NINH ĐỨC HẬU
Nhà thơ Đinh Hữu Niên sinh năm 1939 trong một gia đình thuần nông có truyền thống hiếu học. Tuổi thơ của ông luôn lênh đênh trên chiếc thuyền nan, lặn lội “mò cua bắt ốc” trong rong rêu, lộc bình. Nhưng rồi cuộc đời như cây trang, cây súng, dẫu có long đong sấp ngửa vẫn vươn lên nổi trên mặt nước. Năm 1964, Đinh Hữu Niên có bài thơ đầu tay được in trên báo “Nông thôn ngày nay” đó là bài thơ viết về quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của ông: làng Chòm Hạ, thôn Danh Động, xã Gia Phong, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Gia Phong, tỉnh Ninh Bình).

Nhà thơ Đinh Hữu Niên báo cáo tác phẩm tại trại sáng tác
Văn học nghệ thuật Ninh Bình, năm 2017
Hồi trẻ Đinh Hữu Niên xung phong đi bộ đội nhưng vì sức khỏe yếu ông phải ra quân sớm. Trở về địa phương ông tiếp tục học tập, và rồi ông là một trong những người hiếm hoi của xã Gia Phong ngày ấy đỗ vào trường sư phạm. Tốt nghiệp ông về dạy học tại quê hương cho tới năm 1975 chuyển công tác về các trường cấp 1- 2 ở thành phố Ninh Bình (cũ) cho đến khi nghỉ hưu.
Nhà thơ Đinh Hữu Niên gắn bó, say mê văn học từ lúc còn là một cậu học trò cho đến khi ông “bay về miền mây trắng”. Ông là người làm văn học cần mẫn, siêng năng, không hề tính toán vụ lợi. Tài sản văn học của ông để lại tuy không đồ sộ nhưng cũng không phải là mỏng mảnh. Nhà thơ Đinh Hữu Niên đã được xuất bản những tập thơ; Hoa màu tím (Nxb Thanh niên, 1998), Lá Màu xanh (Nxb Thanh niên, 2006) Nắng gió thời gian (Nxb Văn học, 2011), và các tập truyện ký Năm tháng đời người (Sở Văn hoá thể thao – Ninh Bình, 2000), Tuổi xuân và cuộc đời (Sở Văn hoá thể thao – Ninh Bình, 2003), Đời người còn lại (Sở Văn hoá thể thao – Ninh Bình, 2006). Ngoài các tác phẩm in riêng ông còn tích cực tham gia biên tập nhiều tập thơ, truyện in chung, nghiên cứu biên soạn một số cuốn sách lịch sử Đảng bộ địa phương. Nhiều tác phẩm của ông đã giành được những giải thưởng, tiêu biểu như: Truyện ngắn Người quản trang giải Ba viết về đề tài thương binh, do Báo Giáo dục và Xã hội trao năm 2001. Tác phẩm nghiên cứu: Một vòng văn hóa gắn với lịch sử Cố đô Hoa Lư, giải Ba do Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình trao năm 2004. Đặc biệt ông đã hai lần đạt 02 giải Khuyến khích Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Trương Hán Siêu được tổ chức 5 năm một lần do UBND tỉnh Ninh Bình (cũ) trao tặng với các tác phẩm: Tập truyện ký Năm tháng đời người giai đoạn (1996 - 2001); Tập truyện ký Đời người còn lại giai đoạn (2001 - 2006).
Trong quá trình sáng tác, Đinh Hữu Niên dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ. Với ông, thơ là “Hồn”, cái “Hồn” ấy phải được thể hiện trên chất liệu của giá trị “Chân, Thiện, Mỹ”. Thơ của ông viết nhiều về quê hương, về những mảnh đời còn nhiều bất hạnh. Quê ông trước đây là vùng thấp, trũng nhất của huyện Gia Viễn (cũ), hàng năm có mùa chìm trong lụt lội. Câu thơ đầu đời ông viết: “Làng Chòm như một cái ao/ Chớm mưa nước chở trăng vào đầy sân…”. Còn những người xung quanh lặng lẽ vào thơ ông như những nốt trầm buồn: “Nửa năm con đò xuôi ngược/ Miếng cơm trời cướp trốc tay…” hay: “Ngón tay chải tóc đã mòn/ Đơn côi đánh đổi thành hòn vọng phu…”. Nhà thơ Đinh Hữu Niên cho rằng: Người cầm bút trước hết phải có tấm lòng nhân hậu. Những câu thơ của ông như: “Có những người vợ/ hóa hồn thành lửa thắp nhang/ nước mắt lăn tròn trên má/ khắc vào đời nỗi nhớ khuôn nguôi…” hoặc thể: “Vì quá yêu nên nhận lời trách móc/ Chuyện hai đứa cũng chỉ bằng khóe mắt/ Không nỡ đèo bòng biết phải đi xa…” đã thể hiện phần nào cảm nhận của ông về thơ. Cả trong ba tập thơ đã xuất bản: Hoa màu tím, Lá màu xanh, Nắng gió thời gian đều có những bài thơ rất thành công được độc giả đón nhận. Sở dĩ ông được công chúng, bạn đọc đón nhận bởi thơ ông luôn đề cập nhiều những giá trị chân thật, về những con người biết hy sinh cái riêng, về những số phận bươn trải nhọc nhằn, về những người cả đời sống trong hiu quạnh. Ông viết để chia sẻ nỗi niềm đồng cảm, làm khơi dậy trong họ những khát khao, ý chí vươn tới.
Một điểm đặc biệt khác đó là thơ viết về những người Mẹ của Đinh Hữu Niên cũng luôn gây được ấn tượng mạnh với người đọc. Đó là những nỗi niềm, những suy tư, trăn trở, giàu cảm xúc qua những bài thơ đằm thắm, ngọt ngào, vừa gần gũi, vừa thăm thẳm xa sâu, cô đọng, mang nhiều hình ảnh, có những phát hiện và khái quát...:"Cả đời mẹ với ruộng đồng/ Cả đời mẹ áo nâu sồng vậy thôi/ Lấp kín đồng giọt mồ hôi/ Ôm con mắt mẹ ngóng vời vợi xa...". Sự hy sinh của những người Mẹ Việt Nam anh hùng, không gì so sánh được, bởi người Mẹ suốt cuộc đời "Nhớ thương dồn nén chặt lòng/ Mẹ nằm bên lở của dòng sông trôi...". Người Mẹ, người vợ liệt sĩ "Chỉ mong cái mống chồi xanh nối đời", vậy mà, mống chồi xanh sinh ra đúng lúc đất nước còn chìm trong loạn lạc, thế là, vừa lớn lên nó đã: "Lại theo cha, lại vào nơi chiến trường...". Rồi nó theo cha ở lại nơi đất khách quê người, để lại người Mẹ: "...Sớm hôm ngấn đỏ tâm hương cầu giời...".
Mỗi người, dù đi đâu, làm gì và cho đến khi mái đầu đã nhuộm khói sương, thì vẫn trong lòng mình vang vọng lời ru của mẹ. Lời ru của mẹ là lời non nước, là hồn cốt quê hương. Lời ru của mẹ theo ta muôn dặm đường. Đưa ta vượt qua những gian khó cuộc đời. Lời ru ấy được "Gạn mưa, lọc nắng gom lành da non..." vẫn biết là như vậy, nhưng đúc kết cả cuộc đời, nhà thơ thốt lên: "Tóc con nay trắng cả rồi/ Mà chưa trọn lấy một lời mẹ ru."
Đinh Hữu Niên còn viết văn xuôi, nhiều truyện ký, ký, truyện ngắn của ông được bạn đọc chú ý. Truyện ký Năm tháng đời người viết về cụ Lương Văn Thư, một sĩ quan quân đội dũng cảm mẫu mực, truyện đã được Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng nhiều kỳ. Trong một lần ông được đi cùng với nhà báo truyền hình Nhật Bản Kitamujia và nhà báo Nguyễn Thanh (Vụ Báo chí - Bộ Ngoại giao) thăm hỏi những chiến sĩ quân đội, thanh niên xung phong bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam – điôxin ở tỉnh Ninh Bình, trực tiếp chứng kiến những hoàn cảnh, số phận đau thương mất mát thời hậu chiến, ông càng thấy thấm nỗi đau của những người lính, thanh niên xung phong đã hy sinh tuổi thanh xuân cho đất nước. Và ông đã viết tập truyện ký: Tuổi xuân và cuộc đời. Tập sách viết về lực lượng bộ đội nữ Trường Sơn, Ninh Bình, đây là tiểu đoàn bộ đội nữ độc nhất của cả nước được thành lập theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng. Ông đã trực tiếp gặp 22 chị trong tiểu đoàn, lấy tư liệu, đối thoại, phỏng vấn, để viết về sự hy sinh trong chiến tranh, và về cuộc sống của họ khi về với đời thường.
Cuốn truyện ký Đời người còn lại ông viết chung với nhà văn Lê Liêu, viết về Đại tá Trần Duy Thị, Phó tư lệnh bộ đội Đặc công với những chiến công lừng lẫy. Nguyên Ủy viên TW Đảng, cố Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình Tô Xuân Toàn đã nhận xét về nhà thơ Đinh Hữu Niên: “Bằng ngôn ngữ văn học các tác giả đã chắt lọc, trung thành với những sự kiện, tư liệu, xây dựng được một điển hình tiêu biểu giúp chúng ta có thêm niềm tự hào về những thế hệ đã đi qua… Thực tế đó đã một lần nữa khẳng định nguyên lí từ văn học đi vào cuộc đời và từ cuộc đời đi vào văn học luôn có mối quan hệ tương hộ lẫn nhau…”.
Với nhà thơ Đinh Hữu Niên, ông luôn là người chan hòa, hiền lành, chất phác, sống có trách nhiệm, tình thương yêu với vợ con, trân trọng tình cảm bạn bè. Dù cuộc sống còn có những khó khăn, thách thức ông vẫn lạc quan yêu đời. Ông hay nói vui: Cười là do “ham sống thêm”, mỗi lần cười là sống thêm được 5 giây. Cười chính là báu vật ông trời cho. Trong mỗi người đều có nỗi niềm riêng, ông bảo đời ông buồn nhiều hơn vui, chính vì lẽ đó ông hay cười, tiếng cười để tự an ủi. Hãy cố cười hồn nhiên, vô tư. Còn cười được ta cứ cười. Tiếng cười là tài sản quí giá của người yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống.
Giờ đây tiếng cười ấy đã ngưng lại. Xin được vĩnh biệt nhà thơ Đinh Hữu Niên.
N.Đ.H
(Nguồn: TC VNNB số 311 - 10/2025)

Bình minh Tam Chúc Ảnh: HOÀNG CHÍ THIỆN