Chủ nhật, 12/07/2026

BÌNH BÀI THƠ “VÂN LỖI SƠN” CỦA NINH TỐN

Chủ nhật, 21/06/2026

TRƯƠNG HÁN VŨ

Chủ tịch Hội khoa học lích sử Ninh Bình

Nguyên Phó Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Ninh Bình

Nguyên Tổng biên tập Tạp chí văn nghệ Ninh Bình

Nguyên văn chữ Hán:   

 

雲磊山                                  

     

愛州多勝觀

雲磊奇一山

幽巖藏梵宇

鐫壁篆宸翰

遠拱青巒頂

前紆白一灣

花樹各今古

水石自忙閑

登臨聊極目

身宛在雲端

          寧遜

Phiên âm Hán Việt:

     Vân Lỗi Sơn

Ái Châu đa thắng quan,
Vân Lỗi kỳ nhất san.
U nham tàng phạm vũ,
Quyên bích triện thần hàn.
Viễn củng thanh loan đỉnh,
Tiền vu bạch nhất loan.
Hoa thụ các kim cổ,
Thủy thạch tự mang nhàn.
Đăng lâm liêu cực mục,
Thân uyển tại vân đoan.

Dịch nghĩa:

Núi Vân Lỗi

Châu Ái có nhiều cảnh đẹp,
Núi Vân Lỗi là một ngọn núi kỳ thú.
Trong hang núi u tịch ẩn một ngôi chùa.
Trên vách đá còn khắc bút tích của bậc đế vương.
Xa xa, các dãy núi xanh chầu tụ quanh đỉnh núi.
Phía trước, một dải nước trắng uốn cong.
Hoa cỏ, cây cối có thứ từ xưa, có thứ mới nay.
Nước và đá tự mang vẻ động và tĩnh hài hòa.
Lên cao, phóng tầm mắt nhìn xa
Ngỡ thân mình đang ở tận đầu mây.

           Dịch thơ:

Vân Lỗi Sơn

Ái Châu thắng cảnh biết bao,

Vân Lỗi riêng một non cao lạ kỳ.

Chùa xưa ẩn bóng sơn khê,

Vách còn nét ngự đề ghi tháng ngày.

Xa trông núi biếc chầu về,

Trước dòng nước trắng uốn mê một vòng.

Hoa cây kim cổ đan lồng,

Đá sông nhàn bận cũng không rõ ràng.

Lên cao tầm mắt mênh mang,

Ngỡ thân đã tới mây ngàn chơi vơi.

          (Trương Đình Tưởng dịch)

Lời bình của TRƯƠNG HÁN VŨ

Trong dòng chảy thi ca chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam, những bài thơ vịnh cảnh không chỉ là sự ghi nhận vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn là kết tinh tâm thế văn nhân, quan niệm thẩm mỹ và ý thức lịch sử của một thời đại. Bài thơ Vân Lỗi Sơn của Ninh Tốn là một minh chứng tiêu biểu cho sự giao hòa ấy.

Trước hết, cần đặt bài thơ vào bối cảnh văn hóa của vùng Ái Châu (lúc đó bao gồm cả vùng đất Ninh Bình là Thanh Hoa ngoại trấn) – một địa vực nổi tiếng từ lâu đời với “đa thắng quan”, như chính câu mở đầu khẳng định. Cách vào đề của tác giả vừa mang tính khái quát, vừa như một lời dẫn dắt có chủ ý: giữa vô vàn cảnh đẹp ấy, “Vân Lỗi kỳ nhất sơn” – núi Vân Lỗi hiện lên như một điểm nhấn đặc biệt, một “kỳ quan” trong tổng thể. Từ “kỳ” ở đây không chỉ dừng lại ở sự lạ mắt của hình thế, mà còn hàm chứa ý vị linh thiêng, độc đáo, đáng để chiêm ngưỡng và suy tưởng. Câu thơ vì vậy vừa mang chức năng định danh, vừa đặt nền cho cảm hứng tôn vinh xuyên suốt bài thơ.

Hai câu đầu mở ra chiều sâu của cảnh trí, đồng thời đưa người đọc bước vào không gian u tịch, linh thiêng: “U nham tàng phạm vũ/ Quyên bích triện thần hàn”.

Hang sâu (u nham) không chỉ là một yếu tố địa hình, mà còn là biểu tượng của cõi tĩnh mịch, nơi con người có thể rũ bỏ bụi trần để hướng tới đời sống tâm linh. Trong lòng cõi u tịch ấy lại “tàng phạm vũ” – ẩn giấu một ngôi chùa. Hình ảnh này gợi nhớ đến truyền thống Phật giáo gắn với núi rừng đất Việt, nơi cảnh quan tự nhiên và không gian tôn giáo hòa quyện thành một chỉnh thể thiêng liêng. Cái “tàng” (ẩn giấu) làm tăng thêm chiều sâu huyền bí: chùa không phô bày mà như ẩn mình, chờ người hữu duyên tìm đến. Chúng ta liên tưởng tới động Từ Thức - Cảnh Tiên trên chính vùng đất này!

Đáng chú ý hơn là hình ảnh “triện thần hàn” – bút tích của bậc đế vương khắc trên vách đá. Ở đây, thiên nhiên không còn là không gian thuần túy, mà đã được “văn hiến hóa”. Nét khắc ấy chính là dấu ấn của quyền lực chính trị và văn hóa của bậc tối cao, làm cho núi non trở thành nơi lưu giữ ký ức lịch sử. Từ góc nhìn này, Vân Lỗi Sơn không chỉ là thắng cảnh, mà còn là một “thạch thư” – cuốn sách đá ghi chép sự hiện diện của vương quyền. Sự kết hợp giữa “phạm vũ” (chùa) và “thần hàn” (bút tích vua) cho thấy sự giao thoa giữa hai hệ giá trị: tôn giáo và chính trị, tạo nên một không gian vừa linh thiêng, vừa trang trọng. Vừa hiện thực, vừa huyền bí lung linh. Đến hai câu tiếp, bức tranh được mở rộng theo chiều viễn và cận cảnh: “Viễn củng thanh thiền đỉnh/ Tiền vu bạch nhất loan”. Câu trên là cái nhìn bao quát: các ngọn núi xanh “củng” (拱 chầu) về đỉnh. Từ “củng” vốn mang sắc thái cung đình, thường dùng để chỉ sự quy tụ của quần thần trước thiên tử. Ở đây, tác giả đã nhân cách hóa núi non, biến thiên nhiên thành một trật tự mang tính nghi lễ. Đỉnh Vân Lỗi vì thế hiện lên như một trung tâm, một “chủ thể” được tôn vinh. Đây không chỉ là thủ pháp nghệ thuật mà còn phản ánh tư duy vũ trụ luận của Nho gia: thiên nhiên vận hành theo một trật tự hài hòa, có trên có dưới, có trung tâm và ngoại vi. Câu dưới chuyển sang cận cảnh với hình ảnh dòng nước “bạch nhất loan” – một dải trắng uốn lượn mềm mại. Nếu như núi mang dáng vẻ uy nghi, tĩnh tại, thì nước lại biểu trưng cho sự vận động, linh hoạt. Sự đối sánh giữa “thanh thiền đỉnh” (đỉnh núi xanh) và “bạch nhất loan” (dòng nước trắng) tạo nên một bức tranh sơn thủy hài hòa về màu sắc và đường nét. Ở đây, có thể nhận ra ảnh hưởng rõ nét của mỹ học sơn thủy họa, nơi cảnh vật được tổ chức theo nguyên tắc “cao – thấp”, “động – tĩnh”, “viễn – cận”. Hai câu tiếp theo đưa người đọc vào một tầng nghĩa khác, giàu tính triết lý: “Hoa thụ các kim cổ/ Thủy thạch tự mang nhàn”. “Hoa thụ” – cây cối, hoa lá – được nhìn trong trục thời gian “kim cổ”: có cái từ xưa, có cái của hiện tại. Câu thơ gợi lên ý niệm về sự tiếp nối và biến đổi của tự nhiên, đồng thời cũng là của lịch sử. Cây cổ thụ có thể đã chứng kiến bao thăng trầm, trong khi những mầm non mới lại tiếp tục sinh trưởng. Thiên nhiên vì thế trở thành tấm gương phản chiếu dòng chảy vô tận của thời gian. Đặc sắc hơn là cụm từ “tự mang nhàn”. Nước và đá – hai yếu tố tưởng như đối lập – lại cùng mang trong mình trạng thái “bận” và “nhàn”. Nước chảy không ngừng, đá đứng yên bất động; nhưng trong cái động có cái tĩnh, trong cái tĩnh lại hàm chứa tiềm năng vận động. Đây là một cách nhìn mang đậm dấu ấn của triết học Đạo giáo, nơi mọi sự vật đều chứa đựng tính tương đối và khả năng chuyển hóa. Câu thơ vì vậy không chỉ tả cảnh mà còn gợi mở một triết lý về sự dung hợp giữa độngtĩnh, giữa hữu vivô vi.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng sự xuất hiện trực tiếp của chủ thể trữ tình: “Đăng lâm liêu cực mục/Thân uyển tại vân đoan”. Sau hành trình chiêm ngưỡng, nhà thơ bước vào trạng thái “đăng lâm” – leo lên cao, phóng tầm mắt. Từ “liêu” (tạm, nhân tiện) cho thấy một tâm thế ung dung, không bị ràng buộc bởi mục đích thực dụng. Hành động “cực mục” – nhìn đến tận cùng – không chỉ là sự mở rộng thị giác mà còn là sự mở rộng tâm hồn. Và trong khoảnh khắc ấy, nhà thơ cảm thấy “thân uyển tại vân đoan” – thân mình như ở đầu mây. Đây là điểm hội tụ của toàn bộ cảm hứng bài thơ. Từ việc quan sát cảnh vật bên ngoài, chủ thể trữ tình đã đạt tới một trạng thái tinh thần siêu thoát, gần với lý tưởng “đắc ý vong hình” của thi học cổ điển. Con người dường như hòa tan vào thiên nhiên, vượt lên trên giới hạn của thể xác và thực tại. Cảm giác “tại vân đoan” không chỉ là một ẩn dụ không gian, mà còn là biểu hiện của sự thăng hoa tinh thần, một khoảnh khắc đạt tới tự do nội tại.

Xét về phương diện nghệ thuật, Vân Lỗi Sơn là một bài thơ tiêu biểu cho thi pháp Đường luật được vận dụng nhuần nhuyễn trong văn học Việt Nam trung đại. Bố cục chặt chẽ theo lối “khởi – thừa – chuyển – hợp”, đối ngẫu cân xứng, ngôn ngữ hàm súc mà giàu hình tượng. Các cặp câu thực – luận đều đạt đến độ chỉnh về thanh và ý, tạo nên nhịp điệu trang nhã, khoan thai. Đặc biệt, việc sử dụng các từ ngữ như “củng”, “loan”, “kim cổ”, “mang nhàn” cho thấy trình độ Hán học uyên thâm và khả năng lựa chọn từ ngữ tinh tế của tác giả.

Nhìn rộng hơn, bài thơ còn phản ánh một đặc điểm quan trọng của văn học thời Lê – Trịnh: sự kết hợp giữa ý thức văn hiến và cảm hứng cá nhân. Núi Vân Lỗi không chỉ là đối tượng thẩm mỹ mà còn là không gian văn hóa, nơi hội tụ dấu ấn của Phật giáo, vương quyền và lịch sử. Đồng thời, qua việc miêu tả và chiêm nghiệm, tác giả cũng bộc lộ tâm thế của một trí thức trước thiên nhiên: tìm kiếm sự hài hòa, thanh thản và tự do tinh thần.

Căn cứ vào văn mạch và kết cấu đối liên của bài thơ, văn bản bài thơ hiện còn gồm 10 câu ngũ ngôn tạo thành 5 liên hoàn chỉnh. Không thấy dấu hiệu cho thấy hai câu nào bị chép thừa hoặc tách nhầm như có người nói đó chỉ là bài thơ Đường ngũ ngôn bát cú, thêm hai câu cắt ghép. Vân Lỗi Sơn là một bài thơ viết theo lối cổ thể (ngũ ngôn, thập cú). Chúng ta thường quen với các thể thơ ngũ ngôn bát cú (8 câu), thất ngôn bát cú (8 câu); nhưng trong thơ Hán còn có: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn bài luật, ngũ ngôn trường luật, số câu không nhất thiết là 8. Từ đời Đường trở đi, ngoài bát cú còn có thơ 10 câu (thập vận), 12 câu, 16 câu, thậm chí dài hơn. Đã theo lối thơ cổ thể thì nó chặt chẽ niêm luật. Dung lượng Vân Lỗi sơn chỉ có 10 câu, 50 từ, nhưng sự diễn tả không gian địa lý, phong cảnh núi non hùng vĩ, uy nghi, phương pháp nghệ thuật ẩn dụ tài tình, giàu sức gợi sự liên tưởng về trường ý nghĩa. Nó cho thấy khả năng của thi ca cổ điển trong việc chuyển hóa cảnh quan cụ thể thành những biểu tượng mang tính phổ quát. Qua ngòi bút của Ninh Tốn, núi Vân Lỗi đã trở thành một không gian nghệ thuật, nơi thiên nhiên, lịch sử và tâm hồn con người giao hòa trong một chỉnh thể hài hòa, tinh tế và sâu sắc.

Một điểm tinh tế khác là cách tổ chức không gian theo tầng bậc tri giác: từ khái quát (Ái Châu) → điểm nhấn (Vân Lỗi) → chiều sâu (hang, chùa, vách đá) → viễn cảnh (núi chầu) → cận cảnh (dòng nước) → thời gian (kim – cổ) → triết lý (nhàn – bận) → chủ thể (con người trên mây). Đây là một kết cấu “trí lực vượt phàm”, gần với lối triển khai của hội họa sơn thủy và cũng tiệm cận tinh thần thi học đời Đường. Nó cho thấy tác giả không chỉ có cảm xúc, mà còn có ý thức tổ chức bài thơ như một chỉnh thể thẩm mỹ hoàn chỉnh.

Bài thơ Vân Lỗi sơn của Ninh Tốn được khắc trên vách núi Vân Lỗi vào khoảng sau khi Ninh Tốn mới đỗ hương cống (cử nhân), chưa có danh phận gì. Vào khoảng năm Canh Dần, 1770, Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm đi kinh lý phong cảnh nước non, tới vùng Nga Sơn-Tam Điệp, trèo lên núi Vân Lỗi, ngài thấy có bài thơ trên của Ninh Tốn khắc thạch, khẩu khí, ý tứ lạ thường, hợp cảnh, hợp tình, ý tứ cao siêu xa vợi, bèn cho vời Ninh Tốn đến hầu xa giá. Ninh Tốn được tiếp kiến Chúa vô cùng phấn khích, đối đáp với chúa tỏ làu thông kinh sử, binh pháp Tôn Ngô. Chúa lấy làm lạ và yêu quý, liền cho theo giá về phủ, bổ chức quan binh nhỏ, được gần chúa. Vậy bài thơ trên có thể hiện anh hoa phát tiết như thế nào, hợp với tâm tài như thế nào với Chúa mà một người chỉ mới đỗ cử nhân đã được chúa bổ quan, trọng dụng. Quả đúng, sau này Ninh Tốn đỗ Tiến sĩ, phục vụ chúa trong cung với chức quan quân sự, văn chương, rồi sau về theo phò vua Quang Trung giữ đến chức thượng thư bộ binh, lập công lớn, được vua Quang Trung tin dùng. Ông cũng là một nhà thơ lớn với nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Nếu so với các đại gia, chẳng hạn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Lê Quý Đôn, thì Vân Lỗi Sơn chưa đạt tới độ hàm súc đến mức “ý tại ngôn ngoại” sâu dày, cũng chưa có cái “trầm tích nhân sinh” dày đặc như những bài thơ xuất phát từ trải nghiệm lịch sử lớn. Nó thiên về thanh khí, sáng sủa, chỉnh nhã, hơn là u uẩn hay đa tầng ẩn dụ.

Nhưng đặt đúng vị trí, bài thơ này có thể xếp vào loại “thượng phẩm trong dòng thơ vịnh thắng tích”: không chỉ tả cảnh đẹp, mà đã nâng cảnh lên thành cảnh có trật tự, có lịch sử, có triết lý. Đặc biệt, nếu xét trong tương quan với tuổi đời và hoàn cảnh sáng tác của Ninh Tốn (khi chưa hiển đạt, mới 27 tuổi), thì đây là một bài thơ “lộ khí tượng” – tức bộc lộ tầm vóc tinh thần vượt trước vị thế xã hội. Bởi thế, đây là tác phẩm thi ca khắc thạch: Không phải đỉnh cao của thi ca trung đại. Nhưng là một bài thơ có phong độ, có khí cốt, tầm trí lực cao. Và quan trọng hơn, là phát lộ một dấu hiệu sớm của một nhân cách lớn, đó là sự “phát tiết anh hoa”, một nhân cách và tài năng vượt khỏi khuôn khổ khoa cử thông thường.

Chính vì thế, giá trị Vân Lỗi sơn không chỉ nằm ở văn chương thuần túy, mà còn ở chỗ: đọc bài thơ, bậc đế vương như Trịnh Sâm – có thể “nhận ra người”. Và đó là một tiêu chuẩn rất cao của thơ trong truyền thống.

                                      Đầu Hạ Bính Ngọ - 2026 - THV

(Nguồn: TC VNNB số 320 - 06/2026)

Bài viết khác