Chủ nhật, 25/01/2026

Một sự nổi loạn đằm thắm (Đọc tập truyện ngắn “Hành trình của tờ tiền giả” của Y Ban - NXB Hội Nhà văn, 2010)

Thứ bảy, 20/12/2025

TẠ THỊ SỰ  

 

Cách đây chưa lâu, tôi được đọc cuốn tiểu thuyết “Xuân - Từ - Chiều” của nhà văn Y Ban, tôi thực sự bị ám ảnh bởi số phận bất hạnh của ba người đàn bà trong tác phẩm.

Và tôi rất ấn tượng với cái táo bạo như là một sự đột phá của Y Ban trong lối viết tiểu thuyết một mạch không xuống dòng, một lối viết không giống ai, “câu chữ  được kết thành một mảng như bè rau muống”.Đọc xong cuốn tiểu thuyết này, ấn tượng chung choáng ngợp trong tôi về Y Ban - đó là một nhà văn nữ nổi loạn. Nổi loạn trong lối viết khác người; nổi loạn trong việc đưa các chi tiết ngồn ngộn chất hiện thực của cuộc sống sinh hoạt đời thường, đặc biệt là việc đưa yếu tố sex, yếu tố tục vào trong tác phẩm; nổi loạn trong cách kể tưng tửng như một người đàn bà ngồi lê đôi mách… Nhưng ẩn đằng sau sự nổi loạn ấy là một trái tim biết hòa chung nhịp đập với những kiếp đời bất hạnh, sâu sắc và đằm thắm tình người đến lạ lùng và cảm động. Đúng là một sự nổi loạn đằm thắm.

Đến hôm nay, tôi lại gặp Y Ban qua tập truyện ngắn “Hành trình của tờ tiền giả”. Đọc xong, tôi hài lòng với kết luận trên của mình. 

Tập truyện ngắn “Hành trình của tờ tiền giả” được ra mắt bạn đọc vào đầu xuân 2010 do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Tên sách được lấy từ tên một truyện ngắn trong tập. Cả tập gồm 14 truyện ngắn trong đó xuất hiện những truyện với số chữ rất ít chỉ trên dưới 1000 chữ như “Hoa gạo rụng”, “Đi câu mực ở Sầm Sơn”… nhưng lại dồn nén những câu chuyện mang nhiều dấu ấn của thời cuộc. Qua 14 truyện ngắn này, tác giả không có ý định đưa ra một thông điệp cụ thể nào, khi đọc nó người đọc sẽ tự tìm ra thông điệp của chính mình.

Ấn tượng đầu tiên về sự nổi loạn là sự táo bạo trong việc đưa các chi tiết vào truyện. Đó là các chi tiết mà tác giả đã nhặt nhạnh được trong cuộc sống tất bật hàng ngày, khi đi làm, lúc đi chợ, lúc đưa con đi học và trong cả những ký ức vui buồn. Nó được thể hiện bằng những câu chữ giản dị dễ hiểu, tác giả không làm xiếc với các con chữ, cũng không đánh bóng làm duyên. Các yếu tố sex được đưa vào tác phẩm rất khéo, không hề gợi dục. Thậm chí những câu nói tục cũng được sử dụng một cách nhuần nhị dân dã. Tục mà thanh bởi nó phảng phất hương vị đậm đà hồn nhiên của dân gian, những câu nói cửa miệng của người dân quê mộc mạc chất phác (Đất làng Cam). Nhưng phải thừa nhận các yếu tố này đã đạt đến sự đắc địa trong mỗi câu chuyện để tác giả thể hiện nội dung tư tưởng. 

Sự nổi loạn của Y Ban còn thể hiện trong cách đưa tình huống trái ngược nhau trong cùng một truyện và trong nhiều truyện với nhau. 14 truyện ngắn như những lát cắt với nhiều góc, nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau của đời sống xã hội. Đọc nó ta luôn bắt gặp cuộc sống hôm nay, ngỡ như những hình ảnh, những câu chuyện, những số phận ấy đang quanh quất đâu đây. Đặc biệt là thân phận đàn bà hiện lên mồn một như hiện thực cuộc sống vốn có của nó. Đúng như lời nhận xét của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên “Tác phẩm của chị giàu có những hình ảnh lam lũ đàn bà, vất vả đàn bà nhưng cũng rất thương cảm đàn bà”. Tiêu biểu cho lối viết này là truyện ngắn Hoa gạo rụng, Chị Quy, Danh dự…

Đọc “Hoa Gạo rụng” người đọc xót xa thương cảm cho thân phận của người chị Cả nghèo khổ. Nghèo đến mức “thui chột các mầm lớn trong cơ thể”. Nghèo nhưng không hèn bởi lẽ trong xã hội có quá nhiều kẻ “no đủ trong sự dối trá và suy đồi” thì chị thật hạnh phúc vì mình không phải bon chen, vẫn được gần gũi với thiên nhiên, và nhất là được làm, được hưởng những gì mình thích. Một câu chuyện về cái nghèo nhưng tác giả lại đem đến cho người đọc một bài học nhân sinh: ở đời dẫu nghèo nhưng đừng hèn. Và nghèo - hèn là một cặp phạm trù không phải lúc nào cũng phải đi đôi với nhau.

Nhưng lại có tình huống khác trái ngược với điều đó. Trong truyện ngắn “Danh dự” chị đưa ra hai tình huống trái chiều. Vì danh dự mà một người cha đã mổ bụng moi tim con trai của mình… câu chuyện ngày xưa này được đặt bên cạnh câu chuyện ngày nay: một người mẹ - một mậu dịch viên vì thương con đã ăn cắp một miếng thịt nhỏ dắt vào cạp quần ngay trong hội thi mậu dịch viên giỏi. Hành động ấy đã phải trả giá bằng việc bị đuổi khỏi biên chế nhà nước - một hình phạt cao nhất trong thời bao cấp: vừa mất đi cái ăn để tồn tại, vừa mất danh dự để sống với cộng đồng.

Trong khi người cha kia vì sợ mất danh dự mà cướp đi cuộc sống của đứa con, thì người mẹ này vì cuộc sống của những đứa con mà hy sinh danh dự của mình. Trong khi người đàn bà trong “Hoa gạo rụng” chấp nhận cái nghèo nhưng không chịu hèn, thì người mẹ trong truyện “Danh dự” lại chấp nhận làm một việc hèn vì thương con đói khổ. Đến với các tình huống trái chiều đó, người đọc bị ám ảnh day dứt: Vậy danh dự là cái gì nếu như đó không phải là những nhận thức, những hành vi phù hợp với quy luật tình cảm muôn thuở của con người. Tôn trọng quy luật khách quan, tôn trọng quy luật tình cảm là sự tự trọng lớn nhất và mạnh nhất. Đó là Danh dự theo đúng nghĩa viết hoa. Bởi vậy, ở đây người đọc dễ dàng chấp nhận việc làm của người mẹ nọ, đó chẳng phải do cái tình đằm thắm yêu thương của Y Ban dành cho nhân vật người đàn bà của mình đã chinh phục được người đọc đó sao? Cách lí giải của tác giả trong các tình huống trên đã đem đến cho ta một bài học về nhân tình thế thái. Phải chăng khi đưa các tình huống đối lập trái chiều như vậy, Y Ban muốn giúp người đọc nhận ra diện mạo cuộc sống với những giá trị thật của nó để từ đó con người sẽ sống đẹp hơn. Đó là giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Sự nổi loạn của Nhà văn nữ còn được thể hiện ở bản lĩnh của người viết - ở đó giá trị tố cáo những cái xấu, cái ác, cái giả được bóc trần, phanh phui một cách quyết liệt. Đọc “Chị Quy” ta cảm nhận dường như Y Ban viết ra từ nỗi đau trong tâm hồn người đàn bà luôn khát khao một tình yêu, hạnh phúc mái ấm gia đình. Bởi vậy tác giả phản ứng quyết liệt đối với phái mày râu. Với chị, họ là đầu mối của mọi nỗi khổ đau bất hạnh của đàn bà. Chị Quy hiền lành xinh xắn, 17 tuổi đã được gả chồng. Mang tiếng lấy chồng nhưng thực ra là người ở không công. Chín năm làm dâu nhưng chín năm vẫn là con gái, chín năm khát khao làm vợ. Khi được chồng ban cho cái hạnh phúc hết sức bình thường ấy chị đã mãn nguyện ra đi. Với lối kể giản dị cùng các chi tiết dân dã đằm thắm tình người mà rút ruột rút gan người đọc, Y Ban đã để cho nhân vật đi vào cõi vĩnh hằng, kết thúc chuỗi bi kịch đau thương của một kiếp đàn bà. Phải chăng để cho nhân vật chị Quy chết trong hoàn cảnh này, nhà văn muốn đặt vấn đề với độc giả: hạnh phúc liệu có phải là một sự ban phát, một lần thỏa mãn xác thịt như chị Quy hay không, hay đó chỉ là một sự an ủi trước khi được giải thoát? Cái chết của người đàn bà trong câu chuyện chính là lời lên án mạnh mẽ nhất, một đòn đau giáng vào tư tưởng trọng nam khinh nữ còn rớt lại trong xã hội hôm nay. Thông điệp giàu ý nghĩa nhân sinh: hãy trân trọng những gì mình có, hãy khám phá hạnh phúc ở chính những người gắn bó nhất với mình để không phải ân hận nuối tiếc và không bao giờ phải giật mình. Tuy vậy chúng ta vẫn tôn trọng những ai có những phút giật mình - chợt thức để mỗi ngày biết sống đẹp hơn.

Hồn quê vừa quen thuộc nhưng không kém phần tươi mới bởi nó đã được lột xác qua độ chín của ngòi bút tài hoa Y Ban. Có lẽ đây là cách khôn ngoan nhất để chị tiếp cận với độc giả. “Đất làng Cam” đã thể hiện rõ điều này. Câu chuyện kể về một vùng quê trong thời buổi đang đô thị hóa, ở đó đã phơi bày tất cả hiện thực đau lòng của nó: con người bị tha hóa trong quá trình biến đổi ấy. Một người đàn bà góa bụa cam chịu đêm đêm bị những gã đàn ông trong làng gạ gẫm, nếu được thỏa mãn gã sẽ trồng cho một cây… cam; cây cam ấy bị chặt đi khi gã bị cự tuyệt… Ở đó đang có những dự án… những dự án ấy sinh ra những người chức trách có tiền tấn tiền tỷ, ăn rồi kéo nhau đi nghỉ mát bỏ mặc giống cam quý đang tuyệt chủng, bỏ mặc những khát vọng của người dân làng Cam muốn trở lại với cuộc sống dân dã yên bình, muốn có những cây cam ngọt trĩu cành sai quả... “Bây giờ không còn đất để trồng cam nữa rồi. Làng Cam ơi làng Cam”. Tiếng kêu của người dân làng Cam hay là tiếng kêu của chính tác giả? Nó như báo hiệu một sự bùng nổ trước cảnh làn sóng đô thị hóa đang vùi dập những giá trị thật, những giá trị văn hóa làng quê mà người dân gìn giữ tự bao đời. Nguy cơ mất đất, mất làng, mất đi vẻ đẹp yên ả của những miền quê phải chăng là thông điệp giàu ý nghĩa nhân sinh và mang nặng dấu ấn thời cuộc mà người đọc tìm thấy qua câu chuyện “Đất làng Cam”. Nỗi đau kín đáo ấy chẳng phải bản thân nó vẫn vẹn nguyên cái tình đằm thắm của ngòi bút nhân đạo đó sao?

“Dây tơ hồng” là câu chuyện về một loài cây nhìn bề ngoài óng ả nhưng thực chất lại xấu xa thấp hèn bởi nó sống kí sinh trên thân thể kẻ khác. Nó sống bằng sự sống của kẻ khác. Nó chỉ chết khi kẻ bị nó bóc lột đã chết. Truyện được xây dựng và phát triển trên thành mạch của câu chuyện tâm tình giữa hai bà cháu. Tác giả để cho đứa cháu ngây thơ thốt ra lời nhận xét: “…Cháu đã nghĩ rằng đó là sự chuyển đổi sức sống này sang sức sống khác ngang bằng và đẹp đẽ”. Nội dung lời nhận xét hết sức hoa mỹ này liệu có phải của một đứa trẻ ngây thơ? Tác giả đưa ra tình huống để người đọc phải tự trả lời. Đó là sự cảnh báo về nguy cơ nhận thức những giá trị thật giả của các vấn đề trong cuộc sống hiện nay.

Vẫn khai thác thế mạnh là khả năng nắm bắt những vấn đề thời sự, những câu chuyện nóng hổi trong cuộc sống hiện tại, truyện ngắn “Hành trình của tờ tiền giả” kể về cuộc phiêu lưu của một tờ tiền giả. Nó đã đi qua tay đủ mọi loại người trong xã hội. Qua đó nhà văn phản ánh cuộc sống còn lắm sự dối trá nhưng lại được che dấu sau cái vẻ hào nhoáng bên ngoài. Thật giả lẫn lộn, đan xen, trà trộn trong nhau. Người thật thà tưởng là tiền thật, còn kẻ giả dối biết là tiền giả nhưng vẫn tiếp tục sử dụng nó mưu lợi cho mình. Cái giá trị thật giả biến ảo đến bất ngờ. Người đàn bà nghèo khó cầm đồng tiền đi trả nợ, đứa học trò cầm đồng tiền đến trả công thầy và ông giáo già trân trọng đồng tiền… vì cả ba người đều tưởng là tiền thật. Vậy ra xã hội ngày nay vẫn có đất sống cho cái giả tồn tại và hoành hành tác oai tác quái. Nó luôn được che đậy đội lốt bởi cái vẻ hào nhoáng bóng bẩy bên ngoài. Nhưng trong tâm niệm của những người chân chính thì “Mày sẽ bị nghiền nát, nhừ tơi, mày sẽ thành con số không chứ không phải là giá trị mà mày đang đội lốt.” Cái giả có cả một hành trình tồn tại dai dẳng, thậm chí nó còn được một bộ phận người trong xã hội trọng dụng, bảo kê cho nên có những lúc cái giả đã thắng thế: “A ha ha, tôi sẽ thành con số không ư? Không. Tôi sẽ gấp nhiều lần giá trị mà tôi đang đội lốt…”. Bởi vậy phanh phui, bài trừ cái giả chẳng dễ dàng chút nào. Đủ thấy sự phản kháng quyết liệt với cái xấu, nỗi trăn trở đau đáu trước cái giả… đã làm nên sự nổi loạn trong trang văn của Y Ban. Nhưng Y Ban trân trọng những giá trị thật của cuộc sống, xót xa thương cảm những số phận long đong của con người, khát khao hạnh phúc bình dị… Những điều đó làm nên sự đằm thắm trong từng câu văn. Với cách kể tưng tửng hồn nhiên như người ta nói chuyện với nhau. Dường như Y Ban đang đối thoại với từng người đọc và muốn góp với đời những câu chuyện thường ngày như nó vẫn đang tồn tại trong cuộc sống chứ không phải là người kể chuyện. Văn của Y Ban đã đi thẳng vào tâm hồn người đọc không cần qua nhiều mũ áo của ngôn từ. Ẩn đằng sau nó phảng phất nụ cười rất duyên và… hóm hỉnh!

Có ý kiến cho rằng ở một vài truyện hình như Y Ban hơi cường điệu và còn giản đơn quá trong kết cấu… Giá như tác giả lắng lại một chút trong các khúc đoạn tâm trạng của nhân vật thì tác phẩm có thể sẽ đầy đặn hơn. Nhưng tôi thì lại cho rằng cách kể người, kể việc tưng tửng như vậy mới đạt đến độ dân dã, hồn nhiên, có duyên… và thế mới là Y Ban. 

                                      T.T.S

(Nguồn: TC VNNB số 312 - 11/2025)

Giữa trời non nước                                                                                                                                                                    Ảnh: TRUNG KIÊN

Bài viết khác