Tản văn của PHẠM NGỌC KIỂM
Hồi xa xưa từ thành phố Nam Định về đến quê tôi chỉ có một con đường đất độc đạo đi qua các huyện Nam Trực, Trực Ninh, qua đò Lạc Quần vòng lên rồi mới về đến quê. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Nam Định họ nâng cấp mở rộng mặt đường rải đá dăm cho xe cơ giới đi lại, mở bến phà Lạc Quần nối hai bờ sông Ninh. Con đường huyết mạch này dài gần 40 cây số được đặt tên là đường quốc lộ 21B.
Người dân quê tôi mỗi khi lên tỉnh phải qua con đường đó. Người có tiền đi xe khách xe ngựa, người không có tiền thì đi bộ nửa ngày đường mới tới thành phố. Con đường vừa xa vừa khó đi vì lởm chởm đá dăm lại ngược xuôi xe cộ đan nhau bụi mù .
Ngại đường xa mọi người thường đi tắt qua bến đò Mom Rô để lên thành phố. Qua đò đi bộ dăm cây số đường đê là lên đến Cổ Lễ. Từ Cổ Lễ lên tỉnh lỵ chỉ hơn chục cây số nữa đã có xe ngựa. Có người tiện chân đi bộ đến tận thành phố. Con đường tắt này rút ngắn được những hơn mười cây số vừa nhanh vừa tiết kiệm thời gian.
Bến đò này nằm ở mom đất nhô ra gần ngã ba sông trông giống như đầu con cá rô, người ta đặt tên cho nó là bến đò Mom Rô. Cây đa cổ thụ tán lá xum xuê rễ buông tua tủa, thân sần sùi theo năm tháng đứng sừng sững bên cạnh bến đò. Chiếc quán nước đơn sơ nằm nép mình khiêm tốn bên gốc đa. Khách sang sông nhỡ chuyến ngồi bên quán nước nhâm nhi cốc nước vối cho đỡ nóng hoặc rít điếu thuốc lào cho khoan khoái chờ đò.
Chả biết bến đò hình thành từ năm nào nhưng từ năm 1879, trong cuốn “Tân biên Nam Định địa dư chí” của Tam giáp Tiến sỹ Khiếu Năng Tĩnh, người phủ Thiên Bản đã ghi rằng: đò Mom Rô là một trong những bến đò cổ nằm trên dòng sông Lác gần ngã ba sông, nối liền huyện Chân Ninh (sau này gọi là huyện Trực Ninh) với phủ Xuân Trường (sau này gọi là huyện Xuân Trường).
Đây là ngã ba giao cắt giữa sông Hồng và sông Ninh Cơ. Từ xa xưa con sông Hồng chảy đến đây rồi phân nhánh. Nhánh chính đổ ra biển theo cửa Ba Lạt. Nhánh phụ là con sông Lác sau này gọi là sông Ninh Cơ đổ ra biển theo cửa Lạch Giang. Hai dòng sông ôm lấy ba huyện Xuân Trường, Giao Thủy và Hải Hậu tạo nên vùng đồng bằng trù phú, đất đai màu mỡ, thẳng cánh cò bay nằm ven biển phía Nam đồng bằng Bắc bộ.
Mỗi khi từ thành phố về quê, chúng tôi lọc cọc đạp xe đạp trên con đường đê từ Cổ Lễ tắt ra bến đò. Lần này cũng vậy, tôi phóng xe máy trên đường đê lần theo lối cũ về quê qua bến đò xưa để xem có thay đổi gì không.
Vẫn con đò gỗ nằm lênh đênh ở đầu mom bên kia chờ khách. Ráng chiều chạng vạng hắt tia nắng vàng yếu ớt lên mặt sông lăn tăn gợn sóng. Mùa nước lên, mặt sông mênh mang trải rộng. Sông Ninh đón lấy dòng nước từ sông Hồng thấm đẫm phù sa nhập dòng. Dựng xe bên gốc đa bến đò, tụt chiếc dép làm ghế ngồi, tôi đăm đăm hướng về bến quê lặng lẽ chờ đò.
Bên kia sông là quê rồi. Một miền quê đau đáu nhớ nhung qua bao năm xa cách. Giữa cái trống vắng mênh mang của chiều tà tôi càng thêm nôn nóng muốn mong qua sông càng sớm để về quê gặp Mẹ. Tôi sốt ruột đưa tay cất tiếng gọi đò:
- Đò ơi !...Đò ơi…!
Không gian mênh mông tĩnh lặng như nuốt chửng tiếng gọi đò của tôi. Một lúc sau, bên kia đò mới nhổ neo sang bến. Trên đò chỉ có hai người đàn bà đang mải mê nói chuyện. Họ vừa đi chợ làng Hành Thiện bán rau về. Cặp môi họ đỏ au vì miếng trầu đang nhai giở.
Tôi lên đò. Đò chỉ có một mình tôi. Thấy tôi chờ lâu sốt ruột, hướng lên đường đê thấy không còn khách, người lái đò nhanh chóng nhổ sào quay đò xuất bến rồi hối hả nhịp khua mái chèo. Con đò rẽ sóng sang ngang. Tôi ngồi trên mạn đò đưa tay khỏa làn nước phù sa nâu sẫm mát lạnh. Gió quê thoang thoảng, sông quê phẳng lặng, chiều quê mênh mang, trời quê xanh ngăn ngắt thỉnh thoảng có dải mây như mảnh lụa trắng lang thang bảng lảng trên sông.
Bến đò này 100 năm trước, năm 1925 nhà thơ Sóng Hồng cũng đã đi qua. Tuổi thơ ông đã đi qua bến đò này đến với trường Thành Chung Nam Định để học rồi đi tiếp lên chiến khu Việt Bắc cho đến khi cách mạng thành công. Miền quê văn hiến giàu có, ngọt bùi đắng cay đi vào thơ ông từ đó. Con đò xưa đưa ông sang sông xa quê đến với chân trời cách mạng để rồi ông đã trở thành một tên tuổi lớn: Trường Chinh. Ba mươi năm sau ông trở thành vị lãnh đạo tối cao của đất nước. Lần đầu tiên về thăm quê, ông vẫn không quên bến đò Mom Rô thuở ấy và đòi ra bằng được để thăm lại bến đò xưa. Đứng trên bến đò, ông nhìn sang phía bờ bên kia trầm ngâm. Những kỷ niệm từ ngày đầu ra đi làm cách mạng ùa về trong ký ức ông.
Bến đò ấy đã đưa biết bao người mẹ qua sông để đi sang chợ Chùa chợ Phủ mua khoai mua lạc, khi về không quên mua thêm đồng bánh đa chợ Chùa, bánh đúc chợ Phủ làm quà cho con.
Bến đò ấy đã đưa biết bao người con quê tôi qua sông, từ đời này qua đời khác, tỏa đi khắp bốn phương trời sinh cơ lập nghiệp. Bao nhiêu người qua bến đò này ra đi đã trở thành nhân sỹ trí thức tiêu biểu, những sỹ quan, tướng lĩnh và những công nhân ưu tú. Họ đều qua bến đò này để ra đi, rồi cũng qua bến đò này trở về nơi chôn nhau cắt rốn. Có người trở thành anh hùng, có người đã không trở về đất mẹ.
Người lái con đò tôi đi có lẽ là đời thứ bao nhiêu rồi ông không nhớ nữa. Chỉ biết rằng cả đời ông lênh đênh trên con đò từ hồi còn nhỏ theo cha cầm sào, cần mẫn đưa đẩy mái chèo chở khách qua sông cho đến tận bây giờ. Những trận mưa trắng xóa mặt sông xối xả lên con đò. Nhưng đợt gió mùa Đông Bắc tím ngắt rét căm căm làm người ta tê tái. Nhưng con đò của ông vẫn bền bỉ rẽ sóng sang ngang chở khách. Có lẽ số phận của ông đã gắn liền với nghiệp chở đò đời trên sông nước. Bản thân ông và những bậc tiền bối của ông cũng không biết được rằng, những người khách qua bến đò này có rất nhiều người là những bậc hiền tài kẻ sỹ đã từng nổi tiếng một thời.
Giờ đây con đò được chạy bằng máy thay cho mái chèo. Tôi hỏi người lái đò: ‘‘Dạo này còn nhiều khách đi đò không ông ?’’. Người lái đò trầm ngâm trả lời: ‘‘Từ khi đường 21 được nâng cấp hoàn thiện đến nay, khách đi đò vắng lắm ông ạ. Chỉ có những người hai bên đi chợ qua sông mà thôi!’’.
Từ khi đất nước đổi mới phát triển, quốc lộ 21B về quê tôi được mở rộng thênh thang, trải nhựa phẳng lỳ. Cuộc sống của người dân thay đổi kỳ diệu. Mọi người về quê không còn qua bến đò này nữa. Nhà nhà sắm ô tô xe máy, chạy bon bon trên con đường mới về quê. Người ta đi đường mới vừa nhanh vừa tiện, vừa êm về nhà. Họ quên dần bến đò xưa mà cha ông đã từng đi qua.
Hôm nay về quê tôi thử một lần đi theo bến đò xưa mà mình đã từng đi. Bến đò hôm nay vắng thật, thưa thớt chỉ còn những người sống hai bên bờ đi chợ qua sông. Chiếc đò máy cô quạnh một mình neo đậu ở đầu mom chờ khách. Dòng sông Ninh vẫn lặng lẽ thả dòng.
Cho dù cuộc sống hiện đại biến đổi theo từng tháng năm, nhưng bến đò này giờ đây vẫn tồn tại với cái tên cổ xưa của nó: Bến đò Mom Rô.
P.N.K
(Nguồn: TC VNNB số 313 - 12/2025)