Thứ bảy, 07/03/2026

Những nỗ lực ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tránh một cuộc chiến tranh cho đất nước

Thứ tư, 28/01/2026

TRẦN XUÂN TUYẾT

Tranh cổ động về đề tài Bác Hồ                                                                                                                                                     DƯƠNG ĐỨC ĐIỆN

Từ sau ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những hoạt động ngoại giao tích cực và sôi nổi để tìm kiếm sự công nhận quốc tế với nền độc lập non trẻ của dân tộc Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhằm tránh cho đất nước không bị rơi vào cuộc chiến tranh lần thứ hai với thực dân Pháp, mà theo tiên lượng của Người, rất có thể sẽ lại xảy ra. 

Để thực hiện đường lối ngoại giao mang tính chiến lược này, ngày mùng 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thông điệp gửi Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch, nói rõ việc quân đội Trung Hoa (Trung Hoa Dân quốc – TXT) vào Việt Nam giải giáp khí giới quân Nhật bị công kích ở Yên Bái là hành động của “một bọn cướp… lấy danh hiệu của Việt Minh”(1), đồng thời khẳng định sẽ: “Tức khắc phái quân đến giúp đỡ quân Trung Hoa và tiễu trừ bọn cướp.”(2)

            Với thông điệp này, Hồ Chí Minh thể hiện thiện chí sẵn sàng tiếp đón và tận tình giúp đỡ quân đội Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam làm nhiệm vụ do Đồng Minh phân công. Đây là văn bản bang giao quốc tế của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kể từ khi ra mắt quốc dân đồng bào trong lễ tuyên ngôn độc lập. Văn bản này cho thấy, chúng ta luôn chủ động đặt mối quan hệ tốt đẹp với các lực lượng tiến bộ trên thế giới trên tinh thần quốc tế cao cả.

            Ngày 28 tháng 9 năm 1945, trong bối cảnh rất khẩn trương, với tư cách Chủ tịch Chính phủ, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện thư cho V.I. Xtalin, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, tố cáo tội ác của thực dân Pháp với nhân dân Việt Nam, thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình và ý chí của nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền tự do độc lập của mình. Bức thư có đoạn: “Nhân dân (Việt Nam) mong muốn hợp tác với Liên hợp quốc vì sự nghiệp tạo ra nền hòa bình lâu dài trên toàn thế giới và vì họ đã phải khổ cực bởi sự thông đồng của người Nhật và người Pháp vào năm 1941, nên họ hết sức cương quyết không để cho người Pháp trở lại Đông Dương nữa.”(3)

            Ngày 16 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ bức thư yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và mong muốn Việt Nam sẽ hợp tác toàn diện với Mỹ để: “Làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới.”(4)

 Cũng năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời kêu gọi đến Đại Anh Quốc, Trung Quốc (Trung Hoa Dân quốc), Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc. Trong lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ lòng yêu chuộng hòa bình của Việt Nam, luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và sẵn sàng “Thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(5) với tất cả các nước trên thế giới như: tiếp nhận đầu tư của các nhà tư bản nước ngoài; mở rộng các cảng, sân bay, đường giao thông cho buôn bán quốc tế; tham gia mọi tổ chức hợp tác quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc; sẵn sàng ký kết các hiệp định về quân sự với các nước trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Trong lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chính sách mở cửa nói trên cũng dành cho nước Pháp. Nhưng nước Pháp đã tìm cách phá hoại. Vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Hội đồng Bảo An chấp nhận chính sách mở cửa của Việt Nam: “Để vãn hồi hòa bình trong một phần thế giới này, để cho Hiến chương Đại Tây Dương được tôn trọng và để khôi phục lại những quyền cơ bản của Việt Nam là được thừa nhận độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ.”(6) Có thể nói, với lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ chính sách ngoại giao hòa bình, mở cửa, hợp tác về tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự với tất cả các quốc gia trên thế giới - đặc biệt là với các nước lớn - của Việt Nam lúc bấy giờ.

            Như vậy, bằng rất nhiều nỗ lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động tiếp cận với hầu hết lãnh đạo tối cao của các nước lớn thuộc phe Đồng Minh, trụ cột của tổ chức Liên hợp quốc. Mục đích của những nỗ lực này là tìm kiếm sự ủng hộ nền hòa bình, độc lập non trẻ của Việt Nam. Thế nhưng, rất tiếc, tiếng nói chính nghĩa của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nguyện vọng hòa bình chính đáng của nhân dân Việt Nam không được lãnh đạo các nước lớn và Liên hợp quốc quan tâm đúng mức. Điều ấy khiến cho nền hòa bình, độc lập mà nhân dân Việt Nam vừa giành được từ tay Nhật không nhận được sự ủng hộ và hậu thuẫn quốc tế cần thiết. Điểm yếu này của cách mạng Việt Nam vào thời điểm năm 1945 - 1946 đã bị thực dân Pháp khai thác triệt để, nhằm thực hiện âm mưu quay lại thôn tính nước ta một lần nữa.

Với nước Pháp, biết chúng đang ráo riết chuẩn bị lực lượng để đánh chiếm Việt Nam, nhưng với lòng yêu chuộng hòa bình và mong muốn xây dựng mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai dân tộc Pháp - Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi công điện cho Đờ - gôn và điện văn cho Chủ tịch Quốc hội Pháp, trình bày rõ tình cảm và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Đồng thời cũng nhân đó khẳng định quyết tâm bảo vệ đến cùng nền tự do, độc lập mà Việt Nam vừa giành được.

            Tiếp đó, trong sự nỗ lực để tránh cho dân tộc một cuộc chiến tranh đang cận kề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bước đi ngoại giao táo bạo, đó là nhân nhượng thực dân Pháp trong việc ký “Hiệp định sơ bộ mùng 6 tháng 3” và “Tạm ước 14 tháng 9.”

            Về Hiệp định sơ bộ mùng 6 tháng 3

            Hiệp định này được ký kết vào hồi 16 giờ ngày mùng 6 tháng 3, năm 1946 tại nhà số 38, phố Lý Thái Tổ, thành phố Hà Nội, giữa Giăng Xanh - - ni, đại diện Chính phủ Pháp và Hồ Chí Minh, đại diện Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Hiệp định này có những nội dung chính như sau:

- Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.

- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa (Quốc dân đảng) để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.

- Pháp đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ về việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

- Hai bên thực hiện ngừng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước ngoài cùng những quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp ở Việt Nam.

- Quân đội Pháp có trách nhiệm hỗ trợ và huấn luyện cho Quân đội nhân dân Việt Nam.

            Như vậy, qua việc ký kết Hiệp định sơ bộ này, với sự nhân nhượng của chúng ta, Pháp đã giành được những kết quả quan trọng: Tranh thủ được thời gian hòa hoãn để đưa thêm quân viễn chinh vào Việt Nam. Quân Pháp không gặp kháng cự nào đáng kể mà vẫn chiếm được toàn bộ miền Bắc. Do Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp, nên Pháp vẫn duy trì được sự chi phối cả chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao.

            Về phía Việt Nam, với lòng mong muốn hòa bình, hy vọng người Pháp sẽ trung thực, sau 5 năm (đến năm 1950) sẽ rút hết 15.000 quân khỏi miền Bắc, tiếp đó sẽ rút hết quân viễn chinh khỏi Việt Nam. Điều ấy sẽ tránh cho Việt Nam một cuộc chiến tranh mà vẫn giành được độc lập.

            Với việc ký kết Hiệp định sơ bộ này, mặc dù chúng ta nhân nhượng Pháp nhiều vấn đề, nhưng cũng đạt được một số thắng lợi. Đó là:

            Với việc quân Pháp vào thế chân 200.000 quân Trung Quốc (Trung Hoa Dân quốc), Việt Nam đã không bị rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch khi chiến tranh nổ ra. Bên cạnh đó, chúng ta còn có được thời gian hòa hoãn để chuẩn bị các điều kiện cho cuộc kháng chiến.

            Hiệp định sơ bộ cũng mang đến cho chúng ta thắng lợi về đối ngoại. Đây là Hiệp định đầu tiên mà Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu ký kết với nước ngoài. Từ chỗ không thừa nhận, nhưng với việc ký kết Hiệp định này, về mặt ngoại giao, Pháp đã phải thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là bước khởi đầu mở đường công nhận quốc tế với nước ta, để từ đó từng bước củng cố vị thế vững chắc của Việt Nam trên thế giới.

            Với Hiệp định sơ bộ mùng 6 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang tất cả uy tín của mình ra để ký kết. Đây là Hiệp định không phải lúc bấy giờ ai cũng hiểu được sự thâm sâu trong đối sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì thế đã xuất hiện ngờ vực động cơ ký kết Hiệp định này, nhất là điều khoản cho 15.000 quân Pháp chiếm đóng miền Bắc.

            Để các tầng lớp nhân dân hiểu rõ và vững tin vào cách mạng, vững tin vào lòng yêu nước của người đứng đầu Chính phủ, trong cuộc mít tinh lớn được tổ chức vào bốn giờ chiều ngày 7 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng khái tuyên bố: “Tôi, Hồ Chí Minh suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước.”(7)

    Về Tạm ước 14 tháng 9

Từ ngày 6 tháng 7 đến ngày 10 tháng 9 năm 1946, tại Phông - ten - nơ -blô đã diễn ra Hội nghị đàm phán của đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Pháp về cụ thể hóa các điều khoản của Hiệp định sơ bộ mùng 6 tháng 3. Sau hơn hai tháng đàm phán, Hội nghị đổ vỡ mà không đạt được thỏa thuận nào do lập trường của hai bên không thống nhất. Phái đoàn đàm phán của Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn về nước. Trước tình hình ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp Bộ trưởng Thuộc địa Pháp nói, không nên để mình về nước với hai bàn tay trắng và đề nghị  hai bên ký một Tạm ước. Đại diện Chính phủ Pháp đồng ý. Chiều ngày 11, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho Bộ trưởng Thuộc địa Pháp dự thảo bản Tạm ước. Ba ngày sau, Bộ trưởng thuộc địa Pháp hồi đáp với một bản Tạm ước khác. Đạt được đồng thuận, hai bên đã ký Tạm ước Việt - Pháp ngày 14 tháng 9 vào lúc không giờ ba mươi phút, ngày 15 tháng 9 năm 1946 tại tư dinh của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp.

            Tạm ước có 11 khoản, chủ yếu bảo vệ các quyền lợi của người Pháp ở Việt Nam. Chỉ có khoản 9 đề cập đến ổn định tình hình, tránh xung đột vũ trang giữa hai bên.

            Nhìn vào Tạm ước, người đọc nhận thấy chủ yếu có lợi cho người Pháp. Thế nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ký, đây là “nhân nhượng” lớn, “nhân nhượng”cuối cùng mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dành cho Chính phủ Pháp.

            Điều này cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng tất cả mọi cơ hội, dù nhỏ nhất, như người đãi cát với hy vọng tìm được, dù chỉ một vảy vàng để ngăn cản không cho chiến tranh nổ ra, tránh thương vong cho nhân dân mà vẫn bảo vệ vững chắc nền hòa bình, độc lập của đất nước. Vảy vàng ấy chính là điểm a trong khoản 9: “Đình chỉ mọi xung đột và vũ lực.”

            Có lẽ, khi Tạm ước được ký kết, Bộ trưởng Thuộc địa Pháp đã rất phấn khởi về thắng lợi của mình.

            Hiện thời, chúng ta chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết điểm a trong khoản 9 của Tạm ước là do Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp đưa vào khi soạn thảo văn bản, hay do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị lúc đàm phán và được chấp thuận. Chỉ biết rằng, ngày nay đọc lại, chúng ta nhận ra, đây chính là nội dung chính để Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định ký Tạm ước 14 tháng 9. Bởi trong rất nhiều “nhân nhượng” thì điểm a trong khoản 9 này là điều có lợi cho Việt Nam, là cơ hội hòa bình cuối cùng mà hai bên đạt được vào phút chót.

            Mặc dù ký Tạm ước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiểu rằng, thực dân Pháp sẽ nổ súng xâm lược Việt Nam một lần nữa. Vì thế cần phải có thời gian để chuẩn bị lực lượng. Và một khi chiến tranh nổ ra thì các điều khoản mà Pháp đạt được trong Tạm ước sẽ không còn ý nghĩa nữa. Do vậy, những nội dung mà Pháp đưa ra không cần quá quan tâm. Hy sinh cái thứ yếu do Pháp chủ động đưa ra để đạt cái chính yếu “Đình chỉ mọi xung đột và vũ lực” để kéo dài thời gian hòa hoãn, tranh thủ củng cố lực lượng là sự tinh đời và khôn khéo của Hồ Chí Minh khi ký Tạm ước này.

            Sau khi Tạm ước được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Việt Nam trên một tàu chiến của Pháp. Ngày 18 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đác - giăng - li - ơ Đô đốc hải quân Cao ủy Pháp ở Đông Dương trên một chiến hạm của Pháp ở vịnh Cam Ranh để trao đổi về việc thi hành Tạm ước 14 tháng 9. Tuy nhiên sau đó, do sự tráo trở của Pháp, tạm ước này đã không được thực hiện như mọi người đã biết.

            Rõ ràng, với lòng yêu chuộng hòa bình, muốn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp, qua việc ký kết Hiệp định sơ bộ mùng 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9, chúng ta đã “nhân nhượng” thực dân Pháp nhiều nhất có thể để cứu vãn nền hòa bình non trẻ mà nhân dân ta vừa giành được. Tuy nhiên, thiện chí của Việt Nam đã bị thực dân Pháp tiếp nhận với tâm địa của một kẻ xâm lược. Chúng tìm mọi cách và không từ một thủ đoạn nào hòng cướp nước ta một lần nữa. Vì thế, nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác là phải đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước của mình.

            Đọc lại lịch sử những năm tháng ấy, chúng ta thấy tiếc cho cơ hội hòa bình giữa Việt Nam và Pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đưa ra đã không được Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới lúc bây giờ quan tâm đúng mức; thấy tiếc cho hai dân tộc Việt - Pháp, chỉ vì các thế lực cầm quyền hiếu chiến ở Pháp mà bị cuốn vào cuộc chiến tranh suốt 9 năm ròng. Một cuộc chiến tranh mà Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không hề muốn nhưng đành phải chấp nhận vì: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.(8)

 

T.X.T

(Nguồn: TC VNNB số 313 - 12/2025)

 

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2009, tr.12.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2009 tr.12.

3. Tạp chí Lịch sử cận hiện đại (tiếng Nga), số 3, 1998, trang 127.

4. Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tr. 176-177.

5+6. Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, trang 470.

7. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký. Nxb Quân đội nhân dân, H.2019, tr.242

8. Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tr.480-481

Bài viết khác