Nhà báo THẾ VĨNH
Phó Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Ninh Bình
Trong kho tàng vô cùng phong phú, đa dạng và của “Văn học dân gian Liễu Đôi”có một mảng sáng độc đáo, đặc sắc mang tên “Truyện ngụ ngôn”. Với những ai đã từng quan tâm đến văn học dân gian, nếu một lần đọc “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi”(Tuyển tập “Khảo sát Văn hóa truyền thống Liễu Đôi - Bùi Cường, Nguyễn Tế Nhị) chắc hẳn sẽ không khỏi ngạc nhiên, trầm trồ trước vẻ đẹp hiếm có của miền sáng tạo độc đáo, quý giá này.
Điểm độc đáo trước hết của “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” là hầu hết đều được thể hiện bằng thể thơ lục bát. Phải chăng đây là phương cách tối ưu nhất mà những “tác giả nhân dân” vùng đồng trũng Liễu Đôi chọn để có thể dễ ghi nhớ, dễ truyền tụng, dễ lưu giữ lại cho con cháu những đúc kết, trải nghiệm, phép đối nhân xử thế và những bài học đạo đức mang đậm tính nhân văn được gửi gắm rất khéo, rất hoạt trong mỗi câu chuyện.
Một điểm độc đáo nữa trong “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” là yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội được phản ánh, gửi gắm rất khéo trong từng tác phẩm, cốt truyện, từng tuyến nhân vật. Đọc “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” ta bỗng liên tưởng đến cuộc đấu tranh âm thầm, gay gắt giữa những người nông dân bần cùng, khốn khổ với những thế lực áp bức của xã hội phong kiến cường trị. Chính bởi vậy, những “nhân vật chính” được lựa chọn để xây dựng nội dung cốt truyện rất đa dạng, phong phú mà mỗi loài (dường như ngầm đại diện cho mỗi giai tầng, ngành giới xã hội) lại có nhiều dạng vẻ với những đặc điểm rất cá biệt về ngoại hình, phong thái cũng như tính cách nội tâm. Và cái thế giới muôn loài ấy thông qua trí tưởng tượng vô cùng phong phú cùng bút pháp miêu tả tài tình của những “tác giả nhân dân” đã tạo nên một “bức tranh cuộc sống” tươi rói nhịp điệu của xã hội đương thời lúc đó, giúp mỗi độc giả cảm nhận dễ dàng hơn, thấm thía hơn một thông điệp, một bài học luân lý nào đó mà mỗi câu chuyện ngầm gửi gắm, chuyển tải. Ta có thể thấy rõ sự độc đáo này trong một số câu truyện có dung lượng dài, kết cấu đa tầng và giàu kịch tính, diễn biến linh hoạt, hấp dẫn, cuốn hút người đọc, người nghe như: “Kiến chạy lụt”; “Đĩ Cua hiếu nghĩa”; “Chèo Bẻo đánh Quạ”...
Đọc “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi”, giữa bức phác họa toàn cảnh về xã hội phong kiến, chúng ta thấy hiển hiện lấp lánh đâu đó những phẩm chất phi thường của người nông dân cùng cực, bị áp bức, bóc lột nhưng biết đứng lên chống lại cái xấu, cái ác để khẳng định, bảo vệ lẽ phải và sự công bằng. Hãy đọc và cảm nhận “khung cảnh xã hội đồng chiêm” trong truyện “Kiến chạy lụt”: “Họ hàng nhà kiến như ri/ Khuân gạo vỡ tổ thôi thì ngược xuôi/ Gạo, cám, mật, mỡ lôi thôi/ Ngổn ngang bừa bãi kêu trời chết cha/ Kiến già lụ khụ lôi tha/ Kiến trẻ gánh nặng đến đà oằn xương/ Kiến cánh lôi mật, lôi đường/ Kiến đỏ rụt cổ gánh giường, gánh niêu/ Kiến vàng hết vẻ mĩ miều/ Vơ đùm áo đụp che vải điều làm sang…”. Khốn khổ, cực nhọc là thế nhưng họ hàng nhà Kiến còn phải chịu cảnh tàn sát, cướp bóc dã man của Rết (nhân vật đại diện của cường quyền xã hội phong kiến lúc đó), khiến cho: “Khăn tang nhà kiến trắng đàng/ Mả mới lan tràn đường nọ, đống kia”. Và như một điều tất yếu phải xảy đến, họ hàng nhà kiến khi bị đẩy đến đường cùng không còn cách nào khác đã nhất tề đứng lên chiến đấu: “Trăm họ nhà kiến rùng rùng/ Bâu vào người Rết để cùng nghiến răng/ Rết co, Rết quẫy, Rết quăng/ Họ hàng nhà kiến hàm răng nghiến đều”. Nội dung này cũng được thể hiện khá rõ trong một truyện dài khác: “Chèo Bẻo đánh Quạ”. Vì căm uất Quạ - kẻ đã giết vợ con mình nên Chèo Bẻo cùng những họ hàng chung cảnh ngộ (Sáo Sậu, Chào Mào, Chim Ri, Dẻ Quạt, Chìa Vôi, Bạc Má ...) đứng lên chiến đấu chống kẻ thù chung: “Thù thằng Quạ độc chất cao/ Oan này chỉ quyết phải lao giáo này! Cả đàn, cả lũ, cả bầy/ Gặp thằng Quạ độc đánh ngay giữa vườn”. Chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp gặp mô típ trên trong một số truyện khác như: “Đĩ Cua hiếu nghĩa”; “Võ Tầm Sét”; “Nhện Tơ phất ngọn cờ đào”...
Tôn vinh, cổ súy cho lẽ phải, bênh vực lớp người yếu thế, “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” đã dày công xây dựng và xây dựng thành công hình ảnh người phụ nữ quê mùa chịu thương, chịu khó tưởng như chỉ biết cam chịu bỗng chốc trở nên những anh hùng dám đối mặt và chiến thắng cường quyền, áp bức. Đĩ Cua (trong truyện “Đĩ Cua hiếu nghĩa”) là một nhân vật điển hình như vậy. Chuyện rằng: trên đường tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ, gặp bao vất vả, gian nan, nguy hiểm nhưng nhờ bản lĩnh cứng cỏi, tấm lòng nhân nghĩa, Đĩ Cua đã vượt qua tất cả. Không ngờ, đem thuốc về đến nhà thì mẹ già đã chết bởi thuốc độc của Cua Đá. Trước hành động bất nhân của Cua Đá, chàng Cua Gạch nghĩa hiệp đã đứng lên cứu giúp Đĩ Cua và cùng Đĩ Cua thành vợ, thành chồng. Với bản chất xảo quyệt, ác hiểm vốn có, Cua Đá sau đó đã lập kế hãm hại Cua Gạch và Đĩ Cua. Trong lúc gian nguy, nhớ lọ thuốc thần chưa dùng đến, Đĩ Cua vội cứu được chồng, còn mình chấp nhận hi sinh. Với dung lượng hơn 500 câu thơ lục bát, cốt truyện trên được kết cấu cực kỳ linh hoạt, uyển chuyển với vô vàn những chi tiết thú vị và tươi rói chất liệu về cuộc sống xã hội đương thời, trao tặng cho người đọc, người nghe bao trải nghiệm thú vị.
Nét đẹp truyền thống trong cung cách ứng xử thường ngày của tầng lớp nông dân chịu thương, chịu khó trong “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” khiến ta không chỉ cảm kích, thấm thía về tính nhân văn mà còn cảm thấy thật thú vị, phấn khích bởi nghệ thuật nhân hóa tài tình của những “tác giả nhân dân”. Không thấm thía, phấn khích sao được khi chứng kiến khung cảnh cộng đồng làng xóm lúc có chuyện vui: vợ Chèo Bẻo ở cữ (Trong truyện “Chèo Bẻo đánh Quạ): “Vợ chồng nhà Ri đến chơi/ Có một thưng gạo vơi vơi đặt vào/ Bà nội của cái Chào Mào/ Lần túi lấy quế, lần bao lấy xèng”; hoặc lúc có chuyện bi thương, đau buồn trong truyện “Võ Tầm Sét”: “Săn Sắt phất lá cờ vàng/ Trăm loài cùng đến đám tang nhà Tầm/ Mẹ Tầm mái tóc hoa râm/ Khôn ngăn giọt lệ, khó cầm lòng đau/ Bà con chạy đến trước sau”… Đặc biệt, đời sống, sinh hoạt của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, phong tục, tập quán của người nông dân ở thôn quê... đều được phản ảnh khá chân thực và hết sức sinh động. Nếu đời sống của những kẻ thuộc tầng lớp trên với bao thói xấu xa, đê tiện thì đời sống của tầng lớp lao khổ lại luôn ấm áp tình làng nghĩa xóm nhất là thông qua những phong tục, tập quán, sinh hoạt thường nhật. Đọc “Đám cưới Chuột”, không ai lại có thể không cảm thấy phấn khích, thích thú trước một nhịp điệu cuộc sống vô cùng sinh động, hấp dẫn của thôn quê thời phong kiến. Đây là cảnh ở nhà “cô dâu Chuột”: “Chuột Nhắt thì cầm dao pha/ Chuột Chí nhấp nhỏm lăm la dao bầu”; “Chuột Già bê thúng cau ra/ Têm trầu tiện chũm bỏ ra cơi mời/ Chuột Con bê cỗ, gập người/ Chuột Lớn tất tả đồ xôi đơm chè/ Bà Chuột quần đũi áo the/ Ông Chuột ngất ngưởng dốc be rượu Tàu”…
Trong khi dành những lời thân thiện, tôn vinh những con người cùng khổ biết yêu thương, nhân nghĩa, “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” cũng không ngần ngại thể hiện quan điểm, chính kiến khi khắc họa chân dung của kẻ áp bức, bóc lột, chuyên ăn trên ngồi trốc bằng mánh khóe gian manh, lừa gạt như Quạ Khoang (Chèo Bẻo đánh Quạ), Rái Cá (Võ Tầm Sét), Rết (Kiến chạy lụt), Cua Đá (Đĩ Cua hiếu nghĩa)… “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” cũng chỉ trích, trào lộng không khoan nhượng những nhân vật đại diện cho một mẫu người hoặc ích kỉ, chỉ lo thu vén làm giàu, hoặc hèn nhát, khiếp nhược, không dám đấu tranh như: Bồ Cu; Chim Ngói; Vạc; Lềnh Đềnh (Chèo Bẻo đánh Quạ); Thầy đồ Ếch (Thầy đồ Ếch)... Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” cũng vô cùng độc đáo với sự phản ánh sắc sảo về cả ngoại hình, lời nói, cử chỉ, cả về diễn biến nội tâm. Hãy xem hình tượng của “Rốc Nghêu” (Nhân vật xấu trong “Đĩ Cua hiếu nghĩa”) mà “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi” khắc họa: “Thân hình cao lớn lêu đêu/ Ăn nói hỗm hãm bao nhiêu răng chìa/ Đen thời đen gớm đen ghê/ Phởn phơ bụng mỡ máy mê mắt nhìn”. Cách xây dựng hình tượng nhân vật này cũng thể hiện rất rõ trong các truyện: “Chèo Bẻo đánh Quạ”; “Nhện Tơ phất ngọn cờ đào”… Đây chính là điểm khác biệt, tạo nên sự độc đáo của “Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi”.
Nhận xét về truyện ngụ ngôn Liễu Đôi, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Bùi Cường khẳng định: Chưa ở đâu kho tàng truyện ngụ ngôn lại phong phú như ở Liễu Đôi. Ngụ ngôn Liễu Đôi hay, lạ và nội dung, tinh thần thì dường như đều tập trung về một hướng thống nhất: chiến đấu chống cường quyền áp bức và đánh đuổi giặc ngoại xâm. Đây có lẽ cũng là một minh chứng sống động về lòng yêu nước và tinh thần thượng võ của người dân Liễu Đôi./.
T.V
(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)