Chủ nhật, 07/12/2025

Không gian địa - văn hóa đặc biệt của Ninh Bình

Thứ sáu, 14/11/2025

TS. ĐINH VĂN VIỄN

 

1. Vị trí chiến lược: Cửa ngõ Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ - Duyên hải Bắc Bộ.

Trong bản đồ lịch sử - văn hóa Việt Nam, Ninh Bình giữ vị trí chiến lược đặc biệt: là cửa ngõ phía Nam đồng bằng sông Hồng, đồng thời nối kết Bắc Bộ với Bắc Trung Bộ và vùng duyên hải Đông Bắc. Vị thế này không chỉ đem lại lợi thế giao thông, kinh tế, quân sự, mà còn định hình một không gian địa - văn hóa đặc biệt.

Từ rất sớm, hệ thống giao thông đa dạng đã tạo nên mạch kết nối giữa con người và cảnh quan: đường bộ với con đường Thiên lý, quốc lộ 1A, quốc lộ 10, cao tốc Bắc - Nam; đường sắt xuyên Việt đi qua, liên kết các trung tâm kinh tế - văn hóa; đường thủy với sông Hồng, sông Đáy, Ninh Cơ, Châu Giang… hình thành mạng lưới đường thủy nối Thăng Long - Hoa Lư - Thiên Trường với biển lớn. Cửa Ba Lạt và vùng Kim Sơn - Giao Thủy mở ra cánh cửa hội nhập quốc tế từ sớm. Chính nhờ đó, Ninh Bình trở thành điểm hội tụ và giao thoa các dòng chảy văn hóa: núi rừng, đồng bằng lúa nước và ven biển.

Trong lịch sử, địa - văn hóa gắn bó mật thiết với địa - chính trị. Việc chọn Hoa Lư làm kinh đô thế kỷ X không phải do là quê hương Đinh Bộ Lĩnh, mà quan trọng hơn do địa thế hiểm yếu “núi liền núi, sông liền sông”, như một pháo đài tự nhiên, giúp ông dẹp loạn 12 sứ quân và lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.

Sang thời Trần, phủ Thiên Trường trở thành “kinh đô thứ hai”, còn Trường Yên là hậu cứ chiến lược của Thăng Long. Tại đây, quân lương được tích trữ, binh sĩ rèn luyện, góp phần quyết định vào ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông. Các chiến thắng Bạch Đằng, Vân Đồn, Ba Lạt … đều in dấu sự hậu thuẫn của căn cứ Thiên Trường.

Thời Lê, Nguyễn, vùng đất này tiếp tục giữ vai trò lá chắn phía Nam kinh thành Thăng Long, là địa bàn đặt trấn thành, đồn lũy, vừa bảo vệ kinh đô, vừa kiểm soát hành lang biển.

Đến thời cận - hiện đại, Ninh Bình là địa bàn trọng yếu của hậu phương miền Bắc Xã hội chủ nghĩa. Nhân dân nơi đây vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Nhiều trận đánh quan trọng đã chứng minh tầm quan trọng chiến lược của vùng đất này trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Xuyên suốt lịch sử, Ninh Bình luôn là “lá chắn” vững chãi phía Nam Thăng Long, là hậu phương kiên định trong bảo vệ quốc gia, đồng thời là tiền tuyến nóng bỏng trong những thời khắc quyết định. Chính vai trò kép ấy đã hun đúc truyền thống yêu nước, bất khuất và bản lĩnh kiên cường của con người Ninh Bình, đồng thời khẳng định vị thế không thể thay thế của vùng đất này trong cấu trúc an ninh - quốc phòng dân tộc.

2. Đặc điểm tự nhiên đa dạng: Nền tảng hình thành bản sắc văn hóa. Hệ sinh thái đa dạng của Ninh Bình mới - vùng lãnh thổ được hợp nhất từ ba tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam - đã kiến tạo nên một “khung nền” sinh thái - văn hóa đặc biệt. Nơi đây, núi đá vôi, đồng bằng châu thổ, vùng cửa sông - biển cùng hệ thống sông ngòi - hồ đầm đan cài, vừa nuôi dưỡng sự sống, vừa hun đúc nên bản sắc của một vùng đất hội tụ và lan tỏa.

Núi đá vôi và vùng karst mở rộng

Trải dài ở phía Tây và Tây Bắc Ninh Bình, hệ thống karst đá vôi không chỉ tập trung tại Tràng An - Tam Cốc - Bích Động mà còn lan rộng tới các dải núi thấp thuộc Thanh Sơn, Thanh Thủy, Ba Sao… và vùng đệm chân núi. Đây là sự kéo dài của dãy Trường Sơn Bắc ra rìa đồng bằng, tạo nên cảnh quan núi đá trùng điệp. Đặc trưng nổi bật là núi vôi dựng đứng, thung lũng khép kín, sông ngầm và quần thể hang động kỳ vĩ - một di sản địa chất hiếm có của Việt Nam.  Quần thể Tràng An - Tam Cốc - Bích Động giữ vai trò trung tâm của hệ thống karst, song trong không gian tỉnh Ninh Bình, vùng liên kết được mở rộng và lan sang các dãy núi thấp giáp đồng bằng. Nhiều mái đá, hốc đá và hang động nơi đây từng lưu giữ dấu tích người Việt cổ, khẳng định vai trò vùng núi này như cái nôi tiền sử của cư dân. Từ góc độ sinh thái, khu vực đá vôi là nơi cư trú của nhiều loài đặc hữu, gắn liền với rừng nguyên sinh đa dạng sinh học. Từ góc độ nhân văn, núi đá vôi không chỉ là dạng địa hình đặc thù mà còn là “khung thiêng” của đời sống tâm linh, nơi chùa hang, động thờ, đường mòn cổ hòa nhập với vách đá, phản ánh sâu đậm tín ngưỡng núi - nước của người Ninh Bình.

Đồng bằng châu thổ

Chiếm phần lớn diện tích, đồng bằng của Ninh Bình mới là sản phẩm lâu dài của quá trình bồi tụ phù sa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Đào. Đây là vùng đất phì nhiêu, bằng phẳng, từ lâu trở thành nền tảng cho nền văn minh lúa nước. Trên đất đồng bằng, cư dân hình thành hệ thống làng xã dày đặc. Mỗi làng là một đơn vị kinh tế - xã hội - văn hóa, nơi gắn kết cộng đồng bằng việc trị thủy, đắp đê, điều tiết nước. Chính môi trường thủy văn ấy đã sản sinh tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng bền chặt - đặc điểm cốt lõi của văn hóa làng xã ở Ninh Bình. Đồng bằng Ninh Bình còn là không gian của sự đa dạng sinh thái: từ đồng chiêm trũng, những cánh đồng ven sông đến vùng bãi bồi ven cửa sông. Người dân vừa thích nghi với đất ngập nước, vừa sáng tạo trong sinh kế. Trên nền tảng ấy, nhiều làng nghề truyền thống đã ra đời: dệt chiếu cói Kim Sơn, thêu ren Văn Lâm, chạm đá Ninh Vân, đúc đồng Ý Yên, ươm tơ dệt lụa Cổ Chất… Đồng bằng vì thế không chỉ là “vựa lúa” mà còn là “vựa văn hóa” phong phú.

Vùng cửa sông - biển.

 Phía đông Ninh Bình là dải ven biển Kim Sơn, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thủy, nơi phù sa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ đổ ra biển. Đây là vùng đất “trẻ”, liên tục bồi tụ, với hệ sinh thái ngập mặn tạo thành không gian giao thoa sinh thái đặc trưng.Các cửa Ba Lạt, Đáy, Ninh Cơ, Lạch Giang… tạo thành mạng lưới thủy văn phức tạp, hình thành bãi bồi rộng lớn, ngư trường phong phú. Vườn quốc gia Xuân Thủy - khu Ramsar lớn của Việt Nam - là minh chứng rõ rệt cho giá trị sinh thái độc đáo của vùng cửa sông - biển. Không gian vùng ven biển cũng in đậm dấu ấn của quá trình chinh phục thiên nhiên đầy bản lĩnh của cư dân Việt. Lịch sử khai hoang lấn biển, mà điển hình là công cuộc khai hoang do Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức ở thế kỷ XIX, đã biến những vùng đất bồi hoang vu thành những vùng đất ở Kim Sơn, Kiên Trung, Hoàng Nha, Ninh Nhất… trù phú.  Quá trình "quai đê lấn biển" đầy gian khó ấy không chỉ mở rộng lãnh thổ mà quan trọng hơn, đã hun đúc nên một kiểu tính cách đặc trưng: kiên cường trước sóng gió, năng động trong sinh kế và sáng tạo trong ứng xử với môi trường. Đây là cuộc đối thoại không ngừng giữa ý chí con người và sự vận động của tự nhiên, nơi những thế hệ cư dân liên tục thích nghi và cải tạo không gian sống.

Hệ thống sông ngòi

Ninh Bình được bao bọc và nuôi dưỡng bởi mạng lưới sông ngòi dày đặc. Các sông lớn như Hồng, Đáy, Ninh Cơ, Châu Giang, Hoàng Long, Vân, Vạc, Lạng, Sào Khê … cùng hàng loạt phụ lưu, chi lưu tạo thành “mạch máu” thủy văn. Chúng vừa cung cấp nguồn nước, phù sa cho sản xuất, vừa đóng vai trò trục giao thông huyết mạch nối núi - đồng bằng - biển. Trong lịch sử, các bến sông, cửa cảng như Ba Lạt, Đáy, Lạch Giang… từng là cửa ngõ giao thương quan trọng. Dọc theo sông là những tụ điểm cư trú, những làng nghề thủ công, những lễ hội gắn với tín ngưỡng thủy thần và sinh hoạt sông nước. Hệ thống hồ đầm như Tam Chúc, Đồng Chương, Yên Thắng, Vân Long, Kẽm Trống… vừa điều hòa sinh thái, vừa là cảnh quan hấp dẫn. Như vậy, sự đa dạng tự nhiên của Ninh Bình - từ núi đá vôi hùng vĩ, đồng bằng châu thổ phì nhiêu, cửa sông - biển bồi tụ, đến mạng lưới sông ngòi dày đặc - đã kiến tạo nên nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng. Tự nhiên không chỉ nuôi dưỡng sinh kế mà còn hun đúc bản lĩnh con người. Nếu núi đá vôi mang lại yếu tố linh thiêng và phòng thủ, đồng bằng gắn với lúa nước và làng xã, cửa sông - biển mở ra giao lưu, thì sông ngòi lại kết nối toàn vùng. Trên nền tảng sinh thái ấy, bản sắc văn hóa Ninh Bình được hình thành - vừa đa dạng, vừa thống nhất, vừa bền vững trong dòng chảy lịch sử.

3. Tính hội tụ và giao thoa văn hóa: Đa dạng trong thống nhất

Sự phong phú về địa hình, hệ sinh thái và lịch sử cư trú đã tạo cho Ninh Bình một không gian văn hóa đặc sắc, nơi nhiều lớp giá trị giao thoa và hòa quyện. Đây là vùng đất vừa bảo tồn được truyền thống văn hóa lâu đời, vừa không ngừng mở ra những kênh tiếp biến mới, làm nên tính đa dạng trong thống nhất.

3.1.Sự gặp gỡ của ba tiểu vùng văn hóa sinh thái: Núi - Đồng bằng - Biển. Hiếm có nơi nào ở đồng bằng Bắc Bộ hội tụ đầy đủ ba dạng địa hình chủ đạo - núi đá vôi, đồng bằng phù sa và dải ven biển - như Ninh Bình. Mỗi tiểu vùng mang những đặc trưng văn hóa riêng, khi kết hợp lại đã tạo nên một tổng thể giàu sức sống:

Văn hóa vùng núi đá vôi : Ở Ninh Bình phản ánh rõ mối quan hệ mật thiết giữa con người và cảnh quan karst đặc thù. Cư dân từ xa xưa đã lựa chọn định cư trong các thung lũng karst, nơi có đất đai màu mỡ và nguồn nước từ suối ngầm, vừa thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, vừa kết hợp với các nghề phụ khác để bổ sung sinh kế. Không gian núi đá vôi, với hệ thống hang động kỳ vĩ, đã trở thành nơi cư trú, đồng thời cũng là chốn linh thiêng gắn liền với tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng thờ thần Núi - sớm được hình thành và hòa quyện cùng Phật giáo khi tôn giáo này du nhập. Những ngôi chùa hang, động thờ xuất hiện, tạo dựng một không gian tâm linh đặc biệt, nơi thiên nhiên hùng vĩ và văn hóa tinh thần cùng hòa quyện. Tiêu biểu là Quần thể danh thắng Tràng An - Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam, đồng thời cũng là di sản hỗn hợp duy nhất ở Đông Nam Á.

Văn hóa vùng đồng bằng châu thổ ở Ninh Bình là kết tinh của nền văn minh lúa nước lâu đời, nơi phương thức canh tác nông nghiệp định hình nên nếp sống làng xã ổn định, bền chặt. Trên cơ sở trị thủy và khai thác đất phù sa, cư dân đồng bằng đã hình thành một mạng lưới làng xã dày đặc, mỗi làng như một đơn vị khép kín nhưng lại gắn kết trong chỉnh thể vùng. Chính nhu cầu đoàn kết để đắp đê, dẫn thủy nhập điền đã hun đúc nên tinh thần cố kết cộng đồng, tính tương thân tương ái - những giá trị nền tảng làm nên bản sắc làng xã người Việt ở Ninh Bình. Đồng bằng cũng là nơi phát tích nhiều danh nhân văn hóa, từ Trương Hán Siêu, Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền đến Nguyễn Bính, Vũ Duy Thanh,… khẳng định truyền thống hiếu học và trọng đạo lý. Đồng thời, đây cũng là vùng đất bảo lưu hệ thống làng nghề truyền thống phong phú: chiếu cói Kim Sơn, thêu ren Văn Lâm, mộc La Xuyên, trống Đọi Tam, dệt Nha Xá, đúc đồng Ý Yên, chạm khắc đá Ninh Vân… - tất cả tạo nên một “vựa văn hóa” bên cạnh “vựa lúa”. Không gian đồng bằng còn là cái nôi của tín ngưỡng nông nghiệp, với lễ hội cầu mưa, lễ xuống đồng, tục thờ Thành hoàng làng…, phản ánh mối giao hòa mật thiết giữa con người và thiên nhiên, giữa văn minh thủy lợi và đời sống tâm linh cộng đồng.

Văn hóa vùng ven biển ở Ninh Bình mang đậm sắc thái mở, linh hoạt và phóng khoáng, phản ánh sự thích ứng sáng tạo của cư dân với không gian cửa sông - bãi bồi luôn biến động. Quá trình quai đê, lấn biển, đặc biệt gắn với công cuộc khai khẩn của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ thế kỷ XIX, không chỉ mở mang lãnh thổ mà còn hình thành nên những cộng đồng cư dân mới, hun đúc tinh thần kiên cường, dám nghĩ dám làm. Từ nền tảng sinh kế nông - ngư kết hợp, người dân nơi đây phát triển các tín ngưỡng đặc thù như thờ Thủy thần, tôn thờ các bậc tiền nhân khai hoang. Đồng thời, vùng biển - cửa sông cũng là cửa ngõ tiếp biến văn hóa quốc tế sớm nhất, nơi các luồng tư tưởng và tôn giáo nước ngoài hội nhập, tiêu biểu là sự du nhập và lan tỏa của Công giáo. (Ninh Cường là vùng đất đầu tiên tiếp nhận Công giáo ở nước ta, Phát Diện, Bùi Chu, Sở Kiện… là những trung tâm Công giáo lớn).

Như vậy, ba tiểu vùng văn hóa – sinh thái của Ninh Bình đã tương tác, gặp gỡ và bổ sung cho nhau, kiến tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng nhưng thống nhất, liên tục và đồng bộ, trải dài từ núi đá vôi hùng vĩ, qua đồng bằng châu thổ màu mỡ, tới không gian ven biển - cửa sông năng động, phản ánh mối quan hệ gắn kết giữa thiên nhiên, con người và văn hóa trong toàn tỉnh.

3.2.Sự đa dạng và hòa hợp tôn giáo - tín ngưỡng Ninh Bình còn là một minh chứng điển hình cho sự chung sống hài hòa giữa các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian, tạo nên một không gian văn hóa phong phú và giàu sức hội tụ.

Phật giáo ở đây có truyền thống lâu đời, từ các ngôi chùa thời Đinh - Lê ở Hoa Lư, chùa Tam Chúc, đến các trung tâm Phật giáo thời Trần ở Nam Định (Phổ Minh, Tháp), cùng những ngôi chùa nổi tiếng khác như Keo Hành Thiện, Cổ Lễ… Chùa Bái Đính và chùa Tam Chúc hiện nay trở thành hai trung tâm Phật giáo lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á.

Nho giáo để lại dấu ấn đậm nét trong văn hóa, lối sống, đời sống học thuật và khoa bảng của vùng. Các làng khoa bảng như Hành Thiện, La Ngạn, Côi Trì, La Mai, Châu Cầu… đã sản sinh nhiều tiến sĩ, danh sĩ, góp phần định hình truyền thống hiếu học và trọng đạo lý. Hệ thống văn từ, văn chỉ ở các làng xã cùng Văn Miếu Xích Đằng là minh chứng về sự lan tỏa sâu rộng của Nho học trong cộng đồng.

 

Hang Múa Ninh Bình                                                                                                                                                    Ảnh: VŨ ĐỨC PHƯƠNG

 

Tín ngưỡng dân gian cũng mang sắc thái đặc biệt. Nổi bật là tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, trung tâm tại đền Trần Nam Định, và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với trung tâm Phủ Dầy. Song song, một hệ thống lễ hội trải dài từ miền núi đến đồng bằng, ven biển như Lễ hội Hoa Lư, Lễ hội đền Thái Vi, Lễ hội chùa Bái Đính, Lễ hội Tràng An, Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, Lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội Đền Trần, Chợ Viềng, Tịch Điền Đọi Sơn,… đã trở thành những không gian sinh hoạt cộng đồng có tầm vóc quốc gia, vừa gìn giữ tín ngưỡng bản địa vừa bồi đắp sức mạnh cộng đồng.

Công giáo cũng có truyền thống lâu đời và vị thế nổi bật ở Ninh Bình mới. Nhà thờ đá Phát Diệm - công trình giao thoa kiến trúc Đông - Tây - được coi là biểu tượng văn hóa độc đáo, trong khi Tòa Giám mục Sở Kiện và giáo phận Bùi Chu khẳng định vai trò trung tâm tôn giáo của vùng châu thổ trong lịch sử Công giáo Việt Nam. Sự hiện diện của Công giáo với cộng đồng tín đồ đông đảo đã bổ sung thêm chiều kích mới cho đời sống văn hóa - tinh thần của địa phương.

Nhìn tổng thể, sự hội tụ và tương tác giữa Phật giáo, Nho giáo, Công giáo cùng tín ngưỡng dân gian bản địa đã kiến tạo nên một bản sắc văn hóa đặc biệt: đa dạng mà hài hòa, phong phú mà thống nhất, truyền thống mà cởi mở. Ninh Bình có hơn 5.069 di tích lịch sử - văn hóa các loại1, trong đó có 08 Di tích quốc gia đặc biệt (gồm: Đền Trần Thương, chùa Đọi Sơn, đền Xám, cụm đền Trần - chùa Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, Cố đô Hoa Lư, quần thể Tràng An - Tam Cốc - Bích Động và danh thắng Núi Non Nước); 265 di tích cấp quốc gia, 784 di tích cấp tỉnh và nhiều bảo vật quốc gia. Đến nay, Ninh Bình có 493 di sản văn hóa phi vật thể, trong có có 33 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia2, với 720 lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian. Đây chính là sức mạnh mềm của Ninh Bình, giúp vùng đất này trở thành “không gian địa - văn hóa đặc biệt” của châu thổ sông Hồng và cả nước.

Tóm lại, không gian địa - văn hóa Ninh Bình hiện hữu như một sinh thể lịch sử - văn hóa đặc biệt, nơi địa lý, lịch sử và văn hóa không chỉ đồng tồn tại mà còn xuyên thấm và cộng hưởng, tạo nên một chỉnh thể đa tầng ý nghĩa. Vùng đất này vừa là “bảo tàng sống” lưu giữ các trầm tích văn hóa từ buổi đầu dựng nước, vừa là một giao điểm hội tụ, nơi các dòng chảy tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa gặp gỡ, dung hợp và lan tỏa. Bản sắc Ninh Bình, vì vậy, không phải thực thể tĩnh tại, mà là một quá trình vận động liên tục, vừa kế thừa sâu dày, vừa gợi mở những chân trời mới, phản ánh nhịp điệu sống động của văn hóa Việt trong dòng chảy lịch sử.

Từ góc nhìn hệ thống, Ninh Bình nổi bật như một không gian địa - văn hóa chiến lược, một “mô hình vi mô” giàu tính biểu tượng trong cấu trúc văn hóa quốc gia. Đây không chỉ là di sản - “ký ức không gian” cần bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững: vừa củng cố căn tính cộng đồng, vừa nâng cao vị thế của văn hóa Ninh Bình, Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vượt lên khái niệm một đơn vị hành chính, Ninh Bình thực sự là một tiểu vùng văn hóa tiêu biểu, nơi cổ kính và hiện đại, truyền thống và sáng tạo cùng đồng hiện. Nơi đây trở thành một biểu tượng thu nhỏ cho hành trình văn hóa Việt Nam: từ cội nguồn bản địa vững chắc đến khát vọng hội nhập toàn cầu mà vẫn giữ trọn bản sắc riêng.

TLTK:1. UBND tỉnh Ninh Bình (2025), Đề án hợp nhất tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Định thành tỉnh Ninh Bình, Ninh Bình, ngày 21 tháng 8 năm 2025.2. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2010), Địa chí Ninh Bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định (2001), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định (1930-1975), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tập I (1930-1954), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

 

 Chú thích:1. Đề án phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. 2. Đề án phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, định hướng đến năm 2045

(Nguồn: TC VNNB số 310 - 9/2025)

Bài viết khác