TRẦN NHUNG
Sáng 3/5 (17/3 âm lịch), khi mặt trời còn chưa vượt qua những dãy núi đá vôi trùng điệp. Dưới dòng Sào Khê, những chiếc thuyền lặng lẽ nối nhau, ngăn nắp, trật tự chờ đợi đến lượt đón khách. Tôi cùng gia đình xuống thuyền từ sớm. Ngồi trên con thuyền nhỏ rời bến, tôi chợt nhận ra dòng Sào Khê vẫn giữ nguyên vẻ bình thản vốn có. Trên bờ đường cây bồ đề và xung quanh bến thuyền Tràng An đã đông nghẹt, dễ có đến hàng nghìn người. Đó là những người dân và du khách thập phương nô nức rủ nhau về khu du lịch sinh thái Tràng An để tham dự lễ hội. Trong dòng người ấy có cụ già tóc bạc và có cả những em nhỏ được bố mẹ ẵm trong lòng, có những du khách lần đầu đến với vùng đất di sản nhưng cũng có nhiều gương mặt thân quen đến hẹn mà về dự lễ hội với một niềm nhớ nhung, vui thú. Tiếng trống hội vọng lan trên mặt nước, hòa âm cùng tiếng kèn đồng trang nghiêm và thành kính, rồi tiếng cồng, tiếng chiêng trầm hùng tan vào những vách núi xanh thẫm đang còn đẫm hơi sương.
Người chèo đò khẽ đưa mái chèo xuống nước. Con thuyền chậm rãi chui qua đôi cây cầu đá vôi xanh được nghệ nhân làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân chạm khắc tinh xảo. Có lẽ từ trên núi cao nhìn xuống, khu vực bến thuyền Tràng An giống một chiếc lá bồ đề xanh thẫm nổi lên trên mặt nước mịn màng trong xanh màu ngọc bích, mà ở đó cuống lá được cách điệu bằng đôi cây cầu đá nối quá khứ với hiện tại, nối thiên nhiên hoang sơ với đời sống phàm trần vồn vã. Trên mặt sông, gió khẽ lay những lá cờ hội phản chiếu thành những vệt màu rung rinh theo sóng. Ở chiếc thuyền bên cạnh, tôi nghe một du khách nước ngoài nói nhỏ với bạn đồng hành bằng tiếng Nhật rằng, họ quá bất ngờ vì đây là lần đầu tiên họ tham dự một lễ hội mà phần lớn hành trình lại diễn ra trên sông. Đúng vậy, khác với nhiều lễ hội truyền thống diễn ra trên sân đình hay quảng trường, chỉ ở nơi này, hành trình của Lễ hội Tràng An bắt đầu trên sông và diễn ra trọn vẹn ngay giữa thung lũng, hang động, núi rừng hoang sơ. Chính điều ấy làm nên nét riêng có của Tràng An.
Khi nghe tôi hỏi về nguồn gốc của lễ hội Tràng An, bác lái đò thong thả khua mái chèo, tự hào kể: Nói về Lễ hội Tràng An quê bác thì kể cả ngày không hết cái hay đâu. Ở vùng đất di sản Tràng An này, từ đời cha ông xa xưa đã có tục thờ các vị thần núi linh thiêng và sùng bái thiên nhiên bao bọc lấy mình. Lễ hội này bản chất là để dân làng tỏ lòng thành kính với các vị thần trong Hoa Lư tứ trấn đấy. Cứ đều đặn mỗi năm, lễ hội lại mở ra trong vòng 3 ngày, mà chính hội là nhằm ngày 18 tháng 3 âm lịch. Nhà mình đi đúng dịp này thì đông vui, tấp nập lắm! Hội mở ra trước là để kính cáo, tri ân các vị đại thần trấn trạch giữ bình yên cho kinh đô Hoa Lư của vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành khi xưa, ấy là thần Quý Minh, thần Cao Sơn, thần Khổng Lồ. Đây cũng là dịp dân mình nhớ ơn các vị tướng lĩnh triều Đinh từng đóng quân ở đây, và các vị vua đầu nhà Trần đã có công lập ra Hành cung Vũ Lâm ngay trong lòng di sản này. Nhưng mà, cái nét độc lạ nhất, làm nên "thương hiệu" của hội Tràng An mà không nơi nào có được, chính là rước hội rồng lấy nước thiêng trên sông. Nhìn cả đoàn thuyền rồng, thuyền hội nối đuôi nhau rực rỡ cả một khúc sông, thong dong trôi qua các di tích lịch sử, rồi len lỏi qua từng hang động kỳ ảo, dưới những vách núi đá vôi sừng sững... Thú thực với nhà mình, bác chèo thuyền ở đây bao năm, ngày nào cũng ngắm mà cứ đến ngày hội là tim lại đập rộn ràng, tự hào khôn xiết! Thuyền chuẩn bị vào hang tối rồi, nhà mình cúi thấp đầu một chút nhé. Cứ thong thả ngắm cảnh, cần chụp ảnh góc nào đẹp hay đợi cùng đi với đoàn thuyền rước rồng hội cứ bảo bác hãm thuyền lại cho.
Bâng khuâng theo lời bác lái đò kể, tôi được biết, năm nay, Ban Quản lý Danh thắng Tràng An và Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường tổ chức lễ hội sớm hơn thường lệ một ngày, lễ hội mang chủ đề “Tràng An - Mạch nguồn linh khí”. Nhưng với niềm tin của nhiều người dân Ninh Bình, Tràng An từ lâu đã là một mạch nguồn của lịch sử và sự gắn bó khăng khít giữa con người với thiên nhiên. Gia đình tôi, nhất là hai đứa trẻ sao có thể bỏ lỡ cơ hội này, bác lái đò dừng thuyền để chúng tôi nghe hát chèo, hát quan họ giao duyên và chờ xem bằng được cặp đôi rồng nước bơi trên sông. Gia đình tôi mê mải ngắm nhìn những đoàn thuyền rước nối dài theo dòng Sào Khê, ven những dãy núi đá vôi soi bóng xuống mặt nước. Tiếng trống, tiếng đàn hát, tiếng hò reo của đoàn rước hòa vào không gian thiên nhiên non nước hữu tình. Điều này gợi cho tôi có cảm giác như toàn bộ vùng di sản đang cùng thức dậy trong ngày hội lớn.
Giữa nhiều nghi lễ truyền thống của Lễ hội Tràng An, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất lại là nghi thức Phát Lác - lễ mở cửa rừng. Và có lẽ, điểm nhấn đặc biệt của lễ hội năm nay vẫn là nghi lễ Phát Lác diễn ra vào ngày 17 tháng 3 âm lịch. Nghe qua tưởng chỉ là một tập quán dân gian. Nhưng càng tìm hiểu càng thấy trong đó ẩn chứa một cách ứng xử rất văn minh với tự nhiên. Đó là một triết lý sinh thái của người xưa. Người xưa không dùng những khái niệm như "phát triển bền vững" hay "bảo tồn đa dạng sinh học". Họ chỉ giản dị đặt ra một quy ước cộng đồng: Cả cuộc đời sống nhờ vào núi rừng, sông suối. Quanh năm gắn bó với thiên nhiên thì cũng có những khoảng thời gian con người phải biết dừng lại để rừng nghỉ ngơi. Không khai thác, không tận thu, không lấy đi tất cả những gì thiên nhiên đang có. Chỉ một ngày trong năm, khi mùa vụ đã thích hợp, khi cây cỏ đã hồi sinh sau mùa đông, cánh rừng mới được mở cửa. Trong suy nghĩ của cư dân Tràng An xưa, rừng là nơi cung cấp nguồn sống và là một thực thể cần được tôn trọng. Bởi thế, nghi lễ Phát Lác vừa là mở cửa rừng lại vừa là lời nhắc nhở về giới hạn của con người trước thiên nhiên. Ngồi giữa không gian thiên nhiên Tràng An hôm nay, khi câu chuyện biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên đang trở thành mối quan tâm toàn cầu, tôi chợt thấy bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Lễ hội tín ngưỡng dân gian ở Tràng An là một lễ hội sinh thái hiếm có. Một lời nhắc nhở về trách nhiệm của con người đối với tự nhiên.

Vào Tràng An Ảnh: Phạm Thị Lệ Thanh
Ít nơi nào như Tràng An, chỉ trong một hành trình ngắn trên sông mà người ta có thể hình dung được chiều dài lịch sử của một vùng đất. Hệ thống hang động ven dòng Sào Khê từng là nơi cư trú của cư dân tiền sử cách đây hàng vạn năm. Trong các thung lũng đá vôi từng che chở con người qua nhiều biến động của tự nhiên. Đến thế kỷ X, vùng núi non hiểm trở này trở thành một phần quan trọng của kinh đô Hoa Lư, góp phần bảo vệ nền độc lập của nước Đại Cồ Việt. Rồi qua các triều đại, Tràng An tiếp tục lưu giữ những dấu tích của lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân tộc. Năm 2014, khi UNESCO ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, thế giới biết đến Tràng An nhiều hơn. Với người Ninh Bình, giá trị của vùng đất này không bắt đầu từ ngày được vinh danh. Nó được hình thành từ rất lâu trước đó, từ những lớp trầm tích văn hóa, ký ức cộng đồng và qua cách con người nơi đây gìn giữ núi rừng, sông nước qua nhiều thế hệ. Có lẽ vì thế mà giữa không khí tưng bừng của ngày hội năm nay, Tràng An vẫn mang đến cảm giác trầm tĩnh đặc biệt. Một vùng di sản đang sống cùng hiện tại nhưng chưa bao giờ tách rời cội nguồn của mình
Theo hành trình lễ hội, đoàn rước vượt hơn 5km đường thủy, đi qua những hang động hàng triệu năm tuổi để đến đền Suối Tiên - nơi thờ Đức Thánh Quý Minh Đại Vương.Trong tín ngưỡng dân gian vùng Hoa Lư, Quý Minh là vị thần trấn giữ phía Nam của Hoa Lư tứ trấn, có công bảo vệ bờ cõi từ thời Hùng Vương. Người dân thành kính dâng nén hương thơm lên lên Đức Thánh, lòng thành gửi gắm khấn nguyện cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Nhưng sâu xa hơnlà sự tri ân của con cháu hậu sinh đối với các bậc tiền nhân tiên tổ đã khai phá, gìn giữ vùng đất này qua bao thế hệ.
Điều làm nên sức hấp dẫn riêng của hội Tràng An không chỉ nằm ở phần lễ. Dọc hành trình trên sông Sào Khê, du khách còn bắt gặp những không gian văn hóa sống động. Ở một bến nước, tiếng chèo ngân nga giữa núi rừng. Ở một khoảng sông khác, những làn điệu xẩm, hát văn vang lên trong gió. Xa hơn là tiếng cồng chiêng vọng từ sân khấu thực cảnh ven núi. Những loại hình nghệ thuật truyền thống tưởng như thuộc về quá khứ lại hiện diện đầy sức sống giữa không gian di sản. Người xem không chỉ thưởng thức bằng mắt, bằng tai. Họ được sống trong không gian văn hóa ấy. Có lẽ đó cũng là lý do khiến Tràng An ngày càng trở thành điểm đến đặc biệt đối với du khách trong nước và quốc tế. Nơi đây không chỉ có cảnh đẹp. Nơi đây còn có câu chuyện lịch sử, có những giá trị văn hóa tinh thần được gìn giữ qua nhiều thế kỷ.
Mười hai năm kể từ khi Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, vùng đất này đã trở thành biểu tượng của sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Điều đáng quý hơn cả là những giá trị cốt lõi của di sản vẫn được gìn giữ trong đời sống cộng đồng. Lễ hội Tràng An chính là một minh chứng sống cho việc di sản không nằm yên trong bảo tàng hoặc trong hồ sơ. Di sản đang được sống, con người đang thực hành nó và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Quá ngọ sang giờ mùi, khi buổi lễ dần khép lại, bóng nắng đã ngả về đông, những đoàn thuyền tiếp tục xuôi theo dòng Sào Khê, vòng qua thủy đình, qua nơi đã từng làm phim trường Kingkong năm nào. Những dãy núi đá vôi hiện rõ hơn dưới bầu trời xanh dần chuyển sang huyền ảo. Mặt nước vẫn lấp lánh như mang theo những câu chuyện của hàng nghìn năm lịch sử. nơi bìa rừng, từng tốp kỵ binh tái hiện cảnh thắng trận của nghĩa quân thời Đinh, tiếng sáo thanh bình véo von cất lên từ dưới tre ngà, ở đó, có cậu bé để tóc ba chỏm đang chăn đàn trâu. Xa thêm một khúc sông lau lách du khách lại được xem trình diễn bản nhac Tây Nguyên, điệu múa điêu luyện, mềm mại của các cô gái, chàng trai dân tộc chăm Khơ me. Cứ thế thuyền chúng tôi cứ xuôi theo dòng sông Sào Khê, xuôi theo từng vùng miền di sản của dân tộc Việt, rồi về câp bến Tràng An từ lúc nào không hay.
Tràng An hôm nay vượt lên từ một danh thắng để trở thành di sản thế giới và trở về nơi con người tìm thấy sự kết nối với thiên nhiên, cội nguồn và với những giá trị bền vững đã làm nên bản sắc của vùng đất Cố đô. Và có lẽ, đó chính là ý nghĩa sâu xa nhất của chủ đề “Mạch nguồn linh khí”. Bởi mạch nguồn ấy không chỉ chảy trong núi rừng Tràng An. Nó còn chảy trong ký ức, trong văn hóa và trong niềm tin của những người đang sống trên vùng đất này.
T.N
(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)