NSƯT - Đạo diễn ĐÀO QUANG
Dưới bầu trời văn học nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều cây đại thụ ở các lĩnh vực văn học, nghiên cứu phê bình, sân khấu, âm nhạc, múa, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh. Nhưng có một con người đã hội tụ phẩm chất, tài năng sáng tạo ở nhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật, đó chính là nghệ sĩ Văn Cao - Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Chân dung nhạc sỹ Văn Cao
Mỗi lần nhớ và nghĩ về Văn Cao, tôi luôn hình dung tới một dòng sông cuồn cuộn chảy, lúc dịu êm sâu lắng, khi mạnh mẽ ào ạt, đắm say bứt phá... Dòng sông ấy tách mình thành ba chi lưu cùng sóng sánh nhịp bước bên nhau, nhưng rồi trước khoảnh khắc vỡ oà vào lòng sâu thẳm của đại dương bao la đã kịp hội nhập cộng hưởng, thành sự nghiệp sáng tạo thống nhất toàn khối cùng thuộc về người nghệ sĩ Văn Cao đa tài. Dẫu vậy, ba nhánh sông, ba phương diện tài năng của Văn Cao vẫn có tính độc lập nhất định, đều chứa những dáng nét độc đáo riêng. Nhánh thứ nhất là âm nhạc, nhánh thứ hai thuộc về thi ca, nhánh thứ ba mang tên hội hoạ.
Lâu nay, dư luận và sự sàng lọc khách quan của thời gian đều nhìn nhận trên ba phương diện sáng tạo của Văn Cao đều được đánh giá cao, tuy nhiên phải thẳng thắn thừa nhận âm nhạc vẫn được coi là dòng chủ lưu, là không gian sáng tạo tiêu biểu nhất, kết tinh đậm đặc nhất, nguồn mạch sáng tạo dồi dào nhất của nghệ sĩ Văn Cao. Điều này không hề ngẫu nhiên, mà có gốc gác xa gần từ tiểu sử cuộc đời và hành trình sáng tạo của con người nghệ sĩ. Bút hiệu Văn Cao đồng thời cũng chính là tên của ông được ghi trong giấy khai sinh một cách giản dị là Nguyễn Văn Cao. Văn Cao sinh ngày 15/11/1923 tại Lạch Tray (Hải Phòng) nhưng quê gốc của ông ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (Nay là xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình).
Thuở nhỏ Văn Cao học tiểu học tại trường Bonan (Bonal) danh tiếng ở thành phố Cảng (Hải Phòng), lên bậc trung học Văn Cao được chọn tuyển vào trường dòng Xanh Giô-dep (Saint Josef). Chính tại ngôi trường này, cậu thiếu niên Văn Cao vốn có tư chất thông minh lại say mê nghệ thuật nên khi có cơ hội Văn Cao đã được tiếp xúc với âm nhạc phương tây và làm quen với tri thức âm nhạc hiện đại một cách có hệ thống. Năm 1939 ở tuổi 16, Văn Cao sáng tác ca khúc đầu tay mang tên Buồn tàn thu, ca khúc đã gây tiếng vang lớn trong dư luận lúc bấy giờ. Trong phạm vi các nhóm đồng vọng, Văn Cao tiếp tục công bố một loạt ca khúc trẻ trung vui vẻ như: Gió núi, Gò Đống Đa... cho phong trào hướng đạo sinh. Khoảng thời gian này, Văn Cao làm quen với một số gương mặt sáng giá của phong trào tân nhạc như Lê Thương, Phạm Duy... để từ đó mở rộng và đi sâu hơn vào hoạt động âm nhạc liên tiếp gặt hái những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác. Đây là thời gian ông cho ra đời những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng, có ý nghĩa đánh dấu sự trưởng thành của nền tân nhạc Việt Nam hiện đại như: Suối mơ, Trương Chi, Bến xuân... trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến là tác phẩm Thiên thai.
Năm 1944, giác ngộ lý tưởng cách mạng cứu nước, Văn Cao tự nguyện tham gia Việt Minh, đây là một bước ngoặt có ảnh hưởng to lớn trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Trong tinh thần cởi mở đó, Văn Cao hoàn thành bài hát đã đi vào lịch sử của nền âm nhạc Việt Nam nói riêng, đi vào lịch sử Việt Nam hiện đại nói chung như một dấu son rực rỡ đó là ca khúc Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của tờ báo Độc lập vào tháng 11/1944, không lâu sau đó Tiến quân ca được chọn làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và là quốc ca của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến nay. Dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, đất nước đã diễn ra bao thay đổi lớn lao, từ chiến tranh đến hoà bình, rồi bước vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập với thế giới, khiến cho trong dư luận đã từng đặt ra yêu cầu cần có một bản quốc ca mới mang được hơi thở của thời đại, thay thế cho bài Tiến quân ca. Thậm chí đã có cả cuộc thi sáng tác quốc ca mới để qua đó xuất hiện được ca khúc xứng đáng chọn làm quốc ca mới mà vẫn chưa có một ca khúc nào đủ tầm vóc để có thể thay thế được Tiến quân ca. Tiến quân ca đã in sâu vào tâm trí của hàng triệu người dân Việt và mỗi lần lời bài hát được cất lên đã đánh thức và hướng hàng triệu con tim Việt Nam cùng chung một nhịp đập. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trong tư thế người chiến sĩ, Văn Cao tiếp tục cho ra đời những ca khúc đặc sắc khác như Làng tôi (1944), Ngày mùa (1948), Tiến về Hà Nội (1949) và một số bản nhạc mang tính chất hùng ca như Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam... Đáng chú ý hơn cả là tác phẩm Trường ca sông Lô (1947) bề thế, một đỉnh cao của âm nhạc kháng chiến, một thành tựu đáng tự hào của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam mà nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định đó là một nhạc phẩm vĩ đại. Ngoài ca khúc ông còn viết một số tác phẩm khí nhạc, viết nhạc phim, nhạc nền sân khấu... Những sáng tác âm nhạc tiêu biểu của Văn Cao đã vượt thời gian, trong đó có một số ca khúc được phổ biến tại một số nước trên thế giới. Ca khúc Mùa xuân đầu tiên công bố trên báo Sài Gòn giải phóng số xuân 1976 và được dịch, in ở Liên Xô, quê hương Cách mạng tháng Mười và vang lên trong chương trình tiếng Việt của Đài phát thanh Matxcơva. Trong phim Người Mỹ trầm lặng của điện ảnh Pháp, đạo diễn đã sử dụng ca khúc Thiên thai làm nhạc nền cho phim. Trịnh Công Sơn - một tên tuổi sáng giá thuộc thế hệ nhạc sĩ lớp sau còn cho biết: Có lần Thiên thai đã vang lên tại Trung tâm vũ trụ Nasa ở Mỹ... Những tác phẩm âm nhạc tiêu biểu của Văn Cao viết về cách mạng và kháng chiến, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (VHNT) đợt đầu tiên vào năm 1996, giải thưởng là sự khẳng định tôn vinh của Đảng và nhà nước đối với những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao.
Bên cạnh sáng tác âm nhạc, Văn Cao còn thể hiện tài năng của mình ở lĩnh vực khác như hội họa và thơ văn. Ngay từ những năm 1942, Văn Cao đã theo học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội và chỉ trong một thời gian sau đó ông đã cho ra đời những tác phẩm sơn dầu như: Sám hối, Nửa đêm, Cô gái dậy thì, Cuộc khiêu vũ, Những người tự tử... và hai lần có tranh trưng bày triển lãm tại nhà Khai Trí Tiến Đức Hà Nội vào năm 1943 - 1944. Những tác phẩm hội họa của Văn Cao đều biểu lộ một ý tưởng tìm tòi sáng tạo, một cung cách diễn tả mới trong ngôn ngữ tạo hình, được giới Mỹ thuật đương thời chú ý và đánh giá cao. Ngoài sáng tác tranh, ông còn vẽ minh họa báo chí, làm bìa sách, thiết kế mỹ thuật cho sân khấu. Bất kỳ trong lĩnh vực sáng tác nào của hội họa, chúng ta cũng thấy được những dấu ấn độc đáo của một nghệ sĩ đa tài.
Trong lĩnh vực thơ ca, Văn Cao cũng đã để lại cho nhân thế những sáng tác nổi tiếng. Năm 1940 trong hành trình viễn du từ Bắc vào Nam, Văn Cao hoàn thành tác phẩm “Một đêm đàn lạnh trên sông Hương”. Thơ của Văn Cao luôn luôn có sự đổi mới, nhạy cảm với thời cuộc, nhân tình thế thái, luôn tạo cho thơ sức nặng của tầm cao tư tưởng, rũ bỏ những làn điệu êm ái, ông nhìn thảm cảnh đau thương năm Ất Dậu là những nỗi kinh hoàng, tiếng kêu xé lòng của một kiếp người (Bài thơ: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc) khẳng định sự tận số của chế độ cũ, dự báo sự tất thắng của cuộc cách mạng dân tộc vì độc lập tự do (Ngoại ô mùa đông năm 1946). Trong tập thơ Lá là những khát vọng tình cảm, có lúc như những tiếng thở dài rồi lại bùng lên như vũ bão hoặc như những hành khúc trang nghiêm, rồi tự tình sâu lắng tràn đầy khát khao, yêu thương. Ông yêu quê hương đất nước, yêu mảnh đất nơi sinh ra ông và giúp ông trưởng thành, đắm say trong tình yêu, thủy chung trong tình bạn.
Thơ Văn Cao tuy ít nhưng đã phản ánh những khát khao tìm tòi, những giá trị nhận thức, cách tân trong hình thức, không phụ thuộc vào vần điệu, mà từ cung bậc của cảm xúc tạo nên những vần thơ mang tính triết lý, sự bay bổng, lãng mạn, trữ tình, nhằm tăng cường khả năng truyền cảm và sức khơi gợi liên tưởng của thơ.
Có thể nói, ở lĩnh vực sáng tạo nào từ nhạc đến hội họa và thơ ca, Văn Cao cũng cho ra đời những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật. Như sự đánh giá của dư luận, hoặc ngay cả lời bày tỏ của chính Văn Cao với đồng nghiệp và báo chí: “Ông vẽ và làm thơ như một thôi thúc, còn âm nhạc trước sau vẫn là lẽ sống của đời mình”. Những nhạc phẩm của Văn Cao thực sự có sức sống mãnh liệt, vượt thời gian, sẽ còn sống mãi trong tâm trí của thế hệ công chúng như lời Giáo sư Đặng Thai Mai đã khẳng định: “Văn Cao là một viên ngọc trên bức khảm văn hoá - nghệ thuật của dân tộc Việt Nam”. Để ghi nhận những đóng góp lớn lao của Văn Cao vào sự nghiệp cách mạng, của đất nước, cũng như những thành tựu sáng tạo nghệ thuật, ngoài giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, ông còn được nhà nước trao tặng: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, cùng nhiều huân, huy chương và các danh hiệu cao quý khác. Tên của nhạc sĩ Văn Cao đã được đặt tại nhiều đường, phố ở Thủ đô Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt...
Đ.Q
(Nguồn: TC VNNB số 312 - 11/2025)