Nhà văn Lê Thanh Kỳ (sinh năm 1957, Hà Nam) là một trường hợp đặc biệt trong văn học Việt Nam đương đại. Ông đến với văn chương muộn, bằng chính vốn sống lăn lộn của một người thợ hàn tự do, từ Nam ra Bắc, qua những khu nhà trọ công nhân, những kiếp người bấp bênh “dưới đáy” thành phố. Từ tiểu thuyết đầu tay “Bão đất (2008), chùm truyện ngắn đoạt Giải nhất Báo văn nghệ (2011 - 2013), đến Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 2005 cho tiểu thuyết “Miền đất hứa” - Ông luôn giữ một khoảng cách lặng lẽ, không ồn ào, tự nhận mình là người “tập viết” và kiên định với danh xưng “Thợ hàn - Viết văn”. Cuộc trò chuyện dưới đây là dịp để người đọc hiểu thêm về một nhân cách văn chương giàu trải nghiệm, sâu sắc và đầy bản lĩnh.
Phóng viên (PV): Thưa Nhà văn, từ một người thợ hàn tự do, bước vào văn chương muộn rồi giành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - Hành trình ấy với ông là một “sự tình cờ” hay một “định mệnh” đã chờ sẵn từ những năm tháng lăn lộn mưu sinh?
Nhà văn Lê Thanh Kỳ (LTK): Trước tiên cho tôi được cảm ơn anh và tôi rất thích kiểu trò chuyện như này. Trong không gian của sự trò chuyện làm cho người ta dễ cởi mở, thoải mái, thân mật và tự nhiên hơn; bớt đi sự nghiêm trang, đắn đo, bài vở, cẩn trọng trước các câu phỏng vấn báo chí. Thực tình tôi đến với văn chương không do “tình cờ” đâu, cũng chẳng “định mệnh” nào cản được. Này nhé: khi tôi được sinh ra, ông giời đã mã hoá tôi làm thợ hàn rồi, nhưng do tôi không cam phận mà thôi. Tôi mê văn chương từ nhỏ cho nên muốn biến giấc mơ đó thành hiện thực. Anh thấy đấy! Cuộc đời cũng thật oái oăm. Có phải thích mà được đâu? “Định mệnh” của tôi được mặc định là thợ hàn cho nên tôi phải giấu ông ấy sự việc tày đình này, lại sỹ diện sợ ông ấy cười cho nữa! Tôi nghe nhân gian thường mách nhau: “Cơm áo không đùa với khách thơ” làm nản lòng biết bao kẻ sỹ. Cho nên tôi chỉ dám đi nhẹ, nói khẽ, rón rén từng bước một. Và như anh nói nếu do một sự “tình cờ” nào đó thì chắc tôi chỉ làm một nhát rồi thôi vì đó là sự may mắn, như kiểu trúng số ý. Tôi biết có nhiều người nghĩ như thế nhưng văn chương không là thứ để đùa bỡn và thế là tôi cứ theo nó mãi, cứ mong mỏi mãi có ngày tôi sẽ bắt được nó. Mong mỏi luôn là một hành trình trong mơ nhưng có một hành trình luôn hiện hữu, đó là đời sống thực, có thực, không chối bỏ được. Thật khó lựa chọn, phải không anh? Con người mà. Loài động vật cấp cao này cũng giống như các loài thấp cấp khác là cần phải sống sót trước đã. Cái giấc mơ bên ngoài “định mệnh” giống như một cái nhọt bọc không thuốc thang, chữa trị, cho đến một ngày tự nó vỡ ra, và trong đám bầy nhầy đầy máu mủ ấy tự nẩy ra một cái mầm. Đấy là cây mơ ước của tôi. Không biết nó có chờ tôi hay không nhưng tôi luôn chờ đợi nó. Thật là vậy đó, chẳng giấu anh làm gì.
PV: Có khoảnh khắc “bùng phát” nào khiến ông buộc phải viết “Bão đất” - Cuốn tiểu thuyết đầu tay ra đời từ chính những bức xúc về đất đai, nông dân? Phải chăng sự tức giận trước bất công là khởi nguồn đặc thù trong sáng tạo của ông?
LTK: Vâng. Đúng thế! Không tức giận làm sao được. Chỉ có sỏi đá mới câm lặng mà thôi. Tận mắt nhìn thấy những người nông dân bị cưỡng chế để chiếm đoạt tư liệu sản xuất thì cảm xúc ập đến trước những viện giải về lý trí, vì những lý do được cho là không thể khác. Khi sự không công bằng được luật hoá thì phải làm gì? Biết mà không nói cũng là tội ác. Nói thật hay tìm lý do bào chữa? Bênh vực người yếu hay hùa theo kẻ mạnh? Nếu nhà mình có hai sào đất trồng lúa bị cưỡng bức bàn giao rẻ mạt cho người cũng đi thuê đất sản xuất như mình thì sao? Các quyền của con người và sự công bằng tương đối lúc ấy sẽ được đem ra đối thoại chỉ với chính mình mà thôi. Sự kiện ấy như một cây sắt chọc vỡ cái nhọt bọc mơ ước kia ra, và vô tình mà cái anh gọi là “khơi nguồn” kia bắt đầu chảy. Đấy là một khoảnh khắc hay động cơ thôi thúc, là mạch khởi đầu cho một cuộc văn chương sau này.
Khi ấy tôi đã gần năm mươi tuổi. Sự trỗi dậy đầy ham muốn của thời thơ ấu. Làm việc mà mình thích! Tôi tiết lộ với anh rằng ông giời sai tôi làm thợ hàn. Bây giờ tôi giấu ông ấy làm thêm một nghề khác, một nghề nói ra những gì mình biết, còn thiếu sót, khiếm khuyết, kể cả những điều thầm kín để thúc đẩy cuộc sống đi lên. Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tay bắt đầu từ những sự kiện xung quanh mình, của lớp lớp những người lao động như mình, dù bất cứ làm ngành nghề gì.
PV: “Nghề hàn nuôi thân, văn chương nuôi tâm” - Ông từng nói vậy. Nhưng liệu có khi nào hai “cái tôi” ấy xung đột: người thợ cần kỷ luật, thực dụng và nhà văn cần tự do, bay bổng?
LTK: Đấy không phải câu tôi nói mà báo VN đặt tên cho bài phỏng vấn. Anh đặt vấn đề về sự “xung đột” nội tâm trong con người, là: hai trong một. Bản thân tôi cũng thấy rõ vấn đề của mình và biết mình phải làm gì. Không hề có “xung đột” nào xảy ra ở đây và cũng đừng bao giờ để nó xảy ra xung đột. Hai đại lượng vật lý này, một cái nhìn thấy, một cái thì không. Một cái mà ai hàng ngày cũng nhìn thấy tôi làm lụng là đại lượng cho tôi tồn tại như hàng triệu lao động khác. Cái không nhìn thấy lại là một đại lượng có nguồn năng lượng vô tận cung cấp để tôi được sống đời sống của một con người. Xét về mặt vật lý thì thân xác tôi chả khác gì một con robot bằng thịt được nuôi nấng tử tế bằng nguồn lực tinh thần. Vậy nếu để “hai đứa” nó mâu thuẫn thì cái thằng tôi chắc hàng ngày phát điên, nhoe nhoét hết, và nếu không ngăn chặn để nó “oánh” nhau thì đời tôi ra bã. Anh hỏi thì tôi cũng xin thưa thật: trong khi hàn tôi luôn tuân thủ an toàn, kỹ thuật hàn mà ông giời đã gắn chíp vào người. Hãy tập trung cao độ vào công việc, đừng để xảy ra bất kỳ sai sót nào. Suốt mấy chục năm làm nghề tôi chưa lần nào để xảy ra tai nạn đáng tiếc nhờ tính kỷ luật không bao giờ sao nhãng. Làm cái gì chuyên tâm vào cái đó. Đó là nguyên tắc. Vâng: “Nghề hàn nuôi thân, văn chương nuôi tâm”. Việc đời thì chặt chẽ, viết văn luôn thả lỏng. Văn chương cho tôi một đời sống khác mà trong đó tôi được vui đùa, được nói những điều mình nghĩ, được sống trong một xã hội hạnh phúc giả tưởng, ước vọng. Nhiều lần được nhỏ những giọt nước mắt lắm khi cay đắng, nghiệt ngã của số phận tưởng tượng mà sao thấy sung sướng vì nó là giọt nước mắt hạnh phúc, có ý nghĩa nhất trần đời.
PV: Đọc “Miền đất hứa”, người ta thấy hiện lên một thế giới “dưới đáy” với những nghề bắt cá trong cống ngầm, những kiếp người vật vờ ở thành phố. Khi viết về họ, ông sợ nhất điều gì: sự thương hại, sự sai lệch hiện thực, hay việc vô tình tô hồng những mảnh đời ấy?
LTK: Như anh thấy đấy. Hiện thực cuộc sống được tái hiện trong Miền đất hứa. Cuộc sống của những người lao động dưới đáy xã hội đầy mặc cảm số phận, đầy tính tự ái, dễ tổn thương nhất. Đây là điều nhức nhối trong xã hội được thông qua một tác phẩm văn học dẫu sao nó cũng chỉ như một cánh tay giơ lên trong một rừng cánh tay của sự nỗ lực, cải thiện chất lượng cuộc sống hàng ngày. Khi viết về họ thì tôi chỉ biết cố gắng phản ánh những gì như nó có với sự cảm thông như chính mình dù trong bất kể hoàn cảnh nào cũng không muốn sự thương hại. Đây là tính ương ngạnh, bất khuất nhất của những người lao động nghèo khổ. Đây là đặc tính khá điển hình của những người nghèo về vật chất nhưng giàu lòng tự trọng. Nếu như tôi có cố ý hay vô tình nhằm tô hồng những mảnh đời dưới đáy thì chẳng hoá ra tôi cổ vũ rằng: Các bạn ơi! Hãy sống nghèo khổ nào, vì nghèo là niềm tự hào! Các bạn lao động kiếm tiền trong môi trường đầy rủi ro là quang vinh! Thật là tội lỗi.
PV: Nhiều nhà phê bình cho rằng văn chương của ông là “văn chương sinh thái” - Gắn bó máu thịt với thiên nhiên, với làng quê trước sự tàn phá của công nghiệp hoá. Ông có chủ ý đi theo dòng chảy đó, hay đó chỉ là tiếng lòng của một người từng chứng kiến “Bão đất”?
LTK: Khi nền kinh tế đổi mới, sáng tạo. Khi chúng ta phấn đấu hướng tới cấp thẻ căn cước công dân toàn cầu cho mọi công dân thì văn chương cũng thế, nền văn chương phi biên giới và phi chính trị buộc các nhà văn cũng quan tâm đến các vấn đề chung của nhân loại như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và công bằng xã hội... Sự phát triển quá nóng các khu công nghiệp cũng là tác nhân chính của sự huỷ diệt thiên nhiên. Cái gì cũng có tính hai mặt của nó. Được kinh tế thì mất môi trường. Có thể làm giảm tác hại không gì bằng chế tài và sự minh bạch nhất là vấn đề văn hoá doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân, những người đứng đầu doanh nghiệp. Khái niệm “văn chương sinh thái” không còn mới mẻ gì. Tuy là nhà văn bé mọn, tỉnh lẻ nhưng tôi cũng ý thức điều này. Có thể không trông chờ vào một ngành “lý luận phê bình sinh thái” phát triển, định hướng rầm rộ mà nhà văn bằng tình yêu thiên nhiên, làng quê, cây cỏ, dòng sông mà tích cực giữ gìn. Nếu để cánh đồng chết, rừng trụi và dòng sông chết thì thi ca cũng chết theo.
PV: Có một điều thú vị: ông rất sợ bị cho là “lên lớp” hay “dạy đời”, nhưng tác phẩm của ông lại đầy những triết lý, triết luận (ví dụ: Hạnh phúc là khi người ta biết yên phận). Ranh giới nào giúp ông giữ được sự dung dị mà vẫn sâu sắc?
LTK: Vâng. Tôi rất sợ bị quy cho là “lên lớp” hay “dạy đời” rất dễ hiểu lầm. Thấy thế thì nói thế. Những người đầy kiến thức uyên thâm, những người đầy ứ lòng tự trọng dễ dàng bắt lỗi. Tôi biết có vô số học giả, trí thức khiêm tốn, ẩn mình thì tôi ngay từ đầu đã biết lượng và tôn trọng. Người ta cũng giao giảng đầy ra đấy thôi. Chỉ có điều cái tôi được rút ra từ những kinh nghiệm chính mình, cùng vô số những người khác nằm trong giai tầng họ cũng biết cách rút ra những kinh nghiệm cho mình, cho những người cùng cảnh ngộ, và tôi như một kẻ sưu tầm, lang thang, cóp nhặt mang nó về cho mình dùng. Điều giản dị mà tôi tự tin bật miệng giống như một ca dao, tục ngữ dân dã không quan tâm đến quyền sở hữu, không dùng ngôn ngữ đài các, bác học, bắt chước người khác. Còn anh hỏi tôi cái ranh giới giúp cho mình tự tin triết luận thì tôi cũng trao đổi thẳng thắn rằng tôi nằm ở đâu thì ngôn ngữ ở đấy. Không ngại biểu đạt. Triết lý của sự tận cùng tuy thô ráp, không lời hay ý đẹp, không đài các thời thượng nhưng được cái là nó không lừa dối và không có độc. Ranh giới là ở đấy. Nó chỉ đơn giản thế thôi!
PV: Ông từng chia sẻ “rất ghét từ nguyên mẫu” và cố gắng “tạo ra nhân vật không giống ai”. Vậy, trong quá trình dựng nhân vật, ông khởi đầu từ người thật, từ tổng hợp các số phận, hay từ một ám ảnh nào đó của riêng mình?
LTK: Anh hỏi một câu rất hay vì tôi cũng rất muốn nói ra điều này từ rất lâu, từ khi tôi còn là một thằng oắt con lếu láo. Nhưng thưa anh: tôi biết nói thế nào đây? Có điều lạ lùng là ở xứ ta những lời nói thật thường để gió cuốn đi, hoặc xếp vào loại “hạnh kiểm kém”, ai cũng muốn tránh. Tôi thật may mắn làm sao lại được sinh ra có yếu tố quê hương với Nhà văn, liệt sỹ Nam Cao. Nếu ông còn sống chắc tôi sẽ dũng cảm để hỏi ông có phải Bá Bính là Bá Kiến - Một nhân vật cường hào, gian ác hay không? Cả căn nhà nữa? Nguyên mẫu là gì thì cả tôi với anh đều định nghĩa như nhau, hiểu nguyên nghĩa của nó. Hôm nay được ngồi đây giãi bày với anh mong anh hiểu cho “nguyên mẫu” là chuyện thù ghét cá nhân không đáng chọn làm văn phẩm, hạ thấp nhà văn cũng như làm hại những người được cho là “nguyên mẫu”. Tôi biết các nhà văn trong đó có cả chính tôi khi xây dựng nhân vật thường lúc ấy sẽ nhớ tới hàng loạt ngoại hình kiểu như các đạo diễn chọn diễn viên tương đồng với tính cách nhân vật để tạo ra một nhân vật hoàn toàn điện ảnh, ước lệ, không thể là “nguyên mẫu”, không bao giờ và không đời nào! Việc kể, tả nhân vật là quá trình nhà văn lao động lấy mỗi nơi một ít mà thành. Nếu đặt “nguyên mẫu” nó sẽ không ra được nhân vật mà mình muốn câu đạt tới chiều sâu tác phẩm. Bây giờ tôi hỏi lại anh: những nhân vật thần thoại… anh Xuân tóc đỏ, Lão Hạc, hay AQ, Donkihote?… thì ai là “nguyên mẫu”? Làm gì có, đúng không? Anh Phèo trong cùng tác phẩm là ai ngoài đời? Hay chỉ là nhân vật điển hình của sự tha hoá khi người nông dân khổ quá rồi, bị bóc lột, áp bức quá rồi mới thành ra thế? Tuỳ theo ý đồ xây dựng ý tưởng tác phẩm cần đạt tới mà tác giả sẽ bịa tạc ra một nhân vật nào đấy thoả mãn các yêu cầu mà các nhà ảo thuật ngôn đặt ra, nghĩa là nó được tổng hợp từ những đơn tính mà thành cái đa tinh điển hình. Tôi nói hơi nhiều rồi, nhân đây tâm tình với anh cho vui: Nhà văn có một phần của anh Chí nằm ngửa mà đạp ngược liệu có trúng, chạm vào các hạt photon trong ánh sáng hay không? Có đòi được lương thiện không? Chắc không. Để gió cuốn đi.
PV: Nhìn lại Giải thưởng Hội Nhà văn đến khi ông đã ngoài 65 tuổi. Nó có ý nghĩa như một “sự đền bù” cho những tháng ngày lặng lẽ. Hay chỉ đơn giản là một “cái mác chất lượng” để sản phẩm dễ đến với bạn đọc?
LTK: Anh vừa nói đến câu “đền bù” tôi lập tức nghĩ đến, so sánh sự “đền bù” có chung trong một miền giá trị. Giải thưởng của Hội Nhà văn đến với tôi là sự “đền bù” như anh nói là cái mãn nguyện, là sự trả giá đích đáng biết bao đêm tự đày thân xác, và cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của mình. Còn các hộ nông dân trong việc thu hồi tư liệu sản xuất thì không. Có “đền” mà chưa có “bù”. Trong sự gia tăng tài sản của người được thụ hưởng thì nên/ giá như các nhà đầu tư “bù” nhiều hơn “đền” thì giá trị nhân văn biết bao! Giúp phần nào cân đối giàu nghèo, trật tự và an toàn xã hội hơn. Giải thưởng của tôi chỉ là chuyện nhỏ.
PV: Có một chi tiết đẹp: Ông từng từ chối một giải thưởng lớn. Điều gì khiến một người viết không chuyên, cần sự công nhận, lại có thể dũng cảm nói “không” với danh lợi?
LTK: Cho phép tôi không trả lời câu hỏi này của anh, được không? Buộc/ Luật im lặng là thứ khổ tâm nhất. Không có gì hèn nhát và trơ trẽn hơn là sự nói dối.
PV: Đối với ông, “chua ngọt đời văn” không chỉ là chuyện cơm áo, mà còn là áp lực phải “viết hay hơn”, “viết lớn hơn” sau Giải thưởng. Ông đối thoại với áp lực đó bằng cách nào - Vẫn kỷ luật “keng một cái là vào việc” hay lặng lẽ “cuộn hàng rào” lại?
LTK: Tôi không “cuộn hàng rào lại” đâu vì cái tôi cần nói còn nhiều. Chưa bao giờ cuộc sống cung cấp cho nhà văn lắm sự kiện đến thế. Tôi không nói ngoa chứ thời buổi ngày nay hễ ra đường là thấy truyện và có cả trong ngôi nhà của mình nữa. Còn Giải thưởng ư? Giải thưởng là sự động viên, động cơ kích nổ chứ nó đâu phải là giới hạn làm mình sợ hãi không dám vượt qua. García Márquez sau Giải thưởng Nobel Trăm năm cô đơn (1967) ông vẫn sáng tác bình thường: Mùa thu của vị trưởng lão (1975), Tình yêu thời thổ tả (1985), Tướng quân giữa mê cung (1989), và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2004). Văn tài thế giới còn vậy huống chi mình mới có một Giải thưởng bé tí! Kỷ luật hay sự nghiêm khắc với bản thân là cốt lõi thép trong bê tông. Trong bất cứ lĩnh vực nào cũng thế mà trong đó sự kỷ luật không được đề cao thì không nhận được kết quả tốt. Hiển nhiên là thế! Nói thực với anh là sau Giải thưởng một thời gian ngắn là tôi quên nó đi. Nếu tôi còn hân hoan với nó, nó sẽ gây áp lực cho tôi ngay. Nó tệ hại thế nào thì anh biết đấy: Tôi sẽ sợ chính tôi! Mỗi nguời sẽ có cách chế ngự riêng, hiệu quả dựa vào tính cách và khả năng thích ứng. Giải thưởng bản thân nó không biết gây áp lực gì cả, chẳng qua người nhận nó tự mãn bản thân, tự gây áp lực đến nỗi sợ không vượt qua chính bản thân mình. Nhưng một vấn đề có thật, có vẻ hơi khó một chút là ở môi trường xung quanh tác động vào, là họ luôn kỳ vọng vào tác giả từ đó sẽ “viết hay hơn”, “viết lớn hơn”. Sự đòi hỏi ấy là chính đáng. Tôi đã từng trả lời câu hỏi tương tự như này trên báo rằng tôi sẽ không bắt mình phải “viết lớn hơn” nhưng “hay hơn” có làm tôi suy nghĩ và chỉ tiêu những đồng tiền trong ví mình có. Không ồn ào, tiêu hoang. Tôi sẽ tin vào bản thân và không tham vọng viển vông đâu. Không ai sống mãi để sáng tác được. Nếu có một điều ước thì tôi sẽ ước cho nhà văn của chúng ta nên sống 1.000 năm sáng tác. Đủ cái ăn. Không ốm đau quặt quẹo. Trong sáng tác không phải cái gì cũng hay và hay mãi được. Điều này giống y chang một cô hoa hậu - hoa hậu là người không đẹp mãi. Tôi nghĩ thế và sẽ cố gắng. Hôm nay bạn là cô gái đẹp, ngày mai là người phụ nữ đẹp, ngày kia và những ngày sau mãi là người đàn bà đẹp. Tất nhiên để làm được điều đó thì lại phải quay lại tinh thần cổ điển là sự kỷ luật.
PV: Nhìn từ đồng nghiệp (như Nhà văn Đoàn Hữu Nam) và bạn đọc, người ta thấy ở ông một “cá tính sáng tạo” khó trộn lẫn: giàu chi tiết đắt, giọng kể thản nhiên như đời sống. Ông tự nhận mình có “chất riêng” nào, hay tất cả chỉ đơn giản là “viết những gì mình đã sống”?
LTK: Tôi không “viết những gì mình đã sống” mà tôi chỉ viết những gì như cuộc sống có. Tôi cũng không ngần ngại mà nói rằng mình sẽ chọn cho mình một lối đi riêng: chọn cái tầm thường nhất, ví như trên một cánh đồng trồng toàn cà chua mọng đỏ. Tôi chọn cà pháo. Trên trời, chim nào hót giọng ấy. Mọi người chọn Sơn Ca, Hoạ Mi. Tôi chọn chim ri hay con bói cá thỉnh thoảng mới rít một tiếng nghe chối tai, chả hay ho gì. Đấy là điều trăn trở, là sự cố gắng thoát khỏi bẫy nhịp điệu vừa tầm, cao điệu vừa phải, chen chúc như hiện tượng giao thông hỗn loạn ngày nay. Có sự thiệt thòi, không người quan tâm, quanh co khúc khuỷu nhưng được cái thông hè thoáng đường. Con người giao tiếp mỗi người một giọng. Ai cũng biết cách xây dựng, cấu trúc tác phẩm vừa đẹp về kiến trúc lại hợp lý trong sử dụng. Tác giả vừa là nhà thiết kế, vừa là nhà thầu xây dựng. Một ngôi nhà đẹp ai mà không thích chứ! Mỗi ngôi nhà là mỗi câu chuyện, thuyết phục khách hàng lắng nghe. Quan trọng là cách kể. Tôi nghĩ thế!
PV: Kết thúc cuộc trò chuyện, nếu được tóm gọn “tuyên ngôn” cầm bút của mình trong một câu, ông sẽ nói gì? Và “Miền đất hứa” của riêng nhà văn Lê Thanh Kỳ, ở tuổi này, là gì?
LTK: Nói đến hai từ “tuyên ngôn” thì to tát quá! Có lần Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong một buổi họp báo giới thiệu cuốn tiểu thuyết của Nhà văn Sương Nguyệt Minh, anh bảo với tôi: Văn chương có đạo. Từ khi còn đi học tôi đã từng nghe cụ Đồ Chiểu dạy: “Văn dĩ tải đạo”. Tôi thấy rất rõ ý nghĩa của nó. Anh hỏi thì tôi cũng nói, nói lời mà tôi đã lĩnh hội được từ những người đi trước: Văn là đời - Đời có đạo. Tôi chỉ biết tóm gọn thế thôi. Ở tuổi này, Miền đất hứa được vinh danh là niềm vinh dự, sau này cầm xuất vé để đi sang thế giới bên kia thì tôi vẫn chọn viết văn làm nghề. Tôi không nói hươu vượn cho vui. Thật đấy!
Xin cảm ơn Nhà văn về cuộc trò chuyện thú vị này!
LÊ NGỌC TÚ thực hiện
(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)