Truyện ngắn của ĐỖ VĂN CHUYẾN

Minh hoạ BÙI LIÊM
Ở Bảo tàng Quân sự có một góc nhỏ giới thiệu những đồ vật như chiếc đèn pin, cái bật lửa, chiếc võng dù, chiếc bình tông đựng nước, rồi chiếc ăng gô… dùng trong sinh hoạt và chiến đấu của các chiến sĩ quân Giải phóng, làm tôi rưng rưng nhớ lại những ký ức khó quên.
Đầu năm 1971, cùng đơn vị hành quân tới K6, trạm Giao liên cuối cùng của đường dây Giải phóng, tôi lên cơn sốt ác tính, phải nhập viện K21. Lán của chúng tôi, gồm 6 người đều là bệnh nhân sốt rét. Nhiều tuổi nhất là anh Bờ “quá sá”. Bờ sinh ra và chiến đấu tại vùng miệt vườn Tây Nam bộ. Gương mặt xạm đen vì nắng gió đồng bằng, vì những cú chém dè vùng sông nước, nên nhìn anh già hơn cái tuổi 30.
Một lần anh em trong lán mang dao găm giúp nhà bếp bệnh viện mổ khoảng hơn 1 tạ cá trê cho bếp bệnh nhân. Cá béo và đang có trứng, anh em tận dụng được lưng ăng gô mỡ, trứng cá. Lành người Hưng Yên khéo tay trổ tài nấu với lá bứa, nêm chút hạt tiêu xay, mùi thơm bốc lên béo ngậy. Đến bữa ăn, Bờ chan đẫm vào bát cơm, ăn xì xụp, miệng tấm tắc:
- Trời đất, ngon quá sá!
Chúng tôi đã bị một trận ăn mỡ cá ngày mồng một tết năm 1971 ở trạm Một Giải phóng, tiêu chảy cả tiểu đoàn, không còn thuốc chữa, nhớ đời nên ăn dè dặt. Mỗi người chỉ chan chút đỉnh, gọi là nếm thử.
Hậu quả nhãn tiền, ngay tối hôm ấy, trời mưa rào như trút xuống lá rừng, cả lán vừa thiu thiu ngủ, anh Bờ bật dậy, ôm bụng kêu đau. Anh khẩn khoản gọi:
- Khoa ơi, cho tao mượn đèn pin với, tao bị đau bao tử rồi. Có lẽ tiêu chảy.
Khoa vốn cẩn thận, buổi tối nằm ngủ trên võng thường ôm đèn pin vào bụng, để nếu có gì xảy ra là xử lý được ngay. Biết anh Bờ đang bí, nhưng muốn chơi anh một vố, Khoa giả vờ sờ xoạng xung quanh tìm, giọng giả ngái ngủ:
- Đang ngủ ngon… anh chờ một chút, không biết tối để đâu rồi?
Cơn đau bụng càng dữ dội, anh kêu:
- Mau lên, Khoa ơi, tao … ra quần rồi đây nầy. Miệng nói, người ông gập xuống, co rúm lại như sợ của quý rơi ra quần.
Lúc ấy Khoa mới phì cười và bật đèn đưa cho anh. Cả lán đều tỉnh ngủ, được một phen cười lăn lóc. Từ lúc đó, ai gọi anh là “ông Bờ quá sá”, anh chỉ cười, không giận, mọi người lại được một phen cười râm ran.
Anh Thành, người Vĩnh Phúc, lính thông tin Miền dáng người thon thả, nho nhã. Anh đã tốt nghiệp Bách Khoa Hà Nội, nên tiếng nói của anh có trọng lượng đối với anh em trong lán.
Anh Định người Thanh Hóa thì thâm trầm, ít nói, lúc nào cũng lừ đừ nên được gọi là “Từ Định”, nghĩa là “Lừ đừ như ông từ vào đền”.
Lành thì được gọi là Lý Thông, vì khi ở nhà thường buôn rượu từ Hưng Yên ra Hà Nội. Vì vậy Lành có tài ngoại giao, lại thạo nói tiếng Miên.
Cậu Khoa, cũng học hết lớp 10 như bọn tôi, vì bố làm thợ may ở thị trấn Nhã Nam, Hà Bắc, cậu được tập việc từ khi còn nhỏ nên rất khéo tay, tinh mắt. Khoa có khuôn mặt trái xoan, làn da trắng, đôi mắt đen láy đẹp trai và luôn chu đáo trong mọi việc, lại hát hay nên gọi là ca sĩ. Khoa quý mến và gắn bó với tôi một cách tự nhiên. Chúng tôi thường rủ nhau đi chơi Tắc Tum, đi rừng hái rau cải thiện...
Tôi, một học sinh nhà quê mới hết lớp 10, chưa va chạm cuộc sống xã hội, nhưng may mắn được gặp những người bạn quý, được đùm bọc yêu thương, nhất là qua cơn sốt ác tính năm đó. Tôi mãi biết ơn các anh, các bạn thân yêu!
Năm 1971, đang mùa mưa dữ dội, tôi bị tái phát cơn sốt ác tính kịch liệt. Bữa trưa tôi còn ăn cơm rất khỏe, nhưng đến chừng năm giờ chiều, người tôi sốt tới 40 - 41 độ. Tôi lên võng mượn thêm mấy cái chăn của các bạn đắp mà vẫn run. Hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập; người bị co giật liên hồi; rồi bị nôn mửa hết mật xanh, mật vàng. Đây là căn bệnh thường ngày của lính, nhưng đúng vào giai đoạn địch đang càn, bệnh viện hết thuốc vì phải dồn cho phía trước. Mất 3 - 4 ngày tôi không ăn uống được gì. Đụng một ngọn rau muống, hoặc ăn một miếng cháy cũng bị nôn thốc, nôn tháo. Đến nỗi chỉ cần ngửi thấy hơi cơm cũng buồn nôn. Người tôi lúc đó chỉ còn da bọc xương. Nước da xanh tái, môi xám ngắt, thâm xì, mắt trắng dã; người run lẩy bẩy; đi đứng không vững, phải chống gậy.
Anh Định nhìn tôi lắc đầu nói với cả lán:
- Thằng Chuẩn yếu lắm rồi, phải có cách gì cứu nó chứ cứ để thế này khó qua khỏi!
Anh Bờ thêm vào:
- Trời đất ơi! Cái sốt miền Đông này ác liệt dữ lắm ta. Nếu cứ để thế này, vài ngày nữa nó sẽ về với đất đấy.
Ngoài phía xa, tiếng bom, pháo giặc càn ở Snun, Đường 13 vẫn ùng oàng vọng tới. Chúng tôi biết rằng, ngoài mặt trận đang rất ác liệt.
Khoa tìm gặp anh Thơ, quân y sĩ, cùng đi B với tôi ở tiểu đoàn 586, thông báo bệnh tình của tôi, được biết, thuốc men ở bệnh viện đã cạn, chủ yếu ưu tiên cho phía trước. Anh Thơ nói: Trong số các anh, ai có đơn vị gần đây, có thể về xin cho anh ấy mấy ống Quy nin Mác, loại thuốc đặc trị sốt rét tốt nhất của Trung Quốc. Bệnh viện đã mấy lần đi lĩnh thuốc mà không có. Số thuốc hiện có chủ yếu dùng cho cấp cứu.
Tệ hại nhất là khi sốt thường kéo theo rối loạn tiêu hóa, bệnh tiêu chảy. Nếu cơn đi ngoài vào ban ngày tôi có thể tự chủ được, khó nhất là nó lại hành vào ban đêm. Từ lán chúng tôi nằm ra tới cầu tiêu ngoài rừng cũng khoảng 100 mét, lối đi lại ngoằn ngoèo, chỉ là lối mòn, cây cối rậm rạp. Thấy tôi đang xiêu vẹo, lẩy bẩy bước đi, anh Thành dậy bật đèn dắt tay, đưa tôi ra cầu tiêu. Ở đây gọi hố xí là cầu tiêu, gọi đi cầu là đi đại tiện vì hố tiêu thường bắc cầu cao hơn miệng hố tiêu một chút cho khỏi mùi hôi thối. Người đi đại tiện ngồi trên cầu để đi.
Nắm lấy tay tôi, anh Thành bảo:
- Thôi em yếu quá, ngồi ngay ven đường đây mà đi, anh đào hố mèo cho; ra cầu tiêu hơi xa.
- Không, em đi được! Miệng nói, chân bước, tôi cố đi ra cầu.
Vậy là anh đi theo, đứng cạnh để tôi vịn, tôi ái ngại quá, nói anh về nhưng anh không chịu. Lúc ấy, người tôi vẫn run, anh Thành phải kiếm cái gậy, tôi vịn vào để ngồi mới vững.
Sáng hôm sau, anh Thành xin về đơn vị cách hai ngày đường để xin thuốc. Buổi sáng khi con gà rừng gáy te te ngoài đầu lán, trong rừng còn tối, nhưng anh Thành đã vội vã lên đường. Các bạn trong lán ai cũng hy vọng và chúc anh có chuyến đi may mắn.
Từ lúc anh Thành bước chân đi, mọi người tính từng giờ, từng khắc. Một ngày rồi hai ngày trôi qua, vẫn chưa thấy anh Thành về.
Chiều ngày thứ hai, Lành và Khoa ra tận Tắc Tum để vừa đón anh Thành, vừa đi chơi cho đỡ buồn. Lành quê Hưng Yên, biết nhiều tiếng Miên, cậu đem chuyện tôi sốt ra kể, ông già bán quán nghe cảm động lắm. Ông chạy ngay về nhà lấy ra mấy viên thuốc thảo mộc. Thuốc này của ông lang người Tàu hoàn tán, bán cho dân, ông đưa và dặn cách uống.
Đến giờ ăn cơm chiều vẫn không thấy bóng dáng anh Thành. Hai bạn mang thuốc về hướng dẫn tôi uống. Mọi người ngóng ra cổng viện sốt ruột ngóng anh Thành, luôn theo dõi dấu hiệu của cơn sốt.
Tôi vẫn sốt miên man. Buổi chiều, tôi mê sảng thấy mình bị cuốn vào một đám cháy, lửa bốc cao mù mịt, họng khát cháy, bỏng rát mặt mà không sao nhấc chân lên được. Tôi ú ớ kêu: “Mẹ ơi!”…
Nghe tôi mê sảng, anh Bờ chạy tới vỗ về:
- Chuẩn ơi, gọi gì đấy. Chờ chút anh Thành về sẽ có thuốc. Anh ấy sắp về rồi!
Anh Bờ mộc mạc, chân tình và rất đa cảm. Nhìn Chuẩn nằm mê man, người chỉ còn da bọc xương, anh quay đi lấy hai ngón tay chỏ lau nước đọng trong hai hố mắt.
Mọi người trong lán ngày càng sốt ruột. Nói là đơn vị cách hai ngày đường, nay đã tới ngày thứ ba. Cơm chiều lấy về lán có ai buồn ăn đâu. Người chạy ra, chạy vào; người ngồi bó gối nhìn chăm chăm về phía cổng viện. Bóng tối bao trùm lên những mái lán bệnh nhân. Con dế rừng đâu đây kêu ri…ri làm không gian thêm não nề.
Người đi chưa thấy tăm hơi. Ai nấy đều im lặng, không muốn nói ra nhưng suy nghĩ đều hướng về điều bi quan nhất. Định, người bình tĩnh nhất nhìn tôi, quay đi trút một tiếng thở dài.
Không khí oi nồng. Ầm ì phía xa vọng về tiếng sấm báo hiệu trời sắp có cơn mưa. Rồi bắt đầu là một cơn gió, gió mạnh dần, tiếng sấm to hơn. Nghe lộp bộp tiếng mưa dội xuống lá rừng. Ai nấy quay về võng của mình kiểm tra dột.
Bỗng có tiếng chân bước nghe lép nhép; từ ngoài cổng viện lóe lên một tia sáng ánh đèn. Khoa căng mắt nhìn xem anh Thành hay y bác sĩ bệnh viện đi kiểm tra. Hồi hộp, và ánh đèn đi thẳng vào lán tôi.
- Anh Thành! Khoa reo to và mọi người đổ xô nhìn về cổng lán vui mừng khôn tả. Anh Thành bước vào chưa kịp cởi áo mưa, nói luôn, có thuốc đây rồi!
Lành chạy ngay lên báo anh Thơ. Anh Thơ đến luôn. Khoa đón từ cửa lán, cẩn thận dặn thêm:
- Anh tiêm kèm cho nó mấy ống trợ lực nhé.
- Được rồi, anh trả lời.
Anh Thơ tiêm một ống Quy nin, cùng mấy ống Vitamin B1 và C.
Chờ anh Thơ ra khỏi lán, mọi người mới xúm lại hỏi anh Thành:
- Sao bảo đơn vị cách hai ngày đường, mà anh về trễ vậy?
Anh Thành thủng thẳng:
- Số thằng Chuẩn còn thọ lắm. Nếu đợt này đi đụng biệt kích, tao chết thì chắc nó cũng đi theo mất. Nhưng may quá, hôm quay về viện, tao đi được nửa đường, gặp mấy đứa trong đơn vị đi kiểm tra đường dây. Chúng nó bảo có biệt kích đổ chụp vào hậu phương, cắt đường dây liên lạc của ta. Miền cho mấy tổ trinh sát đi lùng và diệt bọn này.
Không phải đợi lâu, cánh trinh sát đi được vài tiếng thì nghe súng nổ. Sư đoàn 7 báo về, đường đã thông, ta diệt được 4 tên biệt kích, thu toàn bộ vũ khí.
Mũi tiêm thứ nhất được vài tiếng đồng hồ, Khoa chạy lại sờ vào trán tôi reo to:
- Bớt nóng rồi, tuyệt vời!
Sau mũi tiêm chừng một tiếng, các bạn pha cho tôi cốc sữa. Dù mệt lắm, nhưng được các bạn động viên tôi cố gắng uống cạn. Tối hôm đó, tôi đã ngủ được.
Sáng hôm tiếp theo, sau mũi tiêm thứ hai, tôi đã biết được mùi thơm của cơm cháy. Trong người không còn cảm giác buồn nôn. Đến chiều, tiêm mũi thứ ba. Hộ lý cặp nhiệt, tôi chỉ còn 37 độ. Tôi đã uống ngon lành một ly sữa đặc pha loãng. Cả lán reo hò mừng chiến thắng:
- Thằng Chuẩn sống rồi! Hoan hô, thằng Chuẩn sống rồi! Bắt đầu là Lành, rồi đến Khoa và cả lán nhất loạt reo hò. Các lán bên chạy sang chung vui, góp chuyện.
Trời đang chuyển mùa. Hôm nay trời như cao, xanh và ấm hơn, mùa khô đang đến. Bầy liếu điếu ríu rít gọi nhau làm cả một khoảng rừng như bừng sáng. Những chùm hoa nắng đung đưa rắc xuống sân viện. Đâu đó có hương phong lan nhè nhẹ; tôi ngồi dậy, hít thật sâu một hơi, vươn vai đứng dậy, đi ra khỏi lán. Tôi vui cười nhìn anh Thành như muốn nói lời cảm ơn.
Nhìn tôi, anh Thành đề xuất:
- Chúng ta kiếm cái gì để liên hoan cho Chuẩn nhỉ?
- Em thèm ăn cái gì hở Chuẩn? Anh Thành hỏi luôn.
- Em rất thèm bắp ngô luộc, tôi trả lời.
- Được rồi, tưởng gì chứ bắp ngô luộc thì dễ ợt, anh Thành kết luận.
- Trong lán nghĩ coi? Bây giờ lấy gì đi đổi ngô luộc đây? Anh Thành nêu vấn đề.
Năm người trong lán đều kiểm kê tài sản. Nào dao găm, đèn pin, bật lửa, bình tông…Vì là lính từ Bắc mới vào, nên chưa có chiến lợi phẩm của Mĩ. Chỉ mình Khoa còn cái ăng gô Trung Quốc mới toanh, chưa bị xây xát. Cái ăng gô, với người lính đi lẻ rất quan trọng. Mỗi khi dừng nghỉ, đến bữa chúng tôi múc nước đầy ăng gô, đun sôi đổ bình tông để uống trên đường hành quân. Sau đó nấu canh, đổ ra nắp ăng gô, ra bát. Cuối cùng mới nấu cơm. Cơm chín thì canh cũng đã nguội. Không có ăng gô, trên đường hành quân đi lẻ thì chỉ có bốc gạo sống mà ăn.
Ngắm nghía một lúc, Khoa cầm chiếc ăng gô giơ lên, nói to: Tớ có chiếc ăng gô còn mới, đem ra Tắc Tum đổi chắc được kha khá ngô luộc.
Hai bạn đi chừng 30 phút đã ríu rít trở về từ ngoài cổng. Mọi người nhìn ra thấy Lành đi trước, trên tay vẫn còn chiếc ăng gô. Định hỏi luôn:
- Không đổi được ngô à?
- Dân họ chê ăng gô Trung Quốc. Lành trả lời ráo hoảnh.
- Sao lại thế? Hôm trước tớ ra, thấy họ thích ăng gô Trung Quốc lắm cơ mà. Định băn khoăn hỏi lại.
Vì muốn sớm đem niềm vui về cho người bệnh, không muốn mọi người đợi lâu, Khoa vượt lên, tay giơ bọc ngô, miệng nói:
- Đây, ăng gô không mất mà ngô cũng đã có cho Chuẩn đây rồi!
Hai bạn tay lau mồ hôi, đua nhau thuật lại câu chuyện đổi chác.
Lành và Khoa cầm ăng gô xăm xăm chạy ra Tắc Tum, tới quán ông già hôm trước.
Mới gần tới nơi Lành nói luôn:
- Anh bạn của tôi đã khỏi sốt rồi, cảm ơn ông. Bây giờ ông đổi cho tôi cái ăng gô này lấy mấy bắp ngô luộc. Sốt dậy, anh ấy chỉ thèm ăn ngô luộc thôi.
Cầm chiếc ăng gô ngắm nghía, rồi ông trả lại, nói:
- Ngô thì tôi sẽ đưa cho anh, nhưng ăng gô thì tôi không lấy đâu. Anh bộ đội khỏi sốt là tôi vui rồi. Tôi cũng muốn góp một phần nhỏ vào đánh thằng Mỹ. Rồi ông bỏ vào túi, đưa cho Lành 6 bắp ngô nếp luộc nóng hổi.
Cầm túi ngô, Lành nhắc đi, nhắc lại “Việt Nam, Căm Pu Chia sa ma ki” (Việt Nam, Căm Pu Chia đoàn kết), ông già vui lắm, Khoa kể lại.
Cầm túi ngô luộc, anh Thành lệnh:
- Sáu bắp ngô này, ưu tiên cho Chuẩn ăn trước. Nó ăn được bao nhiêu, còn lại tớ chia đều cho cả lán.
Đói và lạ miệng, tôi ăn một lèo hết hai bắp ngô đã thấy chối. Mồ hôi rịn ra lấm tấm trên trán. Cả lán reo hò vỗ tay:
- Thế là tốt rồi, khỏe rồi, tuyệt vời.
Sau đó, anh em quay ra xúm xít chia nhau những bắp ngô còn lại; vừa ăn, vừa nói chuyện, vui vẻ như một tiệc liên hoan linh đình.
Biết sẽ đến ngày chúng tôi chia tay nhau, tỏa về các ngả đường chiến đấu; anh Bờ chia sẻ kinh nghiệm sống còn: Khoa cứ giữ chiếc ăng gô làm kỉ vật. Cơm nước đã có đơn vị lo. Nhưng sau mỗi trận đánh, cần khẩn trương kiểm tra trận địa, chú ý tìm thu dây lưng của bọn ngụy. Trong đó có lựu đạn, võng ni lông, ca inox đi kèm cái bình tông. Của Mĩ trang bị, cái gì dùng cũng hiệu quả cho sinh hoạt và chiến đấu. Cái ca có thể đun nước uống, nấu canh, pha trà được…
Mùa khô là mùa của chiến dịch. Mấy ngày sau, lán chúng tôi đều khỏe được xuất viện. Theo các tuyến đường dây, mỗi người về đơn vị theo một hướng. Riêng tôi và Khoa được bổ sung về Công trường 7, gắn bó với nhau trong tiểu đội hỏa lực. Khoa giữ khẩu B41, tôi là xạ thủ phụ vai đeo 4 quả đạn B41 và khẩu AK hỗ trợ cho Khoa.
Đúng là “Rằng qua cơn lận đận, mới hiểu tận lòng nhau”. Trong những chặng đường chiến đấu, tình yêu thương của đồng đội, nhất là hình ảnh chiếc ăng gô không chỉ là vật dụng ca cóng của người lính, nó đã trở thành ký ức, tạo động lực để tôi đi hết cuộc kháng chiến, cùng đồng đội tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Đ.V.C

Trên thao trường Ảnh: ĐINH DUY QUANG
(Nguồn: TC VNNB số 313 - 12/2025)