Chủ nhật, 17/05/2026

Một câu chuyện đậm tính nhân văn

Thứ năm, 16/04/2026

NGUYỄN THỊ BÌNH

 

Đọc Trăng khuya của Trần Hồng Giang (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình số 297, tháng 9/ 2024), tôi không những thích thú bởi chất nhân văn của câu chuyện, mà còn bởi giọng kể ma mị cuốn hút, lối văn mạch lạc, khúc chiết... Truyện đưa người đọc vào một không gian làng quê chừng như yên ả, có bến sông, “dưới trăng khuya thanh vắng, tĩnh lặng… Dưới ánh trăng mặt sông lăn tăn ánh lên những vệt sáng lấp lánh như dát bạc”.

Nhưng không gian lãng mạn ấy không phải là nơi hẹn hò, tình tự của những trai thanh, gái lịch trong làng, mà đối với Ngần (nhân vật chính), thì đó chính là nơi cô “Được thoát khỏi cái gông cùm vô hình lúc nào cũng xiết chặt lấy mình”- nơi khởi nguồn một mầm sống, là hạnh phúc “trời ban”, mà những người bất hạnh như Ngần có được. Cho dù hạnh phúc đó không bắt nguồn từ tình yêu, thì ít ra, nó cũng giải tỏa nỗi khát khao sinh lý bình thường và rất đỗi tự nhiên của một người phụ nữ đang ở độ hừng hực căng tràn…

Ngần là gái có chồng. Chuyện chồng con của Ngần tưởng là “chuột sa chĩnh gạo” bởi “Có phúc mới được làm thông gia với một nhà gia thế khá giả…”. Nhưng không phải vậy. Số là gia đình Ngần rất nghèo, bố lại đau ốm quanh năm, nên cô phải nghỉ học để gánh vác việc nhà. Nghỉ học chưa đầy một năm, Ngần đã phải miễn cưỡng chấp nhận lấy chồng. Cô bị ép gả vào một gia đình khá giả. Đám cưới diễn ra nhanh chóng gấp rút: “Từ lúc hỏi đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn trong một tuần…”. Mong muốn con mình được gả vào gia đình giàu có sau này được ấm thân của bố mẹ cô, xem ra không thực tế chút nào. Bởi cưới nhau được ít ngày, vợ chồng Ngần được bố mẹ chồng dựng cho một căn nhà ba gian mái bằng và cho ra ở riêng. Suốt ngày Ngần phải tối mắt với bao nhiêu công việc, không có giây phút nào ngơi nghỉ. Nhưng đó chưa phải là bất hạnh, mà bất hạnh nhất đối với cô là lấy phải người chồng lêu lổng,“ăn chơi trác táng, sống dựa vào bố mẹ,” cả ngày chỉ thích tụ tập bạn bè chọi gà và chơi phỏm ngoài thị trấn. Lấy vợ rồi Thi (chồng Ngần) không hề thay đổi, vẫn chứng nào tật ấy. Buồn hơn là khi Ngần đem chuyện này nói với bố mẹ chồng, ông bà không những không nghe, lại còn bênh con vô lối, coi đó là việc đương nhiên của đàn ông. Từ đó, Ngần chỉ biết âm thầm nhẫn nhục chịu đựng với một niềm tin rất mong manh “may đâu có lúc chồng nghĩ lại”.

Nhưng cái mong ước giản dị ấy của Ngần không bao giờ thành hiện thực. Trong một cuộc nhậu nhẹt bù khú, say xỉn cùng bạn bè, Thi bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, bệnh viện trả về vì chấn thương sọ não quá nặng, không có khả năng phục hồi. Ngày lại ngày, tất tật việc chăm sóc người chồng “thực vật” đều dồn vào một tay Ngần. Đã thế cô còn luôn bị mẹ chồng để ý, xét nét đủ điều: “Những cái lườm nguýt thường xuyên của bà làm Ngần luôn giật mình thon thót. Cô thấy đầu óc mình căng ra như dây đàn và tưởng như có thể đứt phựt bất cứ lúc nào…” Ngần luôn có cảm giác như người đang sống dưới địa ngục: “Khoảng thời gian trong ngày Ngần cảm thấy thoải mái dễ chịu nhất là vào lúc trời đêm khuya khoắt...”. Đó là lúc cô được là chính mình, được thoải mái làm những gì mình muốn, được “Ngâm mình xuống làn nước mát rượi mà vùng vẫy quẫy đạp” để trút bỏ hết những bức bách trong lòng. Đoạn văn trữ tình giàu chất thơ này, là sự chuẩn bị cho tình huống trớ trêu Ngần gặp phải nơi bến sông. Và như vậy, nó làm cho “tội lỗi” mà cô mắc phải chỉ còn là “nỗi khát khao sinh lý bình thường” của một người phụ nữ lòng đầy u uất được giải phóng. Ở đây, tác giả khá cao tay khi không cho người đọc biết người đàn ông ấy là ai, bởi điều này không quan trọng, mà quan trọng hơn, vòng tay xiết chặt của người ấy đã giải tỏa nỗi khát khao kìm nén của một người phụ nữ, đã hơn nửa năm không được ân ái với chồng, chỉ biết chăm sóc hầu hạ “cái thân xác vô hồn của Thi”. Đã thế, cô còn phải chịu bao nhiêu áp lực từ mẹ chồng. Cái thời khắc “oan nghiệt” trong đêm trăng khuya khoắt ấy, đã thay đổi nhận thức và cuộc sống của Ngần, từ một con người chỉ biết thụ động chịu đựng, cô trở thành một người mẹ đầy trách nhiệm, biết bảo vệ hạnh phúc của mình.

Thật ra, khi đang có cơ hội được giải tỏa, Ngần chợt sững lại: “Ngần biết thế này là có tội với Thi, là không giữ được phẩm hạnh của người con gái đã có chồng…”. Nhưng rồi bản năng đã chiến thắng lý trí. Một phút không kiềm chế được cảm xúc, cô đã bước qua ranh giới mong manh của đạo đức mà “lả đi trong cơn hoan lạc tự nhiên của con người”. Biết mình có tội, Ngần càng nơm nớp lo sợ từ mọi phía: “Ngần sợ ánh mắt đầy vẻ dò xét của mẹ chồng mỗi khi nhìn mình. Sợ cả tiếng khò khè đều đều của chồng vang trong đêm. Sợ lúc nhỡ đâu bất ngờ Thi có thể tỉnh lại…” Ngần sợ việc mình ngoại tình sẽ bị bại lộ, và khi ấy sẽ thành chủ đề cho người làng đàm tiếu… Cuộc đấu tranh nội tâm của Ngần diễn ra giằng xé quyết liệt. Có lúc cô muốn bỏ đứa bé, nhưng bản năng tự nhiên của người mẹ không cho phép cô làm điều đó. Có lúc cô muốn bỏ đi nhưng lại lo ai sẽ chăm sóc chồng? Đầu óc cô nhiều lúc muốn phát điên. Thế rồi, trong cô cũng lóe lên một ý tưởng và cô đã thực hiện: Thoáng thấy bóng mẹ chồng, “Ngần nhanh chóng lột hết quần áo của mình và của chồng ra, sau đó nằm xuống bên cạnh ôm riết lấy cái thân xác vô hồn của Thi…” làm như mình đang ân ái với chồng. Cứ nghĩ làm như thế là lừa được mẹ chồng, cho nên lòng cô mừng khấp khởi.

Nhưng màn kịch mà Ngần dựng lên, may ra chỉ đánh lừa được cảm giác ngoại tình của cô, chứ làm sao qua được ánh mắt sắc lạnh, cùng kinh nghiệm có thừa của bà mẹ chồng? Bụng cứ to dần, cô không có ý định giấu diếm nữa, mà khoe với mọi người đầy vẻ tự hào rằng:“Đấy là trời thương mà ban lộc cho vợ chồng cô”. Làng xóm cũng xì xèo bàn tán bởi không phải ai cũng dễ tin như vậy, có người còn lấp lửng “Khéo nhà ấy lại nuôi con tu hú”… Sống trong tình cảnh ấy, Ngần lo sợ đến mất ăn mất ngủ:  “Khi Ngần mang thai đến tháng thứ bảy thì Thi từ giã cõi đời. Cái chết của Thi làm Ngần nửa mừng nửa lo. Dù điều đó được xem như sự giải thoát cho cả Thi và Ngần nhưng tự đáy lòng cô vẫn thấy xiết bao thương cảm…”. Cô hy vọng cái thai không phải của Thi sẽ không bị phát hiện. Nhưng cô không thể ngờ, mọi hành động của cô đều không qua được mắt mẹ chồng. Vài lần, bà khi thì thẳng thắn khi thì bóng gió để Ngần biết rằng “Nếu không phải máu mủ nhà tôi thì liệu mà bỏ đi nhá…”. Bà còn ra đòn tâm lý rằng, sẽ nhờ ông chú là bác sĩ xét nghiệm dòng giống khi đứa bé chào đời. Đòn tâm lý của bà quả là hiệu nghiệm, “Ngần thấy mặt mày xây xẩm. Một cảm giác choáng váng ập đến làm cô rụng rời tay chân.” Vậy là mọi chuyện đã vỡ lở, Ngần không còn lý do gì ở lại nữa, cô quyết định bỏ nhà định tìm đến một khu công nghiệp lớn phía Nam để lập nghiệp, sinh con.

Cuộc ra đi đầy khó khăn của một người phụ nữ bụng chửa vượt mặt, vào một đêm trăng suông nơi bến quê là một quyết định chẳng dễ dàng gì. Nhưng với Ngần, đó là bước đường cùng, là cách tốt nhất cho cuộc đời cô lúc ấy. Nhìn lại phía sau, nơi có căn nhà mà cô và Thi đã chung sống những ngày tháng vợ chồng, một thoáng ngùi ngùi và cô lại dấn bước. Nhưng một tình huống cô không thể ngờ đã xảy đến, đó là sự xuất hiện của người mẹ chồng khiến “Ngần choáng váng, đứng chết chân tại chỗ”. Như người làm việc khuất tất bị bắt quả tang, khỏi phải nói cô lo sợ đến thế nào trước sự hiện hữu đột ngột của mẹ chồng. Cô càng lúng túng, và bối rối, khi bắt gặp thái độ thản nhiên “không ra vẻ trách cứ, bực bội, nhưng cũng không có vẻ gì là vồ vập”. Cùng với cử chỉ là thái độ, bà đã không trả lời cô, lại còn đứng chống nạnh, hất hàm với giọng đầy trịch thượng: “Chị định đi đâu?” “Về bên ấy sao lại đi lối này”?. Ngần ấp úng không biết phải thanh minh thế nào: Cô “Cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay nắm vào nhau vặn vẹo một cách khổ sở…” Ngần chờ đợi cơn thịnh nộ sẽ trút lên đầu cô.

   Nhưng không, qua đoạn đối đáp của hai mẹ con, cho thấy bà rất hiểu chuyện. Bà không trách mắng cô mà lại có một hành động khác xa bản tính thường ngày, bà nói với cô giọng tỉnh bơ: “Thôi, đi về nhà đi”. Câu nói ngắn gọn ấy đã mở nút thắt cho cuộc đời Ngần. Tuy nhiên, là người biết tự trọng, Ngần vẫn cố xin mẹ chồng cho phép mình được ra đi vì cô biết, đứa con không phải là cháu bà, bà sẽ không chấp nhận. Nhưng Ngần không thể ngờ là từ lâu bà đã biết hết mọi chuyện, mà vẫn giả vờ làm ngơ: “Dù con của chị là máu mủ nhà ai đi nữa thì nó sẽ là con cháu nhà tôi, nghe chưa?”. Câu nói của bà “như một mũi kim vừa xuyên vào trúng tử huyệt của mình”. Nghe mẹ nói, Ngần vẫn chưa tin và càng lo sợ khi nghĩ rằng, bà bắt cô quay trở về để có cớ hành hạ mình, nên cô lấy hết can đảm đối diện với mẹ chồng, đối diện với sự thật và quyết tâm ra đi, bởi cô thấy mình không còn mặt mũi nào mà ở lại nhà chồng nữa. Như có một phép màu, lời nói và cử chỉ đầy yêu thương, cảm thông của mẹ chồng khiến lòng cô chùng lại: “bà vòng tay ôm lấy đôi vai đang rung lên bần bật của Ngần và vẫn cái giọng nhấm nhắng bà bảo: Sao mà phải khóc? Ông trời đã sắp đặt thế rồi thì mình cũng chẳng nên cưỡng lại làm gì? Giờ chị toan cất bước tha phương như thế rồi thì ai biết hay dở thế nào? Thân gái dặm trường, bụng mang dạ chửa như thế này, chị tưởng đơn giản lắm đấy phỏng? Rồi chị cũng phải nghĩ cho bố mẹ chị, cho cả tôi nữa chứ?”. Nghe những lời nói ấy, Ngần vẫn ngờ ngợ không dám tin. Nhưng bà đã thuyết phục được cô ở lại, mặc dù quyết định của bà chắc chẳng dễ dàng gì khi phải chấp nhận “nuôi con tu hú”. Bà tin đó là do ông trời sắp đặt. Lòng tin ấy giúp bà bỏ qua lỗi lầm của con dâu, chấp nhận đứa cháu không phải máu mủ nhà mình. Và hơn thế, bà còn tiếp thêm sức mạnh cho con dâu để cô có thể ngẩng cao đầu mà sống. Bà yêu cầu cô phải giữ kín chuyện này, “kể cả bố mẹ chị cũng không được biết, con chị đẻ ra nó sẽ là cháu tôi”. Cái lý lẽ đầy tính nhân văn bà đưa ra “cá vào ao ta thì ta được” có vẻ rất phù hợp với tình thế của Ngần và của gia đình bà lúc này. Đây là giải pháp tốt nhất vẹn cả đôi đường. Nó mở ra cho mẹ con Ngần một tương lai. Bên cạnh đó, nó cũng tránh được tiếng xấu với làng xóm.

Việc người mẹ chồng tiếng là tinh đời và rất hay săm soi, xét nét, bỗng chốc thay đổi nhận thức và thái độ, dang rộng vòng tay đón người con dâu lầm lạc trở về, là một nghĩa cử cao đẹp đậm chất nhân văn. Những lời bà nói với Ngần chứng tỏ bà vừa thấu hiểu đạo lý, rất yêu thương con dâu, lại biết nhìn xa trông rộng. “Thương con ngon rau”, tình thương của bà đã vượt qua những mặc cảm của bản thân, mà chấp nhận sự thật, cho dù sự thật có phần nghiệt ngã. Đoạn kết truyện tả về ánh trăng khuya: “Trăng khuya vẫn dan dãi trải trên bến sông, phủ những ánh vàng mưới mát lên dáng hình hai người đàn bà một già một trẻ nhìn giống như vầng hào quang tỏa ra từ hai pho tượng thần nữ…” là một cái kết đẹp, có sức lay động và ám ảnh.

Trăng khuya của Trần Hồng Giang là một truyện ngắn hấp dẫn. Truyện đầy ắp sự kiện, biến cố và được kể bằng giọng văn mạch lạc, bàng bạc chất thơ. Có lẽ đi theo mạch nhân văn của truyện, nên tình tiết có chỗ còn khiên cưỡng, nhưng người đọc vẫn có thể chấp nhận được (tình tiết Ngần đóng kịch lừa mẹ chồng, ngủ với chồng, trong khi chồng cô bị chấn thương tủy và sống thực vật). Bởi lẽ, chỉ có “đối phó” như vậy mới làm cho Ngần tạm yên tâm, để quên đi giây phút không tự chủ được ngoài bến sông, mà phục vụ chồng. Tuy nhiên, cái kết đầy tính nhân văn của câu chuyện mới là điều quan trọng. Nó giúp cho người ta biết yêu thương nhau và bỏ qua lầm lỗi để vun trồng cho sự sống. Đó chính là lòng tin vào những điều tốt đẹp vẫn có trên đời…

(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)

Bài viết khác