VŨ NGUYỆT KHÁNH PHƯỢNG
Không hiểu vì lẽ gì, tôi luôn mang một sự hoài nghi sâu sắc về những cuộc “cách tân” thơ ca nửa vời, gượng ép. Thơ Việt Nam, ngay từ cội nguồn, đã sở hữu một vẻ đẹp thuần khiết, sáng trong mang tên Lục bát. Vậy tại sao phải đổi thay, phải khoác lên nó những chiếc áo tư duy tối giản hay những kỹ thuật chải chuốt đến mức đánh mất đi cái hồn cốt mượt mà của thơ ca dân tộc?
Mỗi lần chạm phải một thi phẩm xa lạ, không còn thấy hơi thở của THƠ nữa, tôi lại tự tìm về với đôi dòng lục bát thân thương để tự an ủi lòng mình. Lục bát, với tôi, vẫn đẹp, vẫn đủ sức mạnh thâm nhập vào đáy sâu tâm hồn người đọc khó tính nhất, lẩy ra được tất thảy những chuyển biến phức tạp trong tâm thức con người dù ở thời đại nào. Nó không chỉ là thể thơ dễ cảm, dễ nhớ; nó là một mạch nguồn văn hóa bền vững, một chất liệu chuyên chở tâm hồn dân tộc qua nhiều thế kỷ. Chính vì lẽ đó, lục bát đặt ra một thách thức nghiệt ngã cho nhà thơ đương đại: làm sao để giữ được cái hồn giản dị, mượt mà ấy mà vẫn truyền tải được tư duy, cảm thức phức tạp mang hơi thở hiện đại. Và trong cuộc kiếm tìm khắc nghiệt đó, Bình Nguyên - một nhà thơ của “miền lục bát” Cố đô - đã tạo nên một dấu ấn không thể phủ nhận.
Bình Nguyên là một trong số hiếm hoi những thi sĩ có duyên nợ bền bỉ và thủy chung với lục bát. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua một chuỗi thành tựu đáng ghi nhận: bốn lần vinh danh tại các cuộc thi thơ quốc gia uy tín, trải dài gần ba thập kỷ (1985–2014). Đây không phải là sự ngẫu nhiên của may rủi mà là sự khẳng định khách quan cho một tài năng thơ ca kiên định, một thi pháp được định hình và phát triển bền bỉ theo thời gian. Với tình yêu và niềm kiêu hãnh tuyệt đối dành cho thể thơ này, Bình Nguyên đã thành công trong việc góp phần kiến tạo nên một diện mạo mới cho lục bát đương đại, vừa thân quen nhưng vừa độc đáo, thú vị.
Hành trình bốn lần đoạt giải của ông chính là một phác thảo sinh động cho sự chuyển biến trong tư duy nghệ thuật của Bình Nguyên: từ một giọng thơ hồn nhiên, chất phác buổi đầu cho đến một tiếng nói đầy trăn trở, mang nặng tính triết lý nhân sinh về sau.
Khi còn công tác trong môi trường quân đội (Cục Chính trị Quân đoàn I), Bình Nguyên đã bộc lộ năng khiếu văn chương. Dấu mốc quan trọng đầu tiên trên con đường văn chương của ông là năm 1985 - khi tham gia cuộc thi thơ do Hội Văn học nghệ thuật Ninh Bình tổ chức. Bài thơ Mong mẹ đã đoạt giải B của cuộc thi. Giữa tâm chấn của những cơn bão đổi mới, sáng tạo, cách tân thì “Mong mẹ” lại đăng quang với chiếc áo khoác ngôn từ chân phương, quen thuộc.
Mong mẹ
Mẹ sao lâu thế chẳng về
Con ngồi nhặt nắng bên hè vẩn vơ
Vô tình mẹ đốt tuổi thơ
Để con mòn mỏi đợi chờ bấy lâu
Áo con đứt chỉ ai khâu
Ai ru con ngủ một câu ân tình
Hỏi bà bà lại lặng thinh
Hình như bà giận mẹ mình… bố ơi
Cái mưa dột xuống cuộc đời
Bao năm bố giấu nụ cười ở đâu ?
Giá như mẹ đừng đi lâu
Giá như bố chẳng bạc đầu tuổi xuân
Ai người chẳng muốn ấm thân
Một đời ai chẳng có lần mượn vay
Ngửa bàn tay úp bàn tay
Càng đong càng lắc càng đầy nhớ mong
Qua mùa mưa qua bão giông
Con làm cầu nối sang sông mẹ về.
(Hoa Lư, 1985)
Không bóng bẩy, chải chuốt. Không sự cầu kì, khó hiểu. “Mong mẹ” cứ nhẹ nhàng dẫn dắt độc giả đi vào miền ưu tư trăn trở của một đứa trẻ “già dặn” mà chiêm nghiệm, mà thấu cảm. Đứa trẻ ngồi ở “bên hè vẩn vơ” đợi chờ mẹ trong vô vọng suốt cả tuổi thơ của nó. Bên đứa trẻ mặc dù có bà, có bố, nhưng nó đơn độc trong nỗi ngóng trông người mẹ trở về: “Hỏi bà bà lại lặng thinh/ Hình như bà giận mẹ mình… bố ơi”… Những rạn vỡ mà người lớn gây ra nó không hiểu được, chỉ biết rằng tuổi thơ nó không có mẹ. Bơ vơ, lạnh lẽo. Những mong ước bình thường như được mẹ khâu áo, được mẹ ru ngủ, với nó cũng không thể có được. Không ai nói cho nó biết tại sao, và phải làm gì để lại được có mẹ như bao đứa trẻ khác. Đứa trẻ hoàn toàn cô đơn trong chính căn nhà của mình. Không một tiếng cười đùa, không một lời sẻ chia. Điều này chứng tỏ, với một đứa trẻ, mẹ là nguồn sống, là linh hồn của nó. Càng lớn, nó càng cảm nhận rõ hơn sự trống trải trong lòng mình. Từ cái khát khao được sống bình thường như bao đứa trẻ khác đến nỗi xót xa, dằn vặt khi nhìn thấy sự già nua của bố, sự cố tình lảng tránh nỗi buồn của bà…
Cái hay của “Mong mẹ” không nằm ở sự cầu kỳ ngôn ngữ mà ở khả năng chạm đến nỗi đau thân phận bằng những hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi. Nhân vật trữ tình là đứa trẻ thiệt thòi, bị tổn thương về tinh thần. Giọng điệu xuyên suốt bài thơ là sự ai oán, hờn trách mẹ với những câu hỏi tu từ đầy da diết: “Sao lâu không về? Ai khâu áo? Ai ru ngủ? Nụ cười của bố giấu ở đâu?”... Và những “giá như” vừa hồn nhiên vừa xa xót: “Giá như mẹ đừng đi lâu/ Giá như bố chẳng bạc đầu tuổi xuân”. Nhưng kết thúc bài thơ, cái tôi yêu thương, bao dung lại trỗi dậy bất ngờ, xúc động: “Qua mùa mưa qua bão giông/ Con làm cầu nối sang sông mẹ về.” Đứa trẻ muốn trở thành sứ giả hạnh phúc, muốn là chất keo hàn gắn lại mảnh vỡ thương yêu thuở xưa. Bất kể lỗi ở ai, điều đứa trẻ muốn là một mái ấm gia đình có mẹ, có cha.
Tứ thơ đơn giản, quen thuộc nhưng lại thấm sâu vào tâm hồn người đọc bởi cấu tứ theo dòng cảm xúc của đứa trẻ bất hạnh và những hình ảnh, những hiện tượng được nhìn qua con mắt trẻ thơ vừa hồn nhiên vừa bất ngờ. Ta chợt giật mình nhận ra: đã từ bao giờ, người lớn chỉ quan tâm đến cảm xúc của họ mà quên đi những chuyển biến tâm hồn của một đứa trẻ khi sống trong một gia đình không hoàn hảo…
Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là nỗi niềm day dứt trước những đổ vỡ trong hạnh phúc gia đình - một vấn đề tưởng nhỏ nhoi và mang tính nội bộ, nhưng thực chất nó phản ảnh những rạn nứt trong hệ giá trị gia đình truyền thống, khi mà hiện tượng li thân, li hôn đang diễn ra ngày càng nhiều trong xã hội. Phải chăng, cuộc sống càng đủ đầy, con người lại càng yếu khả năng thích ứng với những điều không vừa ý quanh ta, để rồi dẫn đến đổ vỡ, chia lìa.
***
Nối tiếp thành công, nhưng là mãi đến hai mươi năm sau, Bình Nguyên khẳng định một lần nữa khả năng sáng tác thơ lục bát của mình bằng giải A cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam (2003) với chùm ba bài thơ: Người làng chài học chữ, À ơi tay mẹ, Với người quê. Cả ba bài thơ đều phản phất một giọng điệu buồn thương, xa xót về những phận đời chìm nổi, truân chuyên. Đó là người phụ nữ làng chài “Bốn mươi chị mới bắt đầu ê, a…”, con đường đi tìm cái chữ cũng nhọc nhằn như cuộc đời sông nước lênh bênh của chị: “Lênh đênh chữ nổi chữ chìm/ Mỗi lần rơi, mỗi lần tìm vớt lên” (Người làng chài học chữ)(1). Đó là người mẹ nông dân lam lũ với ruộng đồng: “Bàn tay mẹ chắn mưa sa/ Bàn tay mẹ chặn bão qua mùa màng”. Hay đó là những người quê tất tả trên đường mưu sinh: “Gánh gồng bấm bước chân trơn/Mà đi qua những tủi hờn đắng cay” (Với người quê)(1) . Tuy nhiên, mỗi bài thơ đều lấp lánh vẻ đẹp toát ra từ chính những phận đời cơ cực ấy. Phải chăng, đó chính là điều quan trọng níu giữ độc giả với thơ Bình Nguyên. Cũng như “Mong mẹ” - tình thương và khát vọng hạnh phúc của đứa trẻ níu giữ cảm xúc và chữa lành tâm hồn cho độc giả, “Người làng chài học chữ” đem đến cảm xúc yêu mến, ngưỡng mộ nghị lực của một con người luôn khát khao hoàn thiện bản thân trong mọi hoàn cảnh. Hình ảnh người đàn bà hàng chài học chữ “Đêm đêm bóng chị, bóng thuyền lao xao” vừa mang thông điệp về giá trị của sự học vừa thơ mộng biết bao.
Bên cạnh đó, “À ơi tay mẹ”(1) lại là một bài thơ có đề tài rất quen thuộc, bởi không chỉ rất nhiều người viết thành công, mà chính tác giả cũng đã thành công cách đây hai mươi năm với mảng đề tài này. Tuy nhiên, Bình Nguyên có nói trong một bài phỏng vấn rằng: “Tôi không thể không viết thơ về mẹ được. Dù thơ có hay, không hay, tôi vẫn cứ viết”(4). Dường như, viết về mẹ là một nhu cầu thường trực, là một sự tri ân sâu sắc của nhà thơ với người mẹ của mình. Tình cảm ấy đã được chuyển hoá một cách khéo léo bằng chất liệu ngôn từ giản dị và đậm phong vị ca dao. Nhà thơ đã biến đôi tay mẹ và lời ru thành những điều diệu kì như cổ tích: “Bàn tay mang phép nhiệm màu/ Chắt chiu tự những dãi dầu đấy thôi”. Lời ru tay mẹ “làm mềm gió thu”, làm “tan đám sương mù”, làm cho “cái khuyết tròn đầy”, “Cái thương cái nhớ nặng ngày xa nhau”, làm cho “sóng lặng bãi bồi”, cho “mưa không dột”, “cho đời nín đau”… Những liệt kê triền miên như suối, cho thấy sự kì diệu từ bàn tay mẹ qua sự cảm nhận của người con. Cả bài thơ là lời mẹ ru con và hình ảnh đôi bàn tay yêu thương vỗ về giấc ngủ của mẹ được kì diệu hoá trong cái nhìn của con. Kết thúc là một câu phủ định: “À ơi…mẹ chẳng một câu ru mình”. Cái kết khiến người đọc cũng phải sững lại mà nghĩ suy về mẹ: về những điều mẹ đã làm cho con nhiều không thể kể hết, về sự hi sinh âm thầm, lặng lẽ của mẹ… May thay, nhìn lại nhan đề bài thơ “À ơi tay mẹ” (chứ không phải “Tay mẹ à ơi”), độc giả có thể mường tượng một cái tôi trữ tình đang vỗ về, an ủi đôi tay lam lũ của mẹ. Mẹ không “ru mình” thì phận làm con phải biết “ru mẹ” … Những bài học tưởng như khô khan mà thấm vào thơ Bình Nguyên cứ nhẹ nhàng và tự nhiên đến thế.
Khi được hỏi về cái duyên với thơ Lục bát, Bình Nguyên vẫn khẳng định, ông thích sáng tác thơ tự do, nhưng lại được ghi nhận ở thể thơ lục bát. Với ông, khó nhất ở thể thơ lục bát là viết hay(5). Mà lục bát hay thì phải gần gũi, dễ hiểu và cảm xúc phải tự nhiên, chân thật trong một hình thức thơ giàu tính nhạc và có sáng tạo trong nhịp điệu. Ông cứ thế mà để dòng cảm xúc của mình tuôn chảy với nhịp thơ khi thì 2/2/2, 2/4, 2/4/2… có lúc lại 3/5, 3/2/3… vừa làm rung lên những giai điệu ca dao, dân ca dịu dàng, ấm áp trong lòng độc giả vừa mang nhịp sống hiện đại. Có lẽ, chính bởi sự gần gũi, chân thành mà lắng sâu ấy đã khiến bài thơ được chọn in trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 (bộ Cánh diều) để lan toả đến học sinh những xúc cảm đẹp đẽ và những thông điệp đầy ý nghĩa của tác phẩm.
***
Không dừng lại ở thành công với giải A về thơ lục bát, Bình Nguyên tiếp tục đoạt giải Ba với bài Tiễn em lên máy bay trong cuộc thi Thơ Lục bát “Ngàn năm thương nhớ” năm 2010 (do 5 cơ quan báo chí phối hợp tổ chức: Báo Gia đình và Xã hội - Tuần báo Văn nghệ - Báo Giáo dục và Thời đại - Báo Người cao tuổi - Hệ Phát thanh có hình Đài TNVN… và Websttelucbat.com phối hợp tổ chức).. Bài thơ mang số phận đặc biệt khi đề tài và ngôn ngữ đã được hiện đại hóa một cách táo bạo, thậm chí chấp nhận những thử nghiệm “thất vận” để ưu tiên cảm xúc và tính đương đại. Khi đó, việc tiễn người yêu nơi phi trường là hình ảnh rất mới, đối lập với hình ảnh tiễn biệt “đăng cao hữu hoài” trong thơ cổ, hay những cảnh tiễn đưa bên bờ sông, hay bên cầu như thơ hiện đại. Tứ thơ độc đáo này được diễn tả bởi một cấu tứ đối lập mạnh mẽ:
Tiễn em lên máy bay(3)
Máy bay đưa em lên cao
Thế là ta bé tèo teo dưới này
Bàn tay vừa nắm bàn tay
Rồi ra mù mịt đám mây bầu trời
Em làm một cuộc rong chơi
Mà xem thiên hạ nói lời vàng son
Bây giờ ta bé con con
Em lên chút nữa không còn thấy ta
Rồi ta về với mẹ già
Với ao rau muống ruộng nhà mưa chan
Với bờ hoa lý hoa lan
Với hàng dương xỉ buồn tan vào chiều
Ta về ngõ nắng như rêu
Rêu như áo mẹ bạc nhiều năm phơi
Em đi một chuyến lên trời
Biết đâu rồi lại một đời cách ta.
(7.2008)
Hình ảnh đối lập giữa một bên là đối tượng trữ tình “lên cao”, “rong chơi”, “lên trời” tận hưởng cảm giác thăng hoa ở một không gian khoáng đạt, mênh mông với một bên là nhân vật trữ tình ở “dưới này”, bé “tèo teo”, “về với mẹ già”, về với “ngõ nắng như rêu”,… Đó không chỉ là sự đối lập về khoảng cách vật lí, mà còn gợi về những đối lập địa vị cao - thấp, đối lập giữa truyền thống - hiện đại,… Cái tôi trữ tình không mang tâm trạng nhớ nhung của một người trong cảnh chia ly cách biệt như nhiều cuộc chia tay khác, mà tràn ngập trong tâm trạng lại là nỗi mặc cảm thân phận “Ta bé tèo teo dưới này”, cùng với nỗi lo lắng sự đổi thay của người ra đi. Liệu chuyến đi ấy, khoảng cách ấy có là một mất mát không gì bù đắp được? Câu thơ kết đầy day dứt, băn khoăn: “Em đi một chuyến lên trời/ Biết đâu rồi lại một đời cách ta”. Đó không chỉ còn là câu hỏi đặt ra cho một mối quan hệ lứa đôi, mà hơn hết, nó còn là những dự cảm của cái tôi trữ tình về sự đổ vỡ những giá trị truyền thống. Hình ảnh cái tôi trữ tình đơn độc trở về với ruộng vườn, với gia đình thân thương khơi gợi nỗi xót xa, trống trải và cả những lo lắng mơ hồ về một ngày không xa, còn ai chịu về với cội nguồn văn hoá truyền thống chăng?
***
Không dừng lại ở sự sáng tạo tứ thơ, hình ảnh thơ, Bình Nguyên tiếp tục bộc lộ tài sáng tác thơ lục bát với lần vinh danh thứ tư năm 2014 trong cuộc thi thơ của Báo Người Hà Nội với chủ đề: Nhịp sống mới trong thơ. Chùm thơ hai bài “Phận cha”(4) và “Dấu chân”(4) một lần nữa tô đậm dấu ấn phong cách thơ Bình Nguyên: một giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng mà day dứt, ám ảnh phận người.
“Phận cha” là lời của chính người cha tâm sự về cuộc đời trớ trêu, ngang trái của mình. Khi thác xuống rồi cha vẫn day dứt khôn nguôi bởi khi còn sống không đủ dũng khí nhận con để đến giờ khi thác xuống, không còn cơ hội nhận con, không trả được món nợ máu mủ ruột già: “Cớ gì chẳng dám nhận nhau/Nỗi gì mà đợi kiếp sau tỏ bày”, “Nợ con không trả được rồi/ Cha mang thương nhớ lở bồi đi xa/ Trời ơi giọt máu của cha/ Mà sao mang họ người ta thế này…”. Và cứ thế nỗi đau theo cha mãi mãi: “Rồi cha về đất, xa trời/ Không gỡ nổi cái rối bời đâu con…”. Rõ ràng, tinh thần phản tư của cái tôi trữ tình trong bài thơ rất mãnh liệt. Ngay cả khi không còn sự sống, linh hồn người cha vẫn tiếp tục nghĩ suy về những điều đã làm trong cõi dương thế. Sự cô đơn tiếc nuối lẫn ân hận, xót xa dày vò tâm tưởng cha, khiến thân thể đã thác mà lòng còn vấn vương chưa dứt. Tứ thơ gợi về một triết lí “chết không phải là hết”, mà đó là một hành trình mới đầy đơn độc, lạnh lẽo với bao tiếc nuối, hoài nghi và ân hận nếu ta không dũng cảm đối mặt với thực tại.
Ở bài “Dấu chân”, triết lí sống lại được thể hiện một cách siêu hình, đậm chất biểu tượng.
Dấu chân
Ngã vào đất lại bám trời
Dấu chân bám đất một thời đấy em
Ngã vào ngày lại bám đêm
Ngã vào đêm bước dài thêm đến ngày
Bao nhiêu sắc nhọn đời này
Bấy nhiêu những vết chai dầy đi qua
Ngã vào bão gió trong ta
Bước lên những gập gềnh xa lại còn
Ngã vào núi bám chon von
Ngã vào khuyết để biết tròn mai sau
Dấu chân không ở trên đầu
Mà xanh nguyên thuỷ như mầu cỏ xưa
Ngã vào nắng lại bám mưa
Dẫu nghìn mưa nắng đâu chừa dấu chân
Thế gian bước lại cho gần
Trăm năm những dấu chân trần bên nhau
Còn bao nhiêu dấu chân đâu
Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy…
(3.2012)
Những dấu chân in dọc ngang trời đất, những dấu chân hằn trên đá núi, những dấu chân đóng vào những nắng mưa, những dấu chân ngã vào bão gió, gập ghềnh… Theo dấu chân ấy, ta thấy cả phận đời cơ cực của người lao động, trong đó có mẹ, có cha ta. Những dấu chân trần vẫn “xanh nguyên thuỷ như màu cỏ xưa” ấy luôn biết xích lại bên nhau, cùng nhau vượt mọi chông gai thử thách. Cũng có những dấu chân đã phai mờ theo năm tháng, những dấu chân đã được bọc trong dấu giầy… Những dấu giầy có thể bước ngày một xa nhau… Lại là một triết lý về cái còn - mất, cái sang - hèn, cái sướng - khổ ở đời. Suy cho cùng, cái tôi trữ tình Bình Nguyên dù nói về phận ai, về mối quan hệ nào cũng đều xuất phát từ nỗi lo âu sai lệch, đổ vỡ, mất mát… nên giọng thơ không thể cất cao được mà luôn chùng chình, giăng mắc nơi đời sống nhân gian. Có lẽ bởi thế mà đọc thơ Bình Nguyên, cái dư vị buồn thương, yêu mến cứ tha thiết, thấm sâu đến vậy.
Độc giả còn nhớ và đọc lại cho nhau nghe nhiều câu thơ tuyệt bút của Bình Nguyên, những câu thơ có sức mạnh tách ra đứng độc lập như một chân lý, như một danh ngôn giàu giá trị. Chẳng hạn như câu: “Ngỡ bầu bạn của ta đông/ Tan sương mới thấy trống không con đường.”(Lãng đãng thơ)(2), hay “Cầm đồng xu lấm vị bùn/ Như cầm lên cái run run phận người (Chợ Cát (2); “Qua bao chìm nổi bóng hình/ Muốn trong thì gạn lấy mình mà trong...”(Với sông(4) … Càng về sau, thơ Bình Nguyên càng đằm sâu triết lí, càng mang tinh thần hiện sinh của thời đại, nhưng vẫn trong hình hài một thể thơ truyền thống của dân tộc.
***
Nhìn lại những thành quả đạt được của Bình Nguyên, độc giả có thể nhận ra được tinh thần sáng tạo bền bỉ, và sự nghiêm cẩn tuyệt đối của người cầm bút. Mỗi tác phẩm thơ của Bình Nguyên là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ý thức kế thừa thơ truyền thống và sự sáng tạo về cấu tứ, cách diễn đạt trong thơ. Trong khi nhiều nhà thơ cùng thời, như một số đại diện của khuynh hướng thơ “mới lạ”, hoặc thơ “tối giản” đang nỗ lực tìm kiếm sự đột phá bằng cách phá vỡ cấu trúc và luật lệ của thể thơ dân tộc, Bình Nguyên lại chọn đi sâu vào tô điểm cho lục bát để thổi vào đó những nguồn cảm hứng triết lý và siêu thực đậm chất hiện sinh. Đó là cảm thức thân phận nặng trĩu và tư duy nghệ thuật hiện đại dung hoà trong hình hài một thể thơ vốn nhịp nhàng, êm ái, du dương. Khác với giọng thơ Nguyễn Duy đậm chất chính luận và tính thời sự, hay tiếng thơ của Đồng Đức Bốn thiên về sự mượt mà, thuần khiết của ngôn từ dân gian, Bình Nguyên lại mở ra một không gian mơ hồ, siêu thực, đậm chất biểu tượng vượt ra khỏi ranh giới của chủ nghĩa hiện thực thông thường.
Chính nhờ sự “chuyển dịch thi pháp” đầy bản lĩnh này, Bình Nguyên đã khắc phục được sự mòn xáo thường gặp của thơ lục bát, mở một con đường mới đi vào trái tim người đọc. Thơ lục bát Bình Nguyên đã góp phần khẳng định một chân lý nghệ thuật: thể thơ truyền thống vẫn hoàn toàn có thể trở thành nền tảng vững chắc để khám phá những miền đất nghệ thuật giàu chất tạo hình, vượt lên trên phạm vi địa phương để trở thành một tiếng nói quan trọng, góp phần làm giàu và làm mới di sản lục bát trong thế kỷ XXI.
TLTK: 1. Bình Nguyên (2004). Trăng đợi. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học; 2.Bình Nguyên (2006). Đi về nơi không chữ. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học; Bình Nguyên (2010). Lang thang trên giấy. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học; 3.Bình Nguyên (2018). Trăng hẹn một lần thu. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học; 4.Lê Văn Vỵ (2022). Phỏng vấn nhà thơ Bình Nguyên về Bàn tay mang phép nhiệm màu..
V.N.K.P
(Nguồn: TC VNNB số 316 - 02/2026)