Chủ nhật, 17/05/2026

NHÀ VĂN NAM CAO với số phận của người phụ nữ

Thứ tư, 18/03/2026

TRẦN VĂN ĐÔ 

 

Nhà văn Nam Cao, quê ở làng Đại Hoàng xã Hoà Hậu huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam (cũ) là một người rất nghèo tiền bạc nhưng lại rất giàu tình cảm. Bản tính hiền lành lương thiện khiến ông luôn yêu thương cảm thông với những số phận có hoàn cảnh éo le, nhất là những người phụ nữ.

Hồi ấy, ở làng Đại Hoàng có Lý V…, là người có học lại có “máu mặt", nhưng lại đối xử với con dâu rất tệ bạc. Bao nhiêu việc lớn việc bé trong nhà đều đổ lên đầu cô con dâu, nhưng quanh năm chị chỉ được mặc áo nâu quần vá. Một lần do quá ấm ức vì bị đối xử bất công chị đã gây xích mích với mẹ chồng. Biết chuyện, Lý V… bèn sai con trai đào một cái hố ở trước sân, bắt con dâu nằm úp cái bụng chửa - lúc này chị đã có mang 6 tháng - xuống hố. Lý V… vừa quất roi mây vào mông vừa quát tháo, bắt chị phải hứa từ nay mẹ chồng bảo gì nghe đấy, bảo sao làm vậy, cho gì ăn nấy rồi mới tha đòn. Anh con trai nhìn tận mắt vợ mình bị bố chống đánh đòn, thương vợ lắm mà vẫn không dám hé răng bênh vực vợ nửa câu.

Chuyện có thật ở làng Đại Hoàng hồi ấy đã được nhà văn Nam Cao đau xót kể lại trong thiên phóng sự “Cảnh làm dâu trong luỹ tre xanh” đăng trên một tờ tuần báo ở Hà Nội hồi ấy.

Những năm 1940 - 1945, ở làng Đại Hoàng có bao nhiêu người bị cái đói hoành hành. Nhiều người đã chết vì đói kém. Thế nhưng, đau đớn thay! Có người lại chết no! Truyện “Một bữa no” mà nhà văn Nam Cao viết đăng ở Tiểu thuyết Thứ Bảy năm 1943 - kể về một bà lão đói đã lâu ngày đến thăm cháu đang đi ở cho bà Phó Thụ, để kiếm bữa cơm cho đỡ đói. Thế rồi sau bữa no ấy, bà đã ra đi! Thật là chua chát xót xa cho thân phận người phụ nữ trong cảnh cơ hàn, đói rét, lầm than!

Bà ngoại nhà văn Nam Cao có ba người con nuôi là dì Vui, dì Tuất và dì Thảo. Nam Cao thương quý nhất là dì Thảo. Ngày còn nhỏ, Nam Cao bị bệnh yếu chân, bà Minh (mẹ nhà văn) lo chạy chợ nên nhà văn được dì Thảo chăm sóc từ nhỏ. Dì dạy cháu tập hát, tập nói lại cõng cháu đi chơi. Nam Cao đi học thầy Kí Lân, được dì dắt đi. Cháu học, dì cũng học theo. Nhờ cháu mà dì biết chữ. Lớn lên dì Thảo lấy chồng là anh Quản Phượng. Quản Phượng nghiện ngập, nhăng nhít với cô bán bánh đúc ngô trên chợ Phù Nhị, khiến dì Thảo rất khổ tâm. Năm 1942, mùa rét dì Thảo đi cấy thuê về bị cảm lạnh. Đói quá dì xin củ ráy về luộc, xin mỡ về ăn, bị tả ốm nặng. Nam Cao sang thăm, dì vẫn ngồi khâu vá mấy cái áo rách bên ổ rơm nơi góc nhà. Khi biết mình khó lòng qua khỏi, dì Thảo chỉ xin ăn một miếng trầu rồi ra đi. Con gái dì Thảo tên là Kính cuộc đời cũng lận đận chẳng kém mẹ là bao. Ngày Kính đi lấy chồng, Nam Cao đã ghi lại trong truyện “Một đám cưới nghèo”, trong đó đổi tên dì Thảo thành dì Hảo, khiến ai đọc cũng phải rưng rưng lệ. Đại Hoàng xưa là một làng rất nhiều mõ: Mõ Nhắng, mỡ Nhưng, mõ Tí Tèo, mõ Quyên, mõ Văn. Mõ Nhưng có cô con gái tên là Sâm. Cô này đẹp gần nhất làng lại khéo tay, đan lát thêu thùa đều giỏi, nhưng mang tiếng là con nhà mõ nên ế chồng. Trước cảnh éo le đó, Nam Cao viết truyện “Tư cách mõ”. Một kiểu người bần cùng trong xã hội bị tha hoá, đã đi vào trang văn, vào tình cảm của nhà văn nông thôn giàu lòng nhân ái như thế đó.

Làng Đại Hoàng ngày đó có ông Phó Kính chuyên đi đóng cối, có cô con gái tên là Thị Nở. Thị Nở người xấu lại dở hơi, hay cười, động một tý là lăn ra ngủ, bất kỳ chỗ nào. Thị có “tài” gia chánh đặc biệt. Bữa nào bố chồng Thị (là ông Quản Dụng) cũng la rầy Thị về tội để cơm sống, cơm khê, cơm nhão. Những lúc ấy Thị vênh mặt lên cãi lại: “Sống đâu mà sống chỉ hơi sường sượng thôi mà". Người làng rất ít người mướn Thị làm công. Bà ngoại nhà văn Nam Cao thương tình có việc gì là gọi, Thị đến làm ngay.

Cũng cảnh làm thuê, anh Đào gặp Thị Nở. Họ thành vợ chồng qua sự gán ghép của mọi người. Họ ở với nhau trong một ngôi nhà xiêu vẹo do ông Phó Kính để lại. Vợ chồng Thị Nở có một người con là Trần Bá Xuyên. Xuyên theo người làng đi tìm chú là ông Ba Lễ ở Sài Gòn rồi chết trong đó, lúc đấy Xuyên 15 tuổi. Lấy anh Đào, Thị Nở vẫn làm thuê cho bà ngoại Nam Cao. Nhà văn phải gọi Thị Nở là dì. Thị Nở gọi Nam Cao là cháu.

Trong truyện “Chí Phèo” Nam Cao lấy nguyên mẫu bà mẹ chồng chuyên buôn trầu không, hàng chuyến để xây dựng nhân vật bà cô Thị Nở. Đó là bà Quản Dụng có tiếng là người đàn bà cay nghiệt nhất làng Đại Hoàng.

Bà Sen (vợ nhà văn Nam Cao) kể: “Bà ngoại nhà văn rất khó tính. Cụ rất phong kiến, tính hay nói. Cụ chỉ có một mình mẹ anh Nam Cao. Chúng tôi không dám nói chuyện với nhau trước mặt cụ. Có lần tôi mệt, anh Nam Cao giặt hộ quần áo cho tôi một cách lén lút, sợ cụ biết. Lúc giặt xong anh cứ để quần áo ở chậu rồi ra hiệu cho tôi dậy phơi. Anh thường khuyên tôi: “Bà có nói gì, cứ để bà nói. Nhịn là tốt nhất. Cuộc đời cụ khổ lắm. Chồng chết sớm, cụ một mình nuôi con vất vả”.

Ông Trần Hữu Đạt (em ruột nhà văn Nam Cao) cũng kể: Chính ông đã thấy mấy đêm Nam Cao vừa viết văn vừa khóc, nhưng rồi anh lại cắn môi không để cho cảm xúc trào dâng, một tay tỳ vào bàn viết, một tay tỳ vào ngực như để ngăn cảm xúc của mình. Viết xong nhà văn cho bài vào phong bì dán kín lại, nhờ ông Đạt đem gửi cho nhà xuất bản ở Hà Nội. Sau này ông biết đó là truyện Chí Phèo (lúc đó có tên là Cái lò gạch cũ)

Quả thực, Nam Cao là một nhà văn lớn - một nhà văn luôn luôn hướng tấm lòng chân tình, rộng mở của mình đến số phận đau khổ, éo le, chua xót của những người phụ nữ yêu thương, gắn bó của mình, của nhân loại!

                                                                        T.V.Đ

(Nguồn: TC VNNB số 316 - 02/2026)

Tràng An                                                                                                                                                                                      Ảnh: BÙI DUY TƯ

Bài viết khác