Truyện ngắn của TRẦN VĂN LŨY
Chuyến trở về Quảng Ngãi “Tìm đồng đội” lần này khiến tôi nao nao một niềm vui khó tả. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những ngày chúng tôi cùng chiến đấu trên mảnh đất này. Vậy mà hôm nay, tôi lại có dịp gặp lại những gương mặt năm xưa - những chiến sĩ du kích Nghĩa Hành, nay thuộc xã Đình Cương: chị Nguyễn Thị Lựu (nguyên Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy Hành Phước, đội trưởng du kích), chị Lê Thị Nhị, vợ chồng anh Trương Hùng Cường - chị Nguyễn Thị Vân, chị Phan Thị Hoa, chị Nguyễn Thị Hảo, chị Nguyễn Thị Nguyệt…
Ngồi trong gian nhà nhỏ của chị Lựu, tôi mang tặng các anh chị tập thơ Quê hương trong tôi - những vần thơ tôi viết về quê hương tôi và chính vùng đất này, về đồng đội, về những trận đánh dữ dội mà tôi đã trải qua. Chị Lựu nâng niu cuốn sách, giọng bồi hồi:
- Đọc thơ anh mà như thấy lại cả một thời thanh xuân. Hồi đó… mình có sợ gì đâu, chỉ biết đi là đi, đánh là đánh, miễn là giữ được làng, giữ được người.
Tôi mỉm cười, nhìn mái tóc chị nay đã bạc quá nửa:
- Đúng vậy. Hồi ấy chúng ta còn rất trẻ. Chính cái tuổi hai mươi hừng hực ấy đã làm nên sức mạnh phi thường.
Chị Hoa ngồi bên chen vào, hồ hởi nói:
- Hồi đó ai cũng nghĩ đơn giản lắm, “đánh xong trận này rồi chắc được nghỉ ít bữa”, nhưng nào ngờ cứ trận này nối tiếp trận kia triền miên mãi. Có bữa đang giữa trưa, nghe tin địch càn, anh em xách súng lao ra chiến hào, còn chưa kịp ăn hột cơm nào.
Chị Vân bật cười:
- Ừ, có lần em đói quá, vừa cầm nắm cơm trong tay vừa chạy, tới chỗ tập kết thì ôi thôi rơi hết; tay chỉ còn dính những hạt cơm trắng.
Cả nhóm phá lên cười. Cái cười ấy không chỉ để nhớ lại chuyện xưa, mà còn để xua bớt những cay đắng đã in hằn trong ký ức.

Minh họa: ĐỖ KÍCH
Chúng tôi cùng nhau ngồi ôn lại từng trận đánh, từng đêm du kích dẫn đường cho bộ đội. Những gương mặt trẻ trung, những nụ cười trong trẻo ngày xưa bỗng ùa về trong ký ức, như mới hôm qua. Mỗi người kể một mẩu chuyện của riêng mình…
Lặng đi một lúc, tôi chậm rãi kể về một buổi tối sau khi du kích dẫn anh Mông cùng chỉ huy đơn vị đi trinh sát ở Núi Thị (Mộ Đức). Trở về hậu cứ, ngồi chung võng, anh Mông đã kể cho chị Liên nghe về gia đình, về người mẹ già ở quê xa. Rồi anh bỗng quay sang hỏi:
- Sau ngày giải phóng miền Nam, em có về Hải Phòng với anh không?
Câu hỏi bỏ lửng giữa khoảng rừng đêm. Chị e thẹn cúi mặt xuống, ngập ngừng trả lời khẽ:
- Có ạ…
Khi tôi nhắc đến buổi sáng 18 tháng 5 năm 1974 - trận đánh dữ dội đã cướp đi anh Mông, đại đội trưởng dũng cảm của chúng tôi - mọi người im lặng. Nét mặt ai cũng buồn rầu, không ai nói gì thêm.
Một lúc sau, chị Nhị thở dài:
- Nhắc lại mà như vừa mới hôm qua. Nhiều anh bộ đội còn trẻ măng, mới vào chiến trường bổ sung vào đơn vị ra trận đã ngã xuống… anh em còn chưa kịp nói lời gì, chưa kịp làm quen… Đau lắm.
Rồi chị kể tiếp về những đêm dẫn bộ đội đánh cầu, phá đường ngăn địch chi viện:
- Ông Cảnh hôm đó bị thương nặng. Mảnh phá từ trái ĐH - 10 găm vào trán. Ổng la lớn: “Chắc tao chết mất thôi…”. Tôi hoảng quá, vội xé băng cá nhân băng vội cho ổng. Mà băng trắng toát giữa trận địa, dễ lộ lắm. Tôi chụp vội cái nón tai bèo lên đầu ổng, rồi kéo lết ra sau. Còn ông Quế thì… bị một mảnh nhỏ bay trúng tay. May là không mất máu nhiều. Lúc đó lửa đạn vẫn còn ầm ầm sau lưng, tim tôi đập muốn bể lồng ngực...
Chị Hảo thì cười vang rồi nói:
- Đêm hôm ấy, chúng tôi nhận lệnh đánh sập cầu dưới xã Hành Minh. Nhiệm vụ rõ ràng: phá cầu, ngăn xe tăng địch lên tiếp viện cho mũi bộ binh đang tấn công dãy Đình Cương. Tổ ba người chúng tôi dẫn bộ đội đến vị trí chiến đấu. Vượt qua cánh đồng, áp sát cây cầu nằm chênh chếch trước mặt, phía bên kia là chốt địch, ánh đèn pin thấp thoáng giữa bụi cây. Cúi rạp người xuống, bộ đội bắt đầu đào. Đất đá cứng như xi măng, dao găm phải dùng cả hai tay mới khoét được một cái lỗ vừa khít khối bộc phá… Cái trận đó bộc phá nổ xong, tụi nó bắn như mưa. Anh em mình mạnh ai nấy chạy, miễn sao thoát khỏi vùng nguy hiểm. Chạy về đến hậu cứ, ai cũng thở hổn hển, rồi cười rũ cả ra vì… còn sống!
Anh Cường vốn ít nói, vậy mà lần này cũng góp chuyện:
- Tôi nhớ cái đêm bị vây ở Hành Dũng. Bom rơi sáng rực cả cánh đồng. Tôi với mấy anh em nằm rạp xuống ruộng lúa, nghe đạn réo vù vù trên đầu. Trên đường tiếp cận, một tốp lính địch đi tuần soi đèn pin. Ánh đèn quét qua ruộng nước loang loáng như lưỡi hái tử thần. Chúng tôi nằm rạp xuống. Hai lần như thế. Đến lần thứ ba, anh Chung nghiến răng rồi quay sang nói nhỏ: Nếu tao chết, nhớ nhắn về cho má tao nghe nghen. Tôi chỉ kịp gật đầu, rồi mấy phút sau, anh ngã xuống ngay cạnh. Cái hình ảnh đó… ám ảnh tôi cả đời. Chiến tranh mà ông… mình tính một, nó ra mười. Bất ngờ là chuyện thường. Cứ tưởng đánh cầu là xong, ai ngờ đụng phải cả ổ ong vò vẽ!... Chị Nguyệt ngồi im nãy giờ, chợt khẽ nói:
- Có bữa tui cùng bà con đi tìm hài cốt liệt sỹ ở bờ suối. Đào lên có người còn nguyên lọ Pelecilin có miếng giấy ghi đầy đủ thông tin; nhưng đa phần chỉ thấy xương và mấy mảnh vải áo bạc phếch, vài chiếc cúc áo và đôi dép cao su, cái bình tông hay cái dây lưng... Không còn ai nhận ra ai. Nhưng chúng tui vẫn gói ghém cẩn thận, đưa vào nghĩa trang liệt sĩ thắp hương, vẫn gọi tên, coi như đó là anh em mình...
Không khí trong gian nhà lặng đi. Ai cũng ngồi yên, chỉ có tiếng thở dài và tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cũ treo trên tường. Một buổi chiều, khi tôi đã trở về miền Bắc, tiếng chuông điện thoại reo. Trên màn hình là gương mặt chị Nhị, giọng Quảng Ngãi ấm áp vang lên: - Các ảnh zề khỏe hông? Gia đình bình an chớ?
Tôi vui mừng đáp:
- Cảm ơn em, bọn anh khỏe, gia đình bình an. Còn em với bà con trong đó sao rồi?
- Ổn hết anh ạ - Chị cười, mắt ánh lên niềm vui. - Lúa đang gặt rộ, cả làng đang rộn rã lắm. Nhưng thiệt tình, đọc thơ anh, em thấy lòng mình cứ xao xuyến mãi.
Chị Nhị cầm tập thơ tôi tặng, giọng chậm rãi:
- Em đọc kỹ rồi. Ấn tượng nhất là bài Tôi và Anh. Đặc biệt từ khổ thứ năm trở đi, anh viết đúng lắm. Nghe mà như sống lại ngày đó… Rồi chị đọc chậm từng câu, mắt nhòa lệ: “Chớp nhoằng sáng lóe bầu trời/ Tiếng nổ chát chúa anh Hồi trọng thương/ Anh Mông khựng lại giữa đường/ Đạn M79 mảnh vương khắp người…”.
Nghe chị đọc, tim tôi nhói lên. Tôi biết, những ký ức ấy chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng những người ở lại. - Cũng nhờ sự hy sinh của các anh mà hôm nay đất nước mình mới được thanh bình - chị Nhị nói, giọng run run.
Tôi khẽ gật đầu:
- Đúng vậy em ạ. Chiến tranh mà… Nhiều khi chôn cất đồng đội xong, bom pháo lại cày lên, thông tin thất lạc hết. Đến giờ vẫn còn rất nhiều liệt sĩ chưa xác định được thông tin.
Nhị thở dài, mắt xa xăm. Rồi chị mỉm cười nhẹ:
- Cảm ơn anh đã tặng bọn em tập thơ. Nó như tiếng nói của một thời. Tôi đáp, giọng cũng nghèn nghẹn:
- Anh viết tập thơ này là để giữ lại kỷ niệm một thời áo lính. Tặng các em để cùng nhau nhớ lại, để những người đã khuất được nhắc tên mãi.
Không khí bỗng chùng xuống. Rồi bất chợt, chị Nhị, nói nửa đùa nửa thật:
- Anh! Lần sau zô đây chơi dài dài, tụi em sẽ dẫn anh ra mấy bờ tre dọc bờ sông, nơi hồi đó du kích từng đào hầm che giấu bộ đội, đào công sự chiến đấu, nơi mình mắc võng nằm dưới bóng tre. Để anh thấy, bây giờ trẻ con tụi nó chơi đùa, chạy nhảy trên chính mảnh đất máu xương ngày xưa. Nhìn cảnh đó, chắc anh sẽ thấy ấm lòng.
Tôi cười, gật đầu:
- Anh mong lắm. Chỉ cần được ngồi lại với các em để ôn những kỷ niệm thời chiến tranh, thì lòng anh đã nhẹ bẫng.
Cuộc gặp gỡ sau nửa thế kỷ như một phép màu. Chúng tôi - những mái đầu đã bạc trắng - vẫn thấy lòng trong trẻo như thuở đôi mươi. Ngồi vui chuyện trò đến nỗi quên cả việc chụp tấm hình lưu niệm.
Trở về nhà, tôi lại thầm ước có một ngày quay lại Quảng Ngãi, để được cùng các anh chị du kích Đình Cương ngồi bên nhau, nhắc lại những tháng ngày gian khổ mà oanh liệt ấy.
Tôi ngồi lặng rất lâu bên trang bản thảo còn dang dở, lòng như còn nghe đâu đây tiếng cười, tiếng nói của anh chị em du kích năm nào. Ngoài kia, lũ trẻ con ríu rít nô đùa, tiếng bước chân giẫm lên con đường đất nhỏ dẫn vào làng gợi tôi nhớ về bao cuộc hành quân trong mưa bom bão đạn. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức ấy không bao giờ mất đi. Nó sống trong từng tấc đất, trong từng bóng tre, từng dòng sông con suối. Và trên hết, nó sống trong trái tim những con người còn ở lại, kể lại, nhắc nhớ cho lớp trẻ hôm nay. Tôi tin, khi các em được nghe những câu chuyện về sự dũng cảm và lòng thủy chung son sắt, các em sẽ biết trân trọng hòa bình, yêu quý mảnh đất quê hương, và sống xứng đáng với thế hệ đi trước. Đội du kích Đình Cương - dẫu chỉ là một lát cắt nhỏ trong bản trường ca kháng chiến - nhưng mãi là niềm tự hào, là ngọn lửa âm ỉ soi sáng cho mai sau.
T.V.L
(Nguồn: TC VNNB số 319 - 05/2026)