VŨ THANH LỊCH
Nghiên cứu lịch sử một vùng đất, một địa phương có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm rõ lịch sử của từng vùng miền đất nước, là cơ sở để chi tiết hóa bức tranh văn hóa Việt Nam với đặc trưng thống nhất trong đa dạng.
Vùng đất ngã ba sông Bôi là vùng đất quanh khu vực ngã ba sông Bôi - sông Hoàng Long thuộc các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình. Đây là vị trí cửa ngõ của “trũng Nho Quan”, một dạng địa hình đồng bằng được bao bọc bởi các dãy núi có độ cao khoảng 200m, nằm về phía tây nam tam giác châu thổ sông Hồng (Lê Bá Thảo 2006: 135 - 136). Với địa hình hang động đá vôi, gần núi, giáp biển, vị trí ngã ba sông mở ra đồng bằng Nho Quan rộng lớn nên từ thời tiền sử cư dân đã tụ cư khá đông đúc, những dấu tích còn lưu lại được phát hiện ngày một nhiều ở các hang động đá vôi Tràng An (Hoa Lư), Cúc Phương (Nho Quan)…
Trong các năm 2020 - 2021, các chương trình nghiên cứu lịch sử quanh vùng đất ngã ba sông Bôi được Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình phối hợp với các cơ quan nghiên cứu như Viện Khảo cổ học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Viện Sử học, Viện Hán Nôm… tiến hành nghiên cứu trên các lĩnh vực Khảo cổ - Lịch sử - Văn hóa - Dân tộc học - Hán Nôm, đã đóng góp thêm những nhận thức mới, quan trọng về vùng đất Ninh Bình giai đoạn 10 thế kỷ đầu Công nguyên và Kinh đô Hoa Lư ở thế kỷ X. Những tư liệu thu được, bao gồm các di tích mộ gạch phân bố quanh ngã ba sông Bôi - sông Hoàng Long từ đầu Công nguyên cho đến các dấu tích di tích, di vật thời Đại La ở Cố đô Hoa Lư, các tư liệu Hán Nôm, văn hóa dân gian, tư liệu truyền miệng... đều ghi nhận vùng đất Ninh Bình ở giai đoạn 10 thế kỷ đầu Công nguyên đã có những hoạt động sôi nổi và sớm trở thành một trong những trung tâm lịch sử - chính trị - văn hóa - xã hội có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành quốc gia, dân tộc. Nghiên cứu về vùng đất ngã ba sông Bôi trong không gian văn hóa Ninh Bình có thể nhận thấy một số điểm nhấn sau:

Cầu Đế bắc qua Sông Bôi Ảnh: TL
- Ngã ba sông Bôi là một vùng đất cổ là nơi có sự tụ cư của con người từ rất sớm, có quá trình cư trú lâu dài và liên tục.
Vùng đất ngã ba sông Bôi nằm trong nền cảnh chung của khu vực Ninh Bình, nơi có cảnh quan môi trường đa dạng với các vùng sơn khối đá vôi xen kẽ các thung lũng bằng phẳng nhưng lầy thấp bởi quá trình bồi tụ vẫn đang tiếp diễn, biển ăn sâu vào đất liền tạo nên các vũng vịnh ăn sát vào chân các dãy núi mà đến nay, trải qua hàng ngàn năm dâu bể chúng ta vẫn thấy dấu ấn của biển in khắc vào chân núi ở sâu trong đất liền. Vì cảnh quan môi trường đa dạng nên chỉ số đa dạng sinh học ở khu vực này cũng như ở Ninh Bình là rất cao, là nơi hội tụ của các môi trường núi đá, đồi gò, đồng bằng, cồn gò ven biển, vụng biển và hải đảo. Môi trường như vậy rất thuận lợi cho hoạt động sống của con người thời tiền sử khi mà phương thức sống của họ chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lợi tự nhiên.
Trong thời điểm từ 5.000 năm cách ngày nay trở về trước do môi trường đồng bằng lầy thụt và trong bối cảnh chung đời sống sơ khai của con người thời tiền sử trên đất Việt Nam nên cư dân cổ ở Ninh Bình đều cư trú trong các hang động, mái đá thuộc sơn khối đá vôi vùng Tam Điệp, Tràng An - Hoa Lư, Cúc Phương. Theo số liệu thống kê đến nay đã phát hiện khoảng 60 di tích cư trú của cư dân thời tiền sử ở các hang động, mái đá. Số lượng di tích có lẽ còn tăng nếu trong những năm tới tỉnh Ninh Bình triển khai điều tra khảo sát, quy hoạch các di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh bởi đến nay mới chỉ có thành phố Tam Điệp và huyện Hoa Lư là có sự điều tra tương đối kỹ; các huyện còn lại như Nho Quan, Gia Viễn có những vùng rừng núi có tiềm năng và hứa hẹn khả năng sẽ còn phát hiện các di tích khảo cổ nếu có thể triển khai các đợt điều tra nghiên cứu ở khu vực này. Chỉ tính ở quanh khu vực công tác, cũng có thể thấy một số cộng đồng người tiền sử cư trú ở các hang động thuộc vùng núi xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn) và xã Trường Yên (huyện Hoa Lư)... Có thể thấy rằng ở thời tiền sử, khu vực cư trú của cư dân ở vùng đất Ninh Bình vẫn dựa vào điều kiện môi trường tự nhiên với nơi trú ẩn là hang động đá vôi và sản vật từ rừng núi, còn ở những vùng đất thấp trũng ven sông không thuận lợi cho việc cư trú như ở vùng ngã ba sông Bôi thì vẫn chưa có dấu ấn con người tụ cư.
Đến thời điểm từ sau 5.000 năm cách ngày nay đến trước thời Bắc thuộc, do sự thay đổi và bồi tụ của địa hình cùng sự xuống thấp của mực nước biển, các nhóm cư dân bắt đầu dời các hang động, mái đá để tiến đến khai thác, chiếm lĩnh vũng đồng bằng phì nhiêu vừa mới hình thành. Ở Ninh Bình, mặc dù phát hiện không nhiều (chỉ khoảng gần 10 di tích) nhưng các di tích đã biết cũng góp phần làm rõ quá trình vươn ra chiếm lĩnh các khu vực cư trú mới: các di tích Mán Bạc, Đồng Vườn (Yên Mô) là sự chiếm lĩnh
các vùng vịnh biển mới ở trước mặt cùng với vùng đồng bằng lầy lội vừa mới hình thành ở phía sau; di tích Núi Sệu (thành phố Ninh Bình), Núi Nại (Hoa Lư) là các khu cư trú ngoài trời trên một vùng đồng bằng mới thành hình. Cùng với đó là các dấu ấn của các di tích cư trú thuộc văn hóa Đông Sơn đã thấy xuất hiện ở nhiều nơi trên đất Ninh Bình. Quanh khu vực công tác, đã phát hiện nhiều chiếc trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn như ở thôn Mống (xã Yên Quang), Thạch La (xã Thạch Bình), Công Luận (xã Gia Tường), Đồi Đống (xã Sơn Lai) cùng một địa điểm di tích văn hóa Đông Sơn ở Núi Sưa cho biết đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên đến đầu Công nguyên quanh khu vực thung lũng Nho Quan - Gia Viễn - Hoa Lư đã là một trong những địa bàn cư trú của cư dân văn hóa Đông Sơn.
Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, các nhóm cư dân Việt cổ vẫn tụ cư ở khu vực thung lũng Hoa Lư - Nho Quan - Gia Viễn. Bằng cớ của việc cư trú là ở nơi đấy vẫn phát hiện những chiếc trống Mường hay trống đồng loại 2 theo phân loại của F.Heger ở thôn Thạch La, xã Thạch Bình và xã Văn Phong (Nho Quan). Di tích Cố đô Hoa Lư với tầng văn hóa Bắc thuộc và những khu mộ gạch có niên đại thời Bắc thuộc ở các xã Gia Thủy, Gia Lâm, Gia Tường (Nho Quan), Liên Sơn (Gia Viễn) và Gia Sinh (Hoa Lư) là những bằng cớ gián tiếp cho biết khu vực công tác trong khoảng 10 thế kỷ đầu Công nguyên là một vùng dân cư trù phú, đông đúc, vì vậy chính quyền đô hộ qua các giai đoạn khác nhau đã cử quan lại đến trông giữ, trấn trị ở vùng đất này.
- Ngã ba sông Bôi là điểm kết nối, là mắt xích lịch sử còn thiếu để hoàn thiện bức tranh lịch sử văn hóa Ninh Bình.
Ninh Bình từ thời kỳ Nhà nước Đại Cồ Việt được ghi chép trong nhiều bộ sử phong kiến và các di tích lịch sử văn hóa trải qua nhiều thời đại lịch sử ít nhiều còn tồn tại đến nay đã giúp người dân Việt Nam hiểu biết và tự hào về một trường đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ở thế kỷ X lịch sử. Ninh Bình gắn với vua Đinh Tiên Hoàng - người đầu tiên có công thống nhất đất nước và lập nên nhà nước Đại Cồ Việt, nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ninh Bình gắn với vua Lê Đại Hành - người đã anh dũng chống Tống, bình Chiêm đem đến sự tự cường và thịnh vượng cho đất nước; Ninh Bình gắn với vua Lý Công Uẩn - người khai mở nền văn minh Đại Việt với sự kiện dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long tạo nên một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Quay ngược thời gian, từ thời tiền sử cho đến đầu Công nguyên, trải qua hàng chục vạn năm lịch sử, trên đất Ninh Bình đã phát hiện rất nhiều di tích khảo cổ thuộc nhiều thời đại khác nhau, từ di tích cổ sinh có niên đại cách nay hàng chục vạn năm, cho đến những di tích thời đại đồ đá mới sơ kỳ, thời đại đồ đồng thau và thời đại sắt sớm. Những di tích đó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt lịch sử Ninh Bình, làm hiện rõ dòng chảy từ văn hóa Hòa Bình thuộc sơ kỳ thời đại đá mới đến văn hóa Đa Bút thuộc hậu kỳ thời đại đá mới và văn hóa Đông Sơn thuộc sơ kỳ lịch sử.
Giữa hai giai đoạn lịch sử và tiền sơ sử ở Ninh Bình là một giai đoạn lịch sử 10 thế kỷ đầu Công nguyên chỉ có thể được kết nối hoàn thiện bởi những di tích, di vật hiện diện ở khu vực ngã ba sông Bôi.
Đợt khai quật khảo cổ trong năm 2021 do Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình và Viện Khảo cổ học thực hiện, đã phát hiện và minh định rằng ở khu di tích Cố đô Hoa Lư ngoài lớp văn hóa Đinh - Tiền Lê còn có một lớp văn hóa dày gồm các lớp kiến trúc thời Bắc thuộc. Đến nay đã xác định có kiến trúc thuộc về giai đoạn Đại La (thế kỷ VII - IX) là trị sở của Trường Châu, cũng có những phế tích kiến trúc khả năng là phần còn lại của trị sở huyện Vô Công/ Vô Thiết của chính quyền phương Bắc từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Ngoài ra, ở khu vực Nho Quan - Gia Viễn - Hoa Lư đã phát hiện và khai quật nghiên cứu nhiều khu mộ gạch ở Trường Tiểu học xã Gia Thủy, Đồi Cò xã Gia Tường, Đền Hạ xã Gia Lâm (Nho Quan) và Đồi Chùa xã Liên Sơn (Gia Viễn). Các địa điểm có chứa dấu tích di tích mộ gạch hoặc/và các mảnh di vật sành sứ thời Bắc thuộc cũng được ghi nhận khá nhiều. Kết thúc đợt công tác, có thể thấy trong lòng đất khu vực quanh ngã ba sông Bôi, Ninh Bình còn lưu giữ nhiều dấu tích di tích khảo cổ giai đoạn 10 thế kỷ đầu Công nguyên mà hết quả nghiên cứu đạt được trong thời gian qua mới chỉ làm lộ một phần rất nhỏ.
- Nghiên cứu chuyên sâu ở khu vực công tác đưa đến hiểu biết rõ ràng hơn về quy hoạch của kinh đô Hoa Lư - kinh đô của nhà nước quân chủ tập quyền đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Sử cũ ghi lại, năm 968, sau khi dẹp “loạn 12 sứ quân”, “Mậu Thìn… (968)…, Vua (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư, xây dựng đô mới, đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi” (Đại Việt sử ký toàn thư 1993, tập 1: 211).
Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, sau khi tiến hành hai cuộc chiến chống Tống, bình Chiêm vào các năm 981 và 982, ông đã tiến hành xây dựng kinh đô Hoa Lư nguy nga tráng lệ. “Giáp Thân… (984)… dựng nhiều cung điện: làm điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên trái là điện Bồng Lai, bên phải là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ; bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc” (Đại Việt sử ký toàn thư 1993, tập 1: 222). Sau đó, sử còn chép “Nhâm Thìn… (992)… Mùa xuân, tháng
Giêng, vua ngự điện Càn Nguyên xem đèn” (Đại Việt sử ký toàn thư 1993, tập 1: 224).
Sách sử Đại Nam nhất thống chí, quyển XIV, tỉnh Ninh Bình, mục Cổ tích giai đoạn nhà Nguyễn cũng chép “Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy” (Nguyễn Xuân Khang 2018: 794-805).
Kết quả nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, văn hóa dân gian, hán nôm... trong những năm qua bước đầu cho thấy đền đài, cung điện ở Hoa Lư đều được xây dựng cơ bản ở khu Thành Ngoại. Khu Thành Nội chỉ là nơi đóng quân, cất giấu kho tàng... Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng trung tâm kinh đô Hoa Lư là khu vực hai đền Đinh - Lê hiện nay (Đặng Công Nga 2002: 268).
Theo kết quả nghiên cứu khảo cổ học năm 2021, khu vực Thành Ngoại có thể chia thành hai phân khu Cấm thành và Hoàng thành. Cấm thành là nửa phía nam khu Thành Ngoại phân bố từ cửa Bắc khu Di tích Cố đô Hoa Lư qua hai đền Đinh - Lê, kéo dài đến hết cánh đồng Nội Trong, là nơi ở của vua, hoàng gia. Hoàng thành là nửa phía Bắc Thành Ngoại phạm vi phân bố từ phía ngoài Cửa Bắc di tích đến núi Cột Cờ là nơi ở của giới tăng lữ, quan lại, quý tộc và có thể là cả quân đội. Kết quả nghiên cứu năm 2021 cũng bổ sung nhận thức mới rằng khu cung điện hoàng gia ở Cấm thành không phải chỉ phân bố ở quanh khu vực hai đền thờ vua Đinh, vua Lê mà có diện phân bố rộng gấp nhiều lần. Các công trình kiến trúc ở khu vực này được xây dựng qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ các công trình kiến trúc có chức năng là trị sở hành chính thời chính quyền đô hộ của đất Trường Châu, đến các đền đài, cung điện được xây dựng ở thời vua Đinh, thời vua Lê. Các công trình kiến trúc có sự kế thừa sử dụng nhưng cũng có sự phá dỡ xây mới, thể hiện ở các cấp nền kiến trúc nằm chồng lớp lên nhau như đã thấy ở các di tích xuất lộ trong các hố khai quật khảo cổ năm 2021.
Theo các dòng ghi chép của Tống Cảo đi sứ Hoa Lư năm 990, thì đoàn sứ thần đi theo đường biển đến Trường Châu, đi thuyền (theo sông Hoàng Long ?) đến gần thành Hoa Lư, được Lê Hoàn đi ngựa đến đón “... Hoàn gò ngựa nghiêng mình, hỏi thăm Hoàng đế xong, thì lỏng cương cùng sánh hàng mà đi... Trong thành không có cư dân, chỉ có mấy chục đến trăm khu nhà tre lợp cỏ, để làm quân doanh. Còn phủ thự thì nhỏ hẹp, đề trên cửa là Minh Đức môn” (Châu Hải Đường 2018: 27). Bỏ qua giọng điệu hách dịch tự coi mình là bề trên của sứ thần Thiên triều, chúng ta có thể thấy con đường đi khi đón tiếp đoàn khách ngoại giao theo đúng nghi thức của vương triều có thể đã đi theo con đường bộ từ núi Cột Cờ qua Hoàng thành về phía Nam, vào cửa Minh Đức để đến điện Bách Bảo Thiên Tuế - nơi vua
coi chầu. Ngoài ra, theo ghi chép trong An Nam chí lược của Lê Tắc, trong lời tâu của Tống Cảo còn cho biết ở kinh đô Hoa Lư còn có một cái tháp bằng gỗ vua Lê đã mời Tống Cảo lên vãn cảnh (Lê Tắc 2002). Tháp có nguồn gốc từ Ấn Độ, tiếng Phạn là stupa, là nơi chứa xá lị (tro than, xương cốt) của Phật, do vậy, có lẽ nó nằm ở khu vực chùa Nhất Trụ hiện nay - là nơi có vị trí rất gần với cung điện hoàng gia và là nơi ở của các tăng lữ có tiếng nói rất quan trọng trong triều đình nhà Đinh - Tiền Lê.
Tóm lại, các đợt nghiên cứu khảo cổ từ năm 1969 đến nay ở Hoa Lư, đặc biệt là các đợt khai quật năm 1998 của Viện Khảo cổ học, năm 2010 của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và đợt khai quật năm 2021 vừa qua do Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình chủ trì đã dần vén mở diện mạo của kinh thành Hoa Lư xưa với những lớp tường thành thiên tạo và nhân tạo kiên cố, nhiều kiến trúc quy mô to lớn được trang trí cầu kỳ. Các đợt khai quật năm 1998 và 2010 xác định khu vực Đền Đinh, Đền Lê nằm trên nền cũ cung điện thời Đinh - Tiền Lê đúng như sử sách ghi lại. Đến cuộc khai quật năm 2021 vừa qua, đã phát hiện các dấu tích kiến trúc nền móng cung điện xuất lộ trên một không gian rộng lớn tính từ khu vực ngòi Chẹm (cổng Bắc di tích) qua khu Đền Đinh, Đền Lê đến cánh đồng Nội Trong với tổng chiều dài gần 700m. Kết quả điền dã cũng ghi nhận các công trình kiến trúc cung điện hầu như đều được phân bố ở các khu vực giữa của Thành Ngoại - là khu vực đất cao ngày nay là nơi tọa lạc Đền Đinh, Đền Lê và các khu nghĩa địa của người dân xã Trường Yên. Qua đợt khai quật nghiên cứu này có thể ghi nhận không gian phân bố di tích thực tế rộng gấp ba lần so với khu vực khoanh vùng bảo vệ Khu di tích Cố đô Hoa Lư hiện nay. Đồng thời, cũng ghi nhận ba lớp kiến trúc được xây dựng khá gần nhau ở hai triều đại nhà Đinh và nhà Tiền Lê ở thế kỷ X trong các hố khai quật năm 2021. Đây là sự minh chứng rõ hơn các dòng tư liệu cổ sử ghi chép về việc xây dựng hoàng cung ở thời Đinh và thời Tiền Lê qua các sử liệu vật thật của khảo cổ học. Mặc dù diện tích khai quật còn nhỏ hẹp nhưng kết quả nghiên cứu ở Cố đô Hoa Lư vừa qua bước đầu ghi nhận khu vực nội đô của Kinh đô Hoa Lư ở thế kỷ X có quy mô và không gian phân bố các công trình kiến trúc rộng hơn nhiều so với những hình dung của chúng ta từ trước đến nay.
- Nghiên cứu về khu vực ngã ba sông Bôi đã thu được nhiều tư liệu góp phần khẳng định Ninh Bình là một vùng đất cổ với những giá trị lịch sử văn hóa quý báu đã và đang được làm rõ, song cũng còn khá nhiều điều bí ẩn nằm trong lớp mây mù lịch sử chưa được nghiên cứu, tìm hiểu. Nói cách khác, Ninh Bình là một vùng đất còn nhiều tiềm năng nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, dân tộc, Hán nôm... là nơi lưu giữ nhiều trầm tích lịch sử - văn hóa giá trị cần được tiếp tục nghiên cứu, khẳng định, làm cơ sở để đầu tư bảo tồn, phát huy giá trị, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội ở địa phương./.
V.T.L
(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)
Tài liệu dẫn:1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993; 2. Châu Hải Đường (dịch và biên soạn) 2018, An Nam truyện ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc xưa, Tống sử, quyển 448 - Ngoại quốc 4, Giao Chỉ, Nxb. Hội nhà văn: 27.;3. Nguyễn Xuân Khang 2018, Tìm hiểu kinh đô Hoa Lư qua các di vật lịch sử, Vai trò của Nhà nước Đại Cồ Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb KHXH, Hà Nội: 794-805.;4. Đặng Công Nga 2002, Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê, Sở Văn hóa Thông tin Ninh Bình xuất bản: 268;5. Lê Tắc 2002, An Nam chí lược, Nxb Thuận Hóa.;6. Lê Bá Thảo 2006, Thiên Nhiên Việt Nam, Nxb KHKT, Hà Nội.