Chủ nhật, 17/05/2026

Cảnh tiên rơi cõi tục - tình người họa nên thơ

Thứ năm, 16/04/2026

Dục Thuý sơn

         

          Hải khẩu hữu tiên san,
            Tiền niên lũ vãng hoàn.
            Liên hoa phù thuỷ thượng,
            Tiên cảnh truỵ nhân gian.
            Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
            Ba quang kính thuý hoàn.
            Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
            Bi khắc tiển hoa ban.

                                                (NGUYỄN TRÃI)

 

Lời bình của NGƯT HOÀNG TRUNG HIẾU

Đến với Ninh Bình là đến với duyên người thiện, đất linh thiêng, lưu thắng tích. Đến với Ninh Bình, du khách vừa được ngắm cảnh đẹp của tạo hóa vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của lịch sử mà thời gian đã ban tặng cho vùng đất này khai nghiệp lớn, tụ tài cao. Người xưa đã khuất nhưng kỷ niệm với Ninh Bình muôn thuở thì vẫn còn đây! Những bài thơ mãi mãi vẫn còn lưu danh truyền tích, lòng dạ quang minh, nghĩa tình sau trước:            Ngắm cảnh đẹp, nhớ người xưa: đó là hai nguồn cảm hứng cùng hội tụ và trào dâng để thi hào Nguyễn Trãi có được “Dục Thúy Sơn” trên trang thơ ngoạn mục.

            Trời phú cho cửa biển của Đế Nam Việt (xa xưa là cửa biển còn nay là thị xã Ninh Bình), sông Vân - núi Thúy. Đời phú cho thi đàn Việt Nam có được núi Thúy - sông Vân trên trang thơ: “Liên hoa phù thủy thượng/ Tiên cảnh trụy nhân gian/ Tháp ảnh trâm thanh ngọc/Ba quang kính thúy hoàn” (Nguyên tác chữ Hán từ câu 3 đến câu 6)

            Với đôi mắt thần “Sao Khuê” của “Ức Trai tâm thượng”, núi Thúy như một bông sen lớn nổi trên sông Vân. Đây là cảnh tiên ở chốn bồng lai xuống trần thế. Ngọn tháp trên núi như chiếc trâm bằng ngọc xanh in bóng xuống nước. Dải sông Vân sáng như gương, mượt mà như mái tóc xanh (mái tóc còn rất trẻ). Khi dịch, nhà thơ Khương Hữu Dụng có giao hoán vị trí của hai câu tả thực trong nguyên tác (câu 3 xuống câu 4, câu 4 lên câu 3) còn hai câu luận (câu 5 và câu 6) thì ở câu 6, người dịch chuyển đổi “thúy” thành “huyền” (tức là ánh tóc xanh thành ánh tóc đen): “Cảnh tiên rơi cõi tục/ Mặt nước nổi hoa sen/ Bóng tháp hình trâm ngọc/ Gương sông ánh tóc huyền”.

            Người làm thơ thì họa cảnh rồi mới thổ lộ niềm xúc cảm bồi hồi. Người dịch thơ có lẽ không kìm nén nổi xúc động trước bức họa của tiền nhân, nên đã gieo lên “Cảnh tiên rơi cõi tục”, rồi mới họa cảnh “Mặt nước nổi họa sen”. Người làm thơ có đôi mắt nhìn khám phá, giàu mỹ cảm nên đã phát hiện được vẻ đẹp tiềm ẩn của non - nước giao hòa, của núi - sông tình tự mang hồn người, mang tình người. Khương Hữu Dụng có tâm hồn rất linh diệu nên chẳng những dịch được cảnh mà còn dịch được cả hồn người trong cảnh – trẻ trung và mơ mộng. Bóng của tháp mà như chiếc trâm làm bằng ngọc xanh cài vào mái tóc đen (tóc huyền) của dải sông Vân ánh lên như gương phản, dịch như vậy chẳng phải là đồng cảm lắm sao?

            Đang cao hứng cảnh đẹp huyền diệu thì mạch cảm xúc lại chuyển hướng: “Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo/ Bia khắc dấu rêu hoen”

            Ngắm cảnh lại nhớ người, Nguyễn Trãi có mối liên cảm bất ngờ và thú vị như thế làm cho người đọc cũng xúc động theo. Thời nhà Trần, Trương Hán Siêu đã đến nơi này và đề thơ về Dục Thúy mà Nguyễn Trãi đã đọc. Nguyễn Trãi ngưỡng mộ cảnh, ngưỡng mộ người, nên mới đưa tiền nhân vào thơ của mình; nhưng Nguyễn Trãi gọi bằng cái tên vừa trân trọng vừa trìu mến mà vua Trần đã ban tặng cho Trương Hán Siêu là Trương Thiếu Bảo. Dấu tích người xưa để lại bây giờ đã “rêu hoen”. Đó không chỉ là dấu vết thời gian mà còn là âm hưởng, tiếng vọng của tri âm về cùng tri kỷ - là sợi dây quá khứ nối thực tại – mà ở giữa là sự thổn thức, chiêm nghiệm, đồng cảm của thi nhân.

            Sức nặng bài thơ giá trị vĩnh hằng của bài thơ cũng là vì lẽ đó. Du khách đến Ninh Bình mà chưa đến núi Thúy, ngắm sông Vân, đọc thơ Nguyễn Trãi là điều đáng tiếc./.

                                                                        H.T.H

(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)

Bài viết khác