NSƯT KIỀU DƯ
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Việt Nam, những người phụ nữ vượt qua những cuộc trường chinh, gánh vác trên vai cả giang sơn lẫn nếp nhà. Khi đất nước bị bóng đêm xâm lược bao phủ, những người mẹ hiền hậu vốn chỉ quen với ruộng vườn, kim chỉ đã bước vào trang sử dân tộc như những biểu tượng vĩ đại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Hình tượng Mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ ghi dấu trên những bảng vàng huân chương, trên các tượng đài đá hoa cương sừng sững, mà còn được khắc họa một cách sống động, sâu sắc và lay động tâm can nhất qua dòng chảy của âm nhạc cách mạng. Những người nhạc sĩ - những người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - bằng sự thấu cảm sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn, đã bắc một cây cầu âm thanh đi từ hiện thực khốc liệt đến cõi bất tử của nghệ thuật. Qua các nhạc phẩm vượt thời gian, như “Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc” (Thuận Yến), “Tấm áo mẹ vá năm xưa” (Nguyễn Văn Tý), “Huyền thoại mẹ” (Trịnh Công Sơn), “Đất quê ta mênh mông” (Hoàng Hiệp - Dương Hương Ly), “Người mẹ Bàn Cờ” (Trần Long Ẩn - Nguyễn Kim Ngân), “Đất nước” (Phạm Minh Tuấn - Tạ Hữu Yên), “Mẹ” (Phan Long), “Người mẹ của tôi” (Xuân Hồng), cùng hai khúc tráng ca nổi tiếng của An Thuyên là “Mẹ Việt Nam anh hùng” và “Khúc ru người mẹ lính”, một chân dung tổng hòa về Mẹ đã hiện lên sống động lung linh như những trang huyền thoại.
Chân dung ấy không được xây dựng từ những triết lý xa xôi, mà được đúc kết từ những phẩm chất khái quát nổi bật: sự hy sinh thầm lặng, lòng gan dạ kiên cường, tình yêu thương bao la che chở cho cách mạng, và nỗi đau thương được chuyển hóa thành sức mạnh vĩ đại để giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Điểm khái quát đầu tiên và đậm nét nhất khi tiếp cận hình tượng Mẹ Việt Nam anh hùng qua các ca khúc chính là sự chăm sóc, chở che vĩ đại của những người mẹ đối với những đàn con chiến sĩ cách mạng. Mẹ không trực tiếp cầm súng ra chiến trường trong trang phục chiến binh, song cuộc đời Mẹ lại là một mặt trận không tiếng súng nhưng đầy rẫy gian khổ hiểm nguy.

Sự hy sinh của mẹ bắt đầu từ những việc làm giản dị, diễn ra dưới mái tranh nghèo, bên ngọn đèn dầu thao thức đêm thâu. Trong tác phẩm “Tấm áo mẹ vá năm xưa”, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã vẽ lên hình ảnh người mẹ hiền lành nơi quê hương Hà Bắc, mượn đường kim mũi chỉ để sưởi ấm cho đàn con chiến sĩ: “Quần nhau với giặc, áo con rách thêm, nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo”. Mẹ vá áo cho con hay đang vá lại những vết thương của chiến tranh, chắt chiu từng chút hơi ấm để tiếp thêm sức mạnh cho người lính trẻ? Sự chăm chút thương yêu của các mẹ đã trở thành chỗ dựa hậu phương vững chắc.
Càng vào những vùng chiến sự ác liệt, sự hy sinh của mẹ càng mang tính chất sống còn. Trong tác phẩm “Huyền thoại mẹ” của Trịnh Công Sơn, sự chịu đựng của mẹ được đo bằng những thăng trầm của thiên nhiên, bằng những đêm dài thức trắng, gánh cả vận mệnh giang sơn: “Đêm chong đèn ngồi nhớ lại/ Từng câu chuyện ngày xưa/ Mẹ về đứng dưới mưa/ Che đàn con nằm ngủ/ Canh từng bước quân thù/ Mẹ ngồi dưới cơn mưa...”. Hình ảnh “Mẹ ngồi dưới cơn mưa” lặp đi lặp lại như một điệp khúc của cuộc đời gian truân. Mẹ gánh chịu mọi giông bão của thời đại, che chở cho đàn con - những chiến sĩ cách mạng - được bình yên nuôi dưỡng ý chí chiến đấu.
Còn chân dung người mẹ trong bài hát “Đất quê ta mênh mông” (nhạc Hoàng Hiệp, lời Dương Hương Ly) thì nhẫn nại vô song với một tình yêu bao la và niềm tin mãnh liệt: “Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc/ Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác/ Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh…”. Mẹ đào hầm chở che nuôi giấu những chiến sĩ cách mạng, để rồi một ngày “Có những đoàn quân từ trong lòng đất/ Xông lên bạt vía quân thù”. Chính hành động kiên cường và niềm tin sắt đá của mẹ đã tiếp thêm sức mạnh và ý chí dũng cảm cho những đàn con chiến sĩ, bởi “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam” (lời bài hát trên).
Ngay giữa lòng đô thị Sài Gòn rực lửa đấu tranh, hình tượng người mẹ lại gắn liền với những con hẻm chằng chịt, nơi nuôi giấu những cán bộ cách mạng, những phong trào học sinh, sinh viên. Trong bài hát “Người mẹ Bàn Cờ” (Trần Long Ẩn phổ thơ Nguyễn Kim Ngân) đã gợi lại một không gian đấu tranh vô cùng độc đáo: “Có người mẹ Bàn Cờ/ Tay gầy tóc bạc phơ/ Chuyền cơm qua vách cấm/ Khi ngoài trời đổ mưa…”. Mẹ trở thành người dẫn đường, người canh gác, người bảo vệ, người đưa tin. Những con hẻm Bàn Cờ như mạch máu nuôi dưỡng phong trào cách mạng, và chính mẹ là người giữ vững mạch máu ấy.
Không chỉ âm thầm giúp đỡ, nuôi giấu, chở che ngàn vạn cán bộ, chiến sĩ cách mạng, mà ở miền Nam tuyến đầu Tổ quốc, hình ảnh những người mẹ kiên quyết xuống đường đấu tranh đã trở thành nỗi khiếp sợ của quân thù. Nhạc sĩ Thuận Yến đã khắc họa lên một tượng đài Mẹ anh hùng sống động trong bài hát “Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc”. Giữa làn mưa bom bão đạn, trước họng súng bạo tàn của kẻ thù, “Mẹ đã đứng lên/ Với bàn tay không cầm vũ khí/ Nhưng có niềm tin vào sức mạnh chân lý/… Mẹ đã đi về các bốt đồn/ Hỏi tội đứa nào giết chết con tao?/… Dấn bước hiên ngang trước nòng súng giặc…”. “Tay không”, nhưng mẹ có sức mạnh của công lý, của tình mẫu tử và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ánh mắt căm hờn của mẹ làm chùn bước những họng súng vô lương, bẻ gãy ý chí của những kẻ bạo tàn.
Vậy là qua mấy bài ca trên cùng những bài ca khác về người mẹ, hình ảnh những người Mẹ Việt Nam, khi đất nước bị xâm lăng, từ miền Bắc tới miền Nam, từ hậu phương lớn qua vùng ven tới giữa lòng thành phố đầy bóng giặc, Mẹ đã vượt lên gian khổ, chấp mọi hiểm nguy, đùm bọc chở che, trở thành điểm tựa niềm tin vô cùng vững chắc cho những đàn con chiến sĩ. Rồi chính Mẹ cũng trở thành “chiến sĩ” trên mặt trận đấu tranh chính trị, dũng cảm kiên cường “tay không” thắng giặc, là tấm gương sáng ngời cho các con cầm chắc tay súng tiến lên “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (Thơ chúc Tết 1968 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Song, sự hy sinh cao cả lớn lao vĩ đại nhất của Mẹ là sự hy sinh tuổi thanh xuân hạnh phúc lứa đôi, và hy sinh mất mát những đứa con - khúc ruột máu mủ của mình. “Cả cuộc đời cha đi bộ đội/ Quà về cho mẹ là mái tóc pha sương/…Hai mươi năm sau ngày lễ cưới/ Đến hôm nay sống đời vợ chồng/ Hai mươi năm… mẹ nuôi con một mình…” (Lời bài hát “Mẹ” của Phan Long). Hai mươi năm, cả một thời tuổi xuân tươi đẹp nhất, mẹ một mình nuôi con để cha yên tâm chiến đấu ngoài tiền tuyến. Hai mươi năm sau, khi cha trở về thì cả hai đã “mái tóc pha sương” cùng những vết thương trên người cha “cứ trở gió lại đau nhức nhối”. Hai mươi năm cách xa gặp lại, “gia tài cha tặng mẹ”, “quà về cho mẹ” chỉ là “chiếc ba lô gió sương đã gội” của cha, qua bao lần khói lửa chiến tranh. Ôi! Còn có sự hy sinh tuổi xuân, hy sinh hạnh phúc lứa đôi nào cao hơn thế nữa?
Cuộc chiến nào cũng có chia ly xa cách. Và chiến tranh càng không thể không có sự mất mát hy sinh. Vì vậy mà có người Mẹ “Ba lần tiễn con đi/ Hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về/ Mình mẹ lặng im…” (Bài hát “Đất nước”, nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Tạ Hữu Yên). Còn trong bài hát “Người mẹ của tôi” của Xuân Hồng thì: “Nước mắt mẹ không còn/ Vì khóc những đứa con/ Lần lượt ra đi, đi mãi mãi”. Vâng. Những đứa con Mẹ mang nặng đẻ đau, chăm nom bú mớm, lớn lên trong vòng tay yêu thương vô bờ của Mẹ. Họ lên đường chiến đấu bảo vệ non sông, và họ ngã xuống trước hòn tên mũi đạn của kẻ thù. Sự hy sinh ấy là cao cả, là thiêng liêng, nhưng với mẹ vẫn là sự mất mát đau thương lớn lao không gì bù đắp được. Và ở dải đất Việt Nam hình chữ S này, qua hai lần chiến tranh chống giặc ngoại xâm giành thống nhất non sông, hàng chục vạn chiến sĩ hy sinh, hàng vạn bà mẹ mất con, vợ mất chồng. Xin hãy đừng bao giờ quên những sự hy sinh oanh liệt của các liệt sĩ. Và cũng xin hãy đừng quên sự chịu đựng mất mát đau thương vô bờ của những bà mẹ Việt Nam, được phản ánh một phần qua điệu nhạc, lời ca của các ca khúc về đề tài này.
Đặc biệt, nhạc sĩ An Thuyên với hai bài ca về người mẹ: “Khúc ru người mẹ lính” và “Mẹ Việt Nam anh hùng” đã khái quát hóa cuộc đời mẹ như một dòng sông chảy hoài không cạn, một cuộc đời hiến dâng trọn vẹn. Từ khi cất tiếng ru con bên vành nôi ngọt ngào nhưng đầy cảm xúc, nhắn nhủ thiết tha: “Mẹ ru con như cây ru quả/ Mẹ ru con như trời đêm ru vầng trăng/ Lời hát ru ngàn năm đất nước vỗ về… Lời mẹ ru nghiêng bóng núi/ Lời mẹ ru nghiêng Trường Sơn…” (Bài hát “Khúc ru người mẹ lính” - An Thuyên). Rồi chính những đứa con lớn lên thấm đẫm lời ru bao la tha thiết ấy, mang theo lời ru đi vào cuộc kháng chiến trường chinh, trở thành những đứa con dũng cảm - những chiến sĩ anh hùng: “Mẹ đã có ngàn đứa con/ Mẹ đã có cả nước non/ Thỏa nỗi những sầu đau tháng ngày/ Và chúng con hôm nay…/ Lại nghe hát ru con bên nôi/ Mẹ lại kể câu chuyện ngày xưa/ Mẹ đẹp mãi…/ Mẹ Việt Nam anh hùng” (Bài hát “Mẹ Việt Nam anh hùng” - An Thuyên). Lời ca vang lên như một sự tổng kết tôn vinh đầy thành kính và rẩt đỗi tự hào.
Nhìn một cách tổng thể, hình tượng người mẹ trong âm nhạc cách mạng không đơn lẻ, tách rời mà là một dòng chảy liên tục, một bức tranh toàn cảnh mang tính sử thi sâu sắc. Từ những người mẹ nghèo vá áo ở miền Bắc đến những mẹ “tay không thắng giặc” ở miền Nam; từ mẹ đào hầm ở vùng ven nông thôn đến mẹ bám trụ nơi hẻm phố Bàn Cờ; từ những giọt nước mắt khóc thầm lặng lẽ đến tiếng ru da diết thời bình... Tất cả hình ảnh người mẹ qua những bài ca ấy, đã hợp thành một biểu tượng vĩ đại: Mẹ Việt Nam anh hùng.
K.D
(Nguồn: TC VNNB số 321 - 07/2026)