có sự phân biệt nơi thờ Phật và nơi thờ Thánh bằng cách kiến trúc thành hai tầng: tầng trên (phía ngoài) thờ Phật, tầng dưới (phía sau) thờ Thánh. Phật điện thờ Phật, Thánh trong cùng một không gian kiến trúc ở chùa Cổ Lễ là duy nhất ở Việt Nam mà không chùa nào có.
Phương đình
Công trình được xây dựng trên mặt bằng có diện tích rộng 66m2 (10m x 6,60m). Kết cấu tòa Phương đình thiết kế theo kiểu 2 tầng, 8 mái, mái lợp ngói nam, đầu đao cong trang trí họa tiết lá lật, vân xoắn, bờ nóc đắp đôi rồng hóa chầu hoa sen. Phần cổ đẳng nối mái tầng trên với tầng dưới tạo thành các ô cửa lắp trấn song con tiện.
Gác chuông “Kim chung bảo các”
Gác chuông hiệu “Kim chung bảo các” (gác báu chuông vàng) được xây dựng năm 1997. Gác chuông cấu trúc theo hình vuông 4 cạnh, 3 tầng, kích cỡ từng tầng thu nhỏ dần, chiều cao từ nền lên đỉnh gác chuông là 13m, tổng diện tích 134m2. Mái hình chóp, tứ diện cân, lợp ngói vẩy cá. Bốn góc đao cong vút, trên đắp hình rồng trong tư thế ngẩng đầu cao. Đỉnh gác chuông đắp rồng chầu Pháp luân - một biểu tượng tôn kính đạo pháp nhà Phật.
Gác chuông kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc truyền thống với kỹ thuật hiện đại phương Tây. Vật liệu chủ yếu trong kiến tạo hình khối là xi măng, sắt thép nhưng nhìn không có cảm giác nặng nề mà toát lên đường nét uyển chuyển, hài hòa với cảnh quan chủa.
Bên cạnh thờ Phật, chùa còn thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không, vị Quốc sư thời Lý có nhiều công lao đóng góp đối với đất nước và nhân dân. Sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: "Minh Không, người huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, làm sư chùa Giao Thủy. Nhà vua có tật, thầy thuốc chữa không công hiệu; Minh Không chữa khỏi; được ban hiệu quốc sư. Lại miễn tô dịch cho vài trăm hộ để cho Minh Không được quyền sử dụng".
Lễ hội
Hàng năm, cứ đến ngày ngày 13 (từ 13 -16/9, Âm lịch) nhân dân thập phương nô nức về dự Hội Ông để kỷ niệm ngày sinh của Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không. Lễ hội chùa Cổ Lễ còn lưu giữ và bảo tồn được niều nghi thức và trò diễn, trò chơi dân gian đặc sắc gồm: Dâng hương, rước, tế (nam quan, nữ quan), múa chầu rối, bơi trải, tổ tôm điếm...
Hiện vật
* Bia đá: Hiện nay, chùa Cổ Lễ còn lưu giữ được 313 bia đá được soạn khắc bằng chữ Hán và chữ Quốc Ngữ. Trong đó, có 303 bia quy và bia phối hưởng, 10 bia ghi việc dựng, tu sửa và ca ngợi công lao của Đức Thánh Nguyễn Minh Không,… Đặc biệt nhất là các tấm bia:
- Bia đá “Thần Quang tự bi minh” (Minh bia chùa Thần Quang) khắc năm 1747, triều vua Lê Cảnh Hưng 8, kích thước cao 165cm, rộng 84cm, dày 18cm, chạm khắc 2 mặt. Nội dung văn bia ghi về việc xây dựng chùa Thần Quang gắn với công lao của Thánh tổ Nguyễn Minh Không.
- Bia đá “Nhị Đào công từ bi minh” (Bia đền thờ hai vị họ Đào) khắc năm 1856, triều vua Nguyễn Tự Đức 9; kích thước cao 132cm, rộng 70cm, dày 15cm, chạm khắc 2 mặt. Nội dung văn bia ca ngợi học vị, phẩm chất của hai vị Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích.
* Tượng thờ: hiện nay, chùa Cổ Lễ đang lưu giữ hơn 100 pho tượng với các chất liệu gỗ, đồng, đá của nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Tiêu biểu là những pho tượng sau:
- Tượng Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không: đúc bằng chất liệu đồng, có hình dáng và kích thước như người thật, được đặt ở cung Thánh tổ, phía sau Thượng điện. Tượng có kích thước cao 85cm, rộng vai 32cm, trong tư thế ngồi tọa thiền trên ngai, đầu đội mũ tỳ lô, mắt mở to nhìn thẳng, miệng ngậm, tai to, mình khoác áo choàng màu vàng. Tư liệu bia ký cho biết pho tượng này được đúc vào năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Chính Hoà 23 (1702).
- Tượng Phật Thích Ca đặt ở vị trí trên cùng tòa thượng điện được tạc bằng gỗ lim, kích thước cao 629cm, rộng vai 200cm được coi là một trong những pho tượng gỗ có kích thước lớn nhất cả nước. Tượng Phật Thích Ca được tạc trong tư thế ngồi khoanh chân xếp trên tòa sen, một tay đặt trong lòng, một tay đặt trước ngực. Pho tượng sơn son thiếp vàng rực rỡ, phía sau có vầng hào quang tỏa sáng linh thiêng. Pho tượng được Hòa thượng Phạm Quang Tuyên cho tạc vào thời Nguyễn.
* Chuông: Hiện tại chùa Cổ Lễ lưu giữ được 6 quả chuông đồng, trong đó quả chuông treo tại tòa “Kim chung bảo các” và “Đại Hồng Chung” nằm dưới hồ nước phía sau Hội quán Phật giáo là có giá trị tiêu biểu nhất:
- Chuông “Thần Quang tự chung” (Chuông chùa Thần Quang), có kích thước cao 105cm, đường kính miệng 49cm. Nội dung bằng chữ Hán ca ngợi cảnh đẹp của chùa và công lao Thánh tổ. Chuông được đúc năm Kỷ Mùi, niên hiệu Cảnh Thịnh 7 (1799).
- Chuông “Đại Hồng Chung” do Hòa thượng Thích Thế Long chủ trì việc đúc vào năm 1936. Quả chuông cao 420cm, đường kính 203cm, dày 8cm, nặng 9000kg. Chuông do phường thợ đồng danh tiếng Ngũ Xã (Hà Nội) đúc (nơi có đền thờ Thánh Minh Không). Quả chuông là hiện vật quý của chùa và là quả chuông lớn có kích thước rất lớn.
Ngoài ra, chùa Cổ Lễ còn lưu giữ một lá cờ hai mặt có dòng chữ “Nam Thiên Thánh tổ, Lý Triều quốc sư ”, túi đựng đồng-tương truyền là của Thiền sư Nguyễn Minh Không dùng “vượt Tống quyên đồng” về đúc An Nam tứ khí; bốn thuyền chải để thi bơi vào mỗi dịp lễ hội hàng năm từ 13 đến 16 tháng 9 âm lịch và nhiều đồ tế khi quý nhuốm màu linh thiêng, huyền bí như.
Những giá trị độc đáo, tiêu biểu:
1. Chùa Cổ Lễ là công trình Phật giáo nổi tiếng được khởi dựng từ thời Lý (thế kỷ XII) gắn liền với công lao của Đức Thánh Nguyễn Minh Không. Những thế kỷ tiếp theo, các nhà sư trụ trì cùng với nhân dân tôn tạo, nâng cấp với nhiều kiến trúc độc đáo, phản ánh đậm nét giữa kiến trúc cổ truyền dân tộc với kiến trúc Gô tích phương Tây, mang phong cách “cửa Thiền trên nền văn hóa dân tộc, phương Đông kết hợp phương Tây” hiếm có tại Việt Nam. Cùng với đó hệ thống văn bia, thư tịch cổ, các hiện vật, các đồ tế khí của chùa cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá về lịch sử vùng đất cũng như những nhân vật lịch sử đã đi vào truyền thuyết của dân tộc.
Chùa Cổ Lễ thờ tự theo nghi thức “tiền Phật hậu Thánh”. Cùng với việc thờ Phật, chùa thờ Thiền sư - Đức Thánh Nguyễn Minh Không, một vị cao tăng nổi tiếng, một Quốc sư tài cao đức trọng, là hiện thân quyền lực linh thiêng của Phật giáo hưng thịnh thời Lý. Ở Ninh Bình nói riêng, vùng châu thổ sông Hồng nói chung còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về cuộc đời, hành trạng của một Thiền sư, một nhân vật lịch sử-văn hóa có tầm vóc phi thường, xứng đáng để nhân dân tôn sùng, là biểu tượng của con người sáng tạo văn hóa.
Chùa Cổ Lễ, còn thờ cha con Tiến sỹ Đào Toàn Bân, Trạng nguyên Đào Sư Tích là những nhà khoa bảng, những vị quan thanh liêm, chính trực, những người hết lòng vì dân, vì nước. Cả hai cha con cùng Thuỷ tổ các dòng họ dựng làng, lập ấp, hình thành truyền thống hiếu học, đặt nền móng cho sự nghiệp học hành, khoa cử của vùng đất Cổ Lễ. Nhân dân dựng đền thờ phụng, đời đời hương khói, tôn các ông làm Thành hoàng của làng Cổ Lễ.
Chùa còn là nơi thờ tự các vị sư tổ, cao tăng có nhiều công lao đóng góp với dân với nước. Theo thống kê từ năm 1947 đến năm 1981 (riêng 1947 có 27 nhà sư tòng quân), chùa Cổ Lễ đã liên tục làm lễ cởi áo cà sa cho 35 vị tăng, ni tòng quân, tham gia kháng Pháp - Mỹ, trong đó có 12 nhà sư đã anh dũng hy sinh và phần mộ hiện nay được an táng tại chùa Cổ Lễ.
2. Chùa Cổ Lễ là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo kết hợp hài hòa lối kiến trúc truyền thống phương Đông với kiến trúc Gô - tích phương Tây. Điều làm nên nét độc đáo của kiến trúc chùa là chính điện có cấu trúc mái vòm theo kiến trúc Gôtích của một Thánh đường Thiên chúa. Nếu như các ngôi chùa cổ ở Việt Nam như chùa Keo (Thái Bình), chùa Bút Tháp, chùa Đình Bảng (Bắc Ninh)… thường có cấu trúc thấp và trải rộng bề ngang với những khung gỗ lim vững chắc thì chùa Cổ Lễ không những rộng mà còn rất cao với kiến trúc mái vòm kiên cố.
Chất liệu xây dựng cũng là yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chùa Cổ Lễ với các ngôi chùa khác. Các ngôi chùa cổ truyền thường sử dụng gỗ là vật liệu chủ đạo thì chùa Cổ Lễ vật liệu xây dựng chính là gạch, vôi, mật mía, giấy bản. Những vật liệu này tuy mộc mạc, thô sơ, sản xuất một cách thủ công nhưng có sự gắn kết vô cùng bền chặt. Bởi vậy mà từ khi xây dựng đến nay dưới sự phong hóa của thời gian, công trình vẫn bền vững uy nghiêm.
Một đặc điểm khác nữa đó là trong kiến trúc các ngôi chùa truyền thống theo kiểu “tiền Phật hậu Thánh” riêng biệt. Còn ở chùa Cổ Lễ, cũng là thờ Phật, thờ Thánh nhưng lại được bài trí trong cùng một không gian điện thờ - Phật điện, hai tầng (trên thờ Phật, dưới thờ Thánh) trong cùng một không gian kiến trúc. Có thể nói, bài trí thờ tự ở chùa Cổ Lễ là duy nhất tại Việt Nam.
Ngoài ra, làm nên nét độc đáo trong kiến trúc chùa đó chính là tháp Cửu phẩm liên hoa xây dựng thời Nguyễn. Nhìn từ xa tháp giống như tháp chuông nhà thờ bởi độ cao chót vót với lớp lớp ô cửa cuốn vòm. Điểm nhận diện chính của tháp những họa tiết rồng, lân, hoa sen và những dòng chữ Hán ghi tên hiệu Phật ở bốn mặt của tháp. Toàn bộ tháp đặt trên lưng rùa, biểu tượng cho sự vững trãi, trường tồn của Phật pháp. Có thể nói tháp Cửu phẩm liên hoa là một công trình kiến trúc tiêu biểu cho nền mỹ thuật Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX.
Chùa Cổ Lễ không chỉ có giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc, văn hóa, khoa học mà còn có giá trị về thẩm mỹ. Toàn bộ khu di tích toạ lạc trên một diện tích rộng tới 2ha, với địa hình bằng phẳng, xung quanh có nhiều sông nhỏ và hồ tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình. Công trình kiến trúc di tích có quy mô bề thế, được bố trí đăng đối, hài hoà tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh.
3. Tại di tích chùa Cổ Lễ còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa quý giá như: Lễ hội truyền thống, hệ thống bia đá. Có thể nói, hệ thống bia đá đang lưu giữ tại chùa cũng là một điểm khác biệt so. Thông thường, bia đá được dựng và bảo quản trong nhà bia, nhưng ở Chùa Cổ Lễ, có gần 300 tấm bia đá được ốp ở vị trí xung quanh tường tòa thượng điện, cung địa tạng, độ cao cách mặt nền tới trên 3m. Việc ốp bia đá xung quanh tường ở vị trí cao đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ, tạo cho công trình kiến trúc thêm phần bền vững, đồng thời cũng là một trong những điểm nhấn trong trang trí không gian nội tự. Đây là nguồn tư liệu quý vừa góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu quá trình hình thành mảnh đất, con người và những sự kiện lịch sử của địa phương, vừa góp phần làm tăng giá trị thẩm mỹ cho công trình kiến trúc.
Hiện nay, mặc dù chịu nhiều tác động từ thiên tai, chiến tranh nhưng kiến trúc Chùa Cổ Lễ vẫn vững chãi và được gìn giữ gần như nguyên trạng kể từ khi tôn tạo. Chùa là nơi thực hành nghi thức thờ Phật cũng còn là một di tích có giá trị về mặt thẩm mỹ, kiến trúc, một di sản văn hóa hài hòa giữa hai nền văn hóa, kiến trúc Đông–Tây vô cùng quý hiếm. Cùng với những di tích - danh thắng nổi tiếng của tỉnh Ninh Bình như: Đền Trần và chùa Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, Cố đô Hoa Lư, Khu tâm linh Bái Đính, Khu tâm linh Tam Chúc... chùa Cổ Lễ thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, khám phá, tìm hiểu vẻ đẹp, sự độc đáo trong kiến trúc của chùa.
Với những giá trị tiêu biểu đó, chùa Cổ Lễ đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 28/QĐ -VH, ngày 18/01/1988, thuộc loại hình di tích Lịch sử và Kiến trúc Nghệ thuật.
Tháng 9 năm 2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 1959/QĐ -TTg ngày 11/9/2025 về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đối với di tích chùa Cổ Lễ, xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình.
N.X.K
(Nguồn: TC VNNB số 316 - 02/2026)

Hội làng Ảnh: TRẦN DUY CÁT