Chủ nhật, 12/07/2026

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ CỦA NGƯỜI VIỆT: NHÌN LẠI HÀNH TRÌNH TRỞ THÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN LOẠI

Chủ nhật, 21/06/2026

NGUYỄN XUÂN CAO

 

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là loại hình tín ngưỡng dân gian và tập quán xã hội mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ bảo lưu nhiều giá trị văn hóa dân gian đặc sắc, thể hiện tinh thần khoan dung văn hóa, đề cao vai trò của người phụ nữ và khả năng cố kết cộng đồng. Với những giá trị đặc sắc, tiêu biểu, năm 2016, “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bài viết tập trung khái quát quá trình hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ; vai trò của Nam Định trong không gian văn hóa thờ Mẫu; đồng thời nhìn lại quá trình xây dựng hồ sơ và hành trình di sản được UNESCO vinh danh, qua đó góp phần nhận diện sâu sắc hơn giá trị của di sản trong đời sống văn hóa đương đại.

Khái quát về Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian phổ biến trong đời sống văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt ở các cộng đồng cư dân nông nghiệp. Ở Việt Nam, tín ngưỡng này hình thành từ rất sớm trên cơ sở thờ nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên và các yếu tố bảo trợ đời sống cộng đồng như thần Đất, thần Nước, thần Núi, thần Lúa… Trong tư duy dân gian của người Việt, các yếu tố tự nhiên đó được nhân hóa thành hình tượng người Mẹ với quyền năng sinh thành, che chở và bảo hộ cho con người.

Từ nền tảng tín ngưỡng thờ Nữ thần bản địa, người Việt từng bước hình thành hệ thống vũ trụ quan dân gian gồm ba miền: Thiên phủ (miền Trời), Địa phủ (miền Đất) và Thoải phủ (miền Nước), mỗi miền do một Thánh Mẫu cai quản. Về sau, hệ thống này tiếp tục phát triển thành Tứ phủ khi bổ sung Nhạc phủ (miền Rừng). Dưới quyền các Thánh Mẫu là hệ thống thần linh gồm Ngũ vị Tôn quan, tứ vị Chầu bà, Ông Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu… được sắp xếp theo trật tự mang tính biểu tượng âm - dương, hài hòa giữa các lực lượng tự nhiên và xã hội.

Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu tiếp thu nhiều yếu tố của Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa để hình thành một hệ thống thực hành tín ngưỡng mang tính tổng hợp. Đặc biệt từ khoảng thế kỷ XV - XVI, với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam - hệ thống thờ Mẫu của người Việt dần được quy tụ và phát triển thành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ với Thánh Mẫu Liễu Hạnh giữ vai trò thần chủ.

Không chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ còn là môi trường bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống như âm nhạc, diễn xướng dân gian, trang phục, mỹ thuật, tri thức dân gian, lễ hội và nghệ thuật trang trí tín ngưỡng. Trong đó, nghi lễ Chầu văn giữ vai trò trung tâm, kết hợp giữa âm nhạc, hát văn, múa thiêng và nghi lễ hầu đồng, tạo nên một không gian sinh hoạt văn hóa tâm linh đặc sắc của người Việt.

Nam Định trong không gian văn hóa thờ Mẫu của người Việt

Nam Định nằm ở trung tâm khu vực Nam đồng bằng sông Hồng - vùng đất lưu giữ đậm đặc các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt, đồng thời cũng là một trung tâm lớn của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Trong đời sống dân gian vẫn lưu truyền quan niệm: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, phản ánh vai trò đặc biệt của Đức Thánh Trần và Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tâm thức cộng đồng.

Theo Truyền kỳ tân phả của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm biên soạn vào thế kỷ XVIII, Nam Định là nơi Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh trong hai lần đầu tiên. Lần thứ nhất, Thánh Mẫu giáng sinh vào gia đình họ Phạm tại xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay thuộc xã Yên Đồng) với tên gọi Phạm Tiên Nga. Lần thứ hai giáng sinh tại Vân Cát, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Vụ Bản) với tên gọi Lê Thị Thắng.

Dưới các triều Lê và Nguyễn, Thánh Mẫu Liễu Hạnh nhiều lần được sắc phong là Thượng đẳng thần. Nhiều công trình tín ngưỡng quy mô lớn được xây dựng và trùng tu để phụng thờ Thánh Mẫu như phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và hệ thống di tích thuộc quần thể Phủ Dầy. Đặc biệt, trong các năm 1936 - 1938, đồng quan Trần Vũ Thực cùng Hội Kinh Xuân Phổ Hóa ở Huế đã đứng ra vận động xây dựng Lăng Mẫu, tạo nên một quần thể kiến trúc tín ngưỡng tiêu biểu còn tồn tại đến ngày nay.

Quá trình “Mẫu hóa” các di tích tín ngưỡng dân gian đã đưa Phủ Dầy trở thành trung tâm quan trọng của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Hằng năm, vào dịp tháng Ba âm lịch, lễ hội Phủ Dầy được tổ chức với nhiều nghi lễ và hoạt động văn hóa truyền thống như rước Mẫu thỉnh kinh, hát Chầu văn, hầu đồng, hội hoa trượng… thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự. Cũng từ đây, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ tới nhiều vùng miền khác như Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tạo nên một không gian thực hành tín ngưỡng rộng lớn và có sức sống bền bỉ trong đời sống đương đại.

Giá trị văn hóa và vai trò xã hội của di sản

Chủ thể thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là cộng đồng những người có chung niềm tin vào quyền năng và sự bảo trợ của Thánh Mẫu, bao gồm thủ nhang, thanh đồng, cung văn, hầu dâng, pháp sư và đông đảo con nhang đệ tử. Trong các thực hành tín ngưỡng, nghi lễ Chầu văn là thành tố đặc trưng tiêu biểu nhất. Đây là loại hình diễn xướng dân gian tích hợp nhiều yếu tố văn hóa truyền thống như âm nhạc, ca hát, múa, trang phục, mỹ thuật, nghề thủ công và tri thức dân gian. Không gian nghi lễ vừa mang tính thiêng, vừa mang giá trị nghệ thuật đặc sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đề cao vai trò và giá trị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Hình tượng người Mẹ trở thành biểu tượng của sự sinh sôi, che chở và lòng bao dung; từ đó gắn kết tình yêu quê hương, đất nước với ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên và trách nhiệm cộng đồng. Bên cạnh giá trị văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu còn có vai trò quan trọng trong việc cố kết cộng đồng, tạo dựng sự cân bằng tinh thần và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhân dân. Trải qua nhiều biến động lịch sử, các thực hành tín ngưỡng vẫn được cộng đồng bảo tồn, trao truyền và thích ứng với đời sống xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng từng trải qua những giai đoạn khó khăn. Trong thời kỳ chiến tranh và những năm đầu sau hòa bình lập lại, do điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức của xã hội đương thời, nhiều thực hành tín ngưỡng chưa được nhìn nhận đầy đủ, thậm chí bị coi là mê tín dị đoan.

Từ sau công cuộc đổi mới, đặc biệt sau khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2024) công tác bảo tồn và phát huy giá trị Tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng được quan tâm. Nhiều di tích liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu được trùng tu, tôn tạo; các lễ hội truyền thống được phục hồi; nhiều hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế được tổ chức nhằm nghiên cứu, nhận diện và khẳng định giá trị của di sản.

Quá trình xây dựng Hồ sơ đề cử UNESCO

Năm 1975, phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và Lăng Mẫu thuộc quần thể di tích Phủ Dầy được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Từ đầu những năm 1990, cùng với sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương, nhiều hoạt động phục hồi lễ hội và nghiên cứu khoa học về tín ngưỡng thờ Mẫu được triển khai mạnh mẽ.

Sau ba năm thí điểm phục hồi, năm 1996 Bộ Văn hóa - Thông tin và UBND tỉnh Nam Định chính thức cho phép tổ chức trở lại lễ hội Phủ Dầy. Từ đó đến nay, lễ hội Phủ Dầy trở thành một trong những lễ hội lớn của cả nước.

Trong các năm 2012 và 2013, UBND tỉnh Nam Định chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành kiểm kê, lập hồ sơ “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” và “Lễ hội Phủ Dầy” đề nghị đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là cơ sở khoa học và pháp lý quan trọng để xây dựng Hồ sơ “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” trình UNESCO xem xét ghi danh.

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định là hai cơ quan trực tiếp tham gia xây dựng Hồ sơ đề cử quốc gia. Từ tháng 11/2013 đến tháng 3/2014, Ban xây dựng Hồ sơ tiến hành kiểm kê di sản, ghi âm, ghi hình, nghiên cứu tư liệu, xây dựng phim tư liệu và hoàn thiện hồ sơ theo quy định của UNESCO.

Trong quá trình xây dựng Hồ sơ, Ban thực hiện nhận được sự tham gia tích cực của cộng đồng thực hành tín ngưỡng, đặc biệt là các thanh đồng, thủ nhang và nhân dân tại quần thể di tích Phủ Dầy và phủ Quảng Cung.

Ngày 15/3/2014, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia họp thẩm định và thông qua Hồ sơ, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ cho phép nộp Hồ sơ tới UNESCO.

Tuy nhiên, do số lượng hồ sơ lớn, hồ sơ của Việt Nam chưa được xem xét trong năm 2015 mà chuyển sang kỳ xét duyệt năm 2016. Theo khuyến nghị của Ban Thư ký Công ước 2003 của UNESCO, phía Việt Nam tiếp tục chỉnh sửa và hoàn thiện Hồ sơ, đồng thời thống nhất tên gọi chính thức là “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”.

Song song với quá trình hoàn thiện Hồ sơ, tỉnh Nam Định đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc tế, chương trình quảng bá di sản tới các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam nhằm giới thiệu giá trị của di sản và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Năm 2015, Bảo tàng tỉnh Nam Định tổ chức trưng bày chuyên đề “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt - Bản sắc và giá trị”, góp phần tuyên truyền, quảng bá di sản và nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

UNESCO ghi danh và những vấn đề đặt ra trong bảo tồn di sản

Tháng 11/2016, tại kỳ họp lần thứ 11 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tổ chức tại Addis Ababa (Ethiopia), “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Điểm đặc sắc của “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” không chỉ nằm ở yếu tố tín ngưỡng dân gian mà còn ở khả năng tích hợp nhiều loại hình văn hóa truyền thống như âm nhạc, diễn xướng, trang phục, mỹ thuật, lễ hội và tri thức dân gian trong cùng một không gian thực hành. Di sản đồng thời phản ánh tính linh hoạt, khả năng thích ứng và sức sống của văn hóa Việt Nam trong xã hội đương đại. Chính những giá trị đó đã tạo nên tính đại diện và sức lan tỏa quốc tế của di sản.

Hồ sơ của Việt Nam được UNESCO đánh giá cao bởi nhiều yếu tố như tính đại diện văn hóa, khả năng trao truyền qua nhiều thế hệ, vai trò cố kết cộng đồng, tinh thần khoan dung văn hóa, tính linh hoạt, khả năng thích ứng và sức sống của văn hóa Việt Nam trong xã hội đương đại. Chính những giá trị đó đã tạo nên tính đại diện, sức lan tỏa quốc tế của di sản; đồng thời phản ánh sự tôn trọng đa dạng văn hóa và phù hợp với các nguyên tắc về quyền con người trong Công ước 2003 của UNESCO.

Sau khi di sản được ghi danh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng UBND tỉnh Nam Định đã triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản như tổ chức lễ đón bằng UNESCO, xây dựng chương trình hành động quốc gia, đẩy mạnh tuyên truyền và hỗ trợ cộng đồng thực hành tín ngưỡng.

Tuy nhiên, cùng với quá trình lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ cũng đang đứng trước nhiều thách thức như xu hướng thương mại hóa, sân khấu hóa nghi lễ, thực hành lệch chuẩn hoặc lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản cần đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm. Cộng đồng không chỉ là chủ thể sáng tạo mà còn là lực lượng trực tiếp gìn giữ, trao truyền và bảo vệ bản sắc văn hóa của di sản trong đời sống đương đại.

Kết luận:“Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người  Việt” được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại không chỉ khẳng định giá trị đặc sắc của một loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa mà còn phản ánh sức sống bền bỉ của văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Từ một hình thức tín ngưỡng dân gian gắn với tâm thức thờ Mẹ của cư dân nông nghiệp, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã phát triển thành một hệ thống thực hành văn hóa tâm linh mang giá trị lịch sử, văn hóa và xã hội sâu sắc.

Việc được UNESCO ghi danh là niềm tự hào của cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, danh hiệu quốc tế không phải là điểm kết thúc mà là cơ sở để tiếp tục nâng cao trách nhiệm bảo vệ di sản. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, việc bảo tồn di sản cần gắn với bảo vệ tính nguyên gốc và không gian văn hóa truyền thống, tránh xu hướng thương mại hóa, sân khấu hóa hoặc thực hành lệch chuẩn làm suy giảm giá trị chân xác của di sản.

                                                                        N.X.C

(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)

Bài viết khác