Thứ ba, 18/08/2026

HỒN ĐÁ

Thứ ba, 16/06/2026

Truyện ngắn của NGUYỄN THANH DUYÊN

Lộc cộc, lộc cộc, lộc cộc… ầy, họ, họ, đì…. lộc cộc, lộc cộc,… họ, vắt, đì đì….. lộc cộc…. ầy… ầy. Từng đoàn xe, bò, người kéo dài, kéo dài xa mãi, xa mờ, tưởng như hun hút tầm mắt, như một sợi chỉ dài xa lắc trên con đường quốc lộ 1. Đoàn người xe chở đá vào trong thị xã bán cho người xây nhà, nung vôi, làm đường. Cả mấy xã ven đường quốc lộ bên núi tới tận vùng cố đô người dân đổ xô đi đánh phá núi đá làm nguyên liệu xây dựng.

Minh họa: KÙ KAO KHẢI

Hình ảnh đoàn quân xe bò cứ rõ mồn một trong mắt anh sĩ quan quân đội Đinh Trọng Hướng, trong lòng anh đau đáu một nỗi niềm, một bài toán trong thời kỳ mới bung ra khỏi vòng bao cấp, yêu cầu nguyên liệu xây dựng lúc này đang cao. Cái có sẵn ấy là nhân công và núi đá, vậy là người ta đua nhau phá đá, nổ mìn, xẻ thịt mẹ thiên nhiên, tác động đến cả kiến trúc và lịch sử. Những núi đá bền vững ngàn năm mà nay cứ bị mai một dần. Mới ngày nào núi Xẻ như một danh lam thắng cảnh bên đường thiên lí Bắc Nam vậy mà giờ đây nó chỉ còn mỗi một cột đá xẻ nghiêng nghiêng côi cút tưởng chừng như đổ sụp xuống bất kì khi nào. Bởi lời đồn núi rất linh thiêng nên dù đã phá toang hết cả quả núi to bằng nửa cái làng nhưng không ai dám động vào trụ núi kia và bây giờ nó được gọi là núi Một. Người ta biến núi ra tường, ra vôi, ra nền đường. Cả vùng ven sông Hoàng Long, những quả núi chìa ra sông, có vòm uốn cong như nửa chiếc ô khổng lồ, bên dưới núi là con đường nối tỉnh lỵ đi về miền Đồi Soọng, ngược sang bên Thanh Hoá. Ấy vậy mà mấy năm nay dân quần, bò xéo, mìn bung, người người đập đá, nhà nhà phá núi trong khi nền nông nghiệp cấy lúa chiêm khê mùa thối, cây lúa không đủ nuôi con người, người dật dờ, người bám vào đá, bám vào núi. Cứ đánh đá lấy nguyên liệu đốt vôi, xây nhà. Và xe bò cứ kĩu kịt chở đá trên đường quốc lộ buồn, bụi, bẩn. Thị xã cũng xơ xác với vết cắt của những núi đá xung quanh nó, ngập trong khói mìn phá đá, khói than đốt lò, cả một vùng âm âm u u.

 Lụa không thể đi đánh đá được chỉ có thể đập đá thuê cho người ta. Tay Lụa trước kia mềm như lụa, bàn tay ấy đã có thời cầm kim thêu ren, dệt thảm nhanh thoăt thoắt, rồi cơ chế thị trường làm ăn thất thoát, hàng thêu, hàng thảm không xuất khẩu được, cô đành trở về chuyên tâm cày cấy. Khốn nỗi mỗi đầu người chỉ có mấy thước ruộng thì làm sao mà sống nổi. Từ những tảng đá như cái chiếu, cái giường lăn ra khỏi núi mẹ, người đàn ông lực lưỡng hay không lực lưỡng cũng vẫn gồng mình quai búa đập toang đá ra, nào, choạng chân ra, quai búa lên, bổ đánh phập một cái, bổ một cái không được thì bổ hai cái, ba cái, bổ đến khi nào mặt đá rạn lăn tăn, mặt đá nhún, mặt đá trơ gan trường cửu cũng phải om ra rồi tan vỡ làm nhiều mảnh. Cứ quai thế, cứ đập thế từ hòn to ra hòn nhỏ, rồi nhỏ nữa. Hòn ôm được vào lòng thì bế hắn lên bỏ phắt vào xe bò, mang đi. Hòn nhỏ hơn như vốc tay, bàn chân thì đàn bà con gái sẽ cho hắn vào trong một cái vòng sắt tròn để hắn không chệch đi đâu được, rồi đôi bàn tay như tay Lụa ấy một tay cầm cán vòng tròn kim cô kia, một tay nâng búa lên sẽ giáng những đòn chí tử thẳng mặt đá, nào có giận dữ gì đâu cũng phải mắm môi mắm lợi để hắn vỡ ra. Hắn thành đá 4 - 6, hắn thành đá 1 - 2 để hắn sẽ được mang rải làm đường, được mang đổ bê tông làm mái nhà, làm các công trình khác. Kệ hắn, hắn có đau không đá? Núi có xót con không? Kệ thiên nhiên, cái đói, cái nghèo và cả cái tầm nhìn nó hoành hành núi.

Hướng cúi người khom lưng đi qua cửa, đặt balo xuống giường, chiếc giường bề bộn quần áo của con nhỏ, mùi nước giải còn sót lại trong đó vương lên làm anh khịt khịt mũi. Thấy có người vào nhà con chó già sau gốc mít chồm dậy sủa váng lên, nó xộc cả vào cửa, chân cào làm xước nền đất ngoài thềm. Hướng vẫy vẫy nó mấy cái, nhận ra ông chủ xa nhà lâu lâu, con chó hư hử lên mấy tiếng vẫy đuôi tỏ vẻ mừng rỡ e dè, thấy Hướng chỉ vẫy nó vài cái vẻ như ông chủ còn mải nghĩ gì đó, nó rụt rè đi trở lại gốc mít nằm nhưng không quên chú ý mọi cử chỉ của anh.

Nhà vắng tanh, các con đi học cả rồi, vợ anh chắc ra đồng, đang mùa lạc, chắc là cô ấy đi xới lạc, mưa rào này lạc lên xanh lắm đấy, mầm lạc còn sót lại nảy lên thế nào cô ấy cũng nhặt mang về làm giá lạc, cái giống lạc làm giá không mềm mại như giá đậu nhưng mà mập to và nhai kĩ cũng bùi bùi như lạc ấy. Mà cũng đang kì cấy lúa mùa, mấy sào đất cát vừa nhấc chân lên thì cát đã lún tít nên là con trâu, cái bừa vừa lên thì người cũng phải xuống cấy nhanh kẻo không cắm được cây mạ xuống chứ chẳng chơi. Nghĩ đến đây anh càng thương người vợ tảo tần của mình càng củng cố cho quyết định ra quân của mình là đúng đắn và cũng để lòng bớt lăn tăn.

Mười năm, mười một tháng, hai ngày là thời gian anh đóng quân ngũ. À không, đấy là cả thời gian anh học tập dưới mái trường lục quân. Lụa cô gái xóm bên má đỏ môi hồng, chăm làm giỏi vén khéo ruộng nương chỉ đợi anh về là làm đám cưới, rồi họ sinh hai lần ba đứa con, hai đứa sinh đôi sau sinh non thiếu tháng nên nuôi vất vả, vợ anh gầy rộc đi, người như búi giẻ, những đợt nghỉ phép luôn cắt rất sớm rất vội, mái gianh nhà đã sạm đen và mục, những lần mưa rào mái gianh xẹp xuống, trong mưa giọt gianh đen đen nâu nâu như màu li cafe. Nghĩ đến đây Hướng rùng mình lắc vai xua đi ý nghĩ đang dàn trải trong đầu. Anh cúi xuống gầm giường lôi ra chiếc chậu đựng đầy quần áo của vợ con mang ra giếng giặt. Cái giếng kẽo kẹt kêu lên sau mỗi vòng quay của dây gầu. Một lát thì anh cũng giặt xong đống quần áo mang phơi. Nắng lên le lói hắt từ sau nhà, từ trên lùm nhãn cổ thụ. Vào nhà anh cầm rá đi lấy gạo nấu bữa trưa. Cái vò cha mẹ cho ngày vợ chồng mới ra ở giêng dùng đựng gạo. Bàn tay to lớn của anh thò vào trong vò tìm cái bò, khua khắng mấy vòng mới thấy cái bò chỏng chơ với đám gạo nằm bẹp đáy vò. Cẩn thận anh xúc hai lưng cóng gạo lên, khom người bước ra khỏi cửa buồng thì có tiếng người và tiếng gậy khua lộc cộc. Bố anh và bố vợ đang đi vào, hai ông nghe tiếng anh về đã kịp sang. Anh chỉ kịp cất lời chào hai ông bố rồi để rá gạo đấy, kéo ghế, mời hai bố ngồi, cầm tích nước nhẹ hều, anh luống cuống không dám nhìn vào mắt hai cụ, chực đi đun nước. Ông Thảnh bố anh vẫn chưa ngồi xuống ghế còn chống gậy đứng nhìn quanh nhà bảo:

- Thôi, anh không cần đun nước, tôi uống bên nhà tôi rồi.

- Vâng hai bố ngồi xuống ghế đã ạ.

Anh đưa tay định dìu ông vào ghế, mắt nhìn bố vợ như muốn ông nói thêm vào để bố anh ngồi xuống ghế. Ông Hành nhìn vào bức tường loang lổ im lặng chưa lên tiếng. Ông Thảnh lập cập cây gậy đi vào ghé đít lên ghế, mắt vẫn không nhìn con trai mà nhìn vóng ra sân, cơn giận chỉ còn là sự dấm dẳng trong câu nói:

- Tôi biết anh rồi, anh lần này là về hẳn chứ gì, anh về để đi đánh đá, phá núi à? Sao lại có một người rời quân ngũ về đi đánh đá phá núi cơ chứ, hỏng, hỏng cả rồi!

- Dạ, con xin ra quân, con không có ý định….!

Ông Thảnh ngắt ngang lời người con:

- Thôi, tôi biết cả rồi!

Hai ông bố nén tiếng thở dài nhưng mà vẫn đây như tiếng gió hú trên đầu hồi mái gianh nghe phào phào. Không gian im ắng và gượng gạo. Hướng thấy mình như một kẻ tội lỗi, tội lỗi quá đi chứ, bố mẹ, nhà nước, quân đội đã đào tạo nên anh một sĩ quan lục quân thế mà anh chưa cống hiến được bao lâu lại xin phép ra quân trở về, với ông Thảnh đây là sự thất vọng nhất của đời ông. Ông có đến bảy tám đứa con nhưng Hướng là niềm tự hào nhất của ông, chả gì nó cũng là học sinh giỏi có tiếng trong vùng, là sĩ quan quân đội, thế mà bây giờ nó lại xin xuất ngũ về nhà, một lúc sau ông Hành lên tiếng: “Thôi anh đi nấu cơm đi, mẹ con nó sắp về rồi đấy” rồi ông xin phép thông gia lạch cạch đứng dậy ra về, kể ra ông cũng chưa đến nỗi nào để phải chống gậy với cái tuổi sắp 70 đâu nhưng mà một thời trai trẻ băng rừng vượt suối đi theo các công trình địa chất, rồi những trận sốt rét rừng đã làm ông khánh kiệt thứ tài sản duy nhất mà ông có ấy là sức khoẻ. Ông phải nghỉ chế độ mất sức, mất sức thật, về nhà đuổi gà cho vợ. Đến đường con cái cũng chỉ sinh được mỗi mụn con gái từ ngày ông chưa luồn rừng, theo đá. Bây giờ con rể ông to khoẻ lừng lững lại xuất ngũ trở về ông không hiểu vợ chồng nó nghĩ gì. Thôi kệ, “Dâu con, rể khách” tuỳ vợ chồng nó lo liệu cứ êm ấm cửa nhà là được. Ông Thảnh cũng theo thông gia ra ngõ, còn lại anh con trai đứng thỗn ra sau câu: “Không khiến” của bố.

  Khi tiếng xe bò lọc cọc tiến vào sân, trên xe là vợ anh, Lụa đang gò lưng điều khiển con bò kéo chiếc xe vào bên mép sân bằng một sự rất cẩn trọng, cô dừng xe, cho bò ra khỏi ách đưa bò cho con trai. Thằng Hiếu thì đã nhảy cuống lên từ lúc mẹ nó tiến vào cổng, buộc xong con bò nó chạy vù đến ôm sầm lấy bố.

 - Bố ơi, bố ơi, bố về hẳn rồi à, bố không đi đóng quân xa nữa à, thế là từ mai có bố lái xe bò rồi, mẹ không phải lái nữa, nhà mình ba người đi đập đá, bằng bọn thằng Khoa thằng Điều, chúng nó chẳng thể nói bố nó hơn bố con được nữa!

Hướng ôm con vào lòng, thằng bé không có bố ở nhà nên trưởng thành sớm, chia sẻ với mẹ mọi công việc, nghĩ mà thương con!

Lụa bấy giờ mới đưa mắt nhìn chồng thật khó diễn tả cái nhìn ấy nửa như vui mừng nửa như hối tiếc.

- Anh! Anh về từ bao giờ đấy, sao không hẹn trước để mẹ con em đi đón.

Anh cười bảo vợ:

- Nhà cách đường 1 có vài kilomet anh đi bộ được, em đi đón lại mất ngày mất buổi.

Anh cầm đôi xà cạp và chiếc nón lá của vợ vào nhà. Lụa thầm nghĩ:  Vậy là chồng cô không còn là anh sĩ quan quân đội, vai bật sáng quân hàm mỗi lần về quê, màu áo quân phục hẳn làm cô tự hào, nhưng mà đi bên cạnh niềm tự hào ấy là những đêm cô một mình ôm con trong ngôi nhà dột tứ tung, một mình lủi thủi cấy cầy, đi đập đá thuê cho người ta, từng hòn đá tan nát dưới tay cô như nỗi buồn, nỗi khó cô cam chịu bao lâu nay bị đập tan ra. Người ta vợ vợ chồng chồng lái xe bò, mỗi ngày làm được hai xe đá lên thị xã bán. Mình chỉ có mỗi ngày đập giỏi chỉ được nửa khối đá 1 - 2. Từ nay có vợ có chồng làm cùng, rồi vợ chồng bảo nhau lam làm, còn thằng Hiếu nữa, nó đi học một buổi thôi còn lại ra bãi đập đá.

Nghĩ đi nghĩ lại cô lại thoáng ân hận, có lẽ tại mình vất vả mà anh xin ra quân. Vậy nhưng cái khó bó cái khôn, ai nào mà muốn chồng mình đi đánh xe bò, nhưng: “Một vạch ba sao không bằng một sào tăng sản, ba sao một vạch không bằng một rạch khoai lang”. Ba đứa con nheo nhóc và mái nhà lợp rạ, tường đất chống hoác không cho cô suy nghĩ thêm. Thôi cứ vợ đập đá, chồng chở đá đem bán, ta không đánh đá như anh em nhà Điềm là được. Đấy, Điềm mươi năm trước theo cô mãi đến mòn cả ngõ, nhưng mà lòng cô hướng về Hướng lúc ấy đang là học viên trường sĩ quan lục quân rồi, họ đã mến nhau từ ngày học chung ở cấp 3 rồi, rồi cô sinh sòn sòn ba đứa con, mãi rồi năm ngoái năm kia Điềm mới lấy vợ bên Chi Phong, vợ Điềm tuy gò má cao, da nâu bánh gio xong cũng chăm chỉ lam làm lắm. Ấy chỉ có điều làm Lụa không vui là vợ Điềm hay xét nét nhìn trộm khi cô ra bãi đá, nhìn chán rồi lại nói kháy nói vổng với Lụa, nhất là gần đây cô sắm được cái xe con bò:

- Anh nhà chị đâu mà để bà chị em đánh xe bò một mình thế này, má hồng môi thắm thế mà cứ tay chém vai vác nhỉ, em đây môi bồ hóng da bánh gai ấy vậy mà chả phải đánh xe bò, cái gì cũng có chồng lo cả, chỉ ngày ngày ngồi chấm công người làm với bán đá.

- Anh nhà tôi đang trong quân ngũ cô ạ.

Lụa nhẹ nhàng trả lời, Dung cười hơ hớ bảo: “Thế mà ngày trước chị chả lấy anh chồng phá đá như chồng em có phải không?”. Điềm đi đến, Dung vẫn đang cười, Lụa giả lơ như không biết, Điềm bảo vợ vào lán nghỉ đi kẻo nắng, tiện tay anh ta quăng hòn đá về phía con bò của Lụa, con bò đồng rừng mới ra bãi không quen nhiều người nó hoảng lên chạy, bị thừng cuốn vào chân ngã khuỵa xuống gần càng xe, Lụa vội vàng chạy lại xuýt xoa tháo gỡ dây thừng mới nâng được con vật dậy, mắt nó rơm rớm nước mắt và đầu gối cẳng chân trầy trật vì đá răm xô. Hai vợ chồng Điềm nhăn nhở nhe răng cười mãi, tiếng cười của họ khô khốc, ồ ồ và hí hách lên lẫn vào bụi đá, nắng gió tháng Mười khô sậm làn da nhăn nheo. Tiếng cười ấy không thể âm vang vào núi.

Hướng đã mấy lần ra bãi đá gặp Điềm, biết công việc của bạn nguy hiểm và ảnh hưởng đến thiên nhiên môi trường, trong cánh rừng sâu dần vào trong kia còn nhiều loại thú rừng hoang dã, ngày trước chúng vẫn ra sông uống nước, có hôm người làng trông thấy khỉ leo cây, voọc quần đùi trắng vắt vẻo mé tảng đá to nơi tương truyền xưa kia các tiên ông vẫn đáp xuống chơi cờ. Bây giờ thì tảng đá ấy nát tan do sự nổ mìn phá núi của anh em Điềm, họ là ông chủ vựa đá to nhất mé sông Hoàng này. Chừng mươi năm mà dãy núi đã bị đánh tan cả khoảng rộng như cánh đồng, ra một công trường đông chen người khuân vác, đập chặt, máy nghiền đá, tiếng búa chí chát và bụi, vẫn là bụi đá mù mịt phủ lên một vùng sườn núi bạc phếch màu vì nắng, vì lá lau xơ xác, khô nâu và hoa lau gập cuống rũ xuống một vẻ nhọc nhằn.

Điềm giơ thẳng cánh tay choòng những nhát thật mạnh xuống mặt đá lưng chừng núi, đối diện anh ta là Tuân, hai anh em như sấm như sét chỉ chốc lát tảng đá đã lõm xuống một lỗ sâu dễ chừng 40cm, họ bỏ mìn vào đó, ròng dây rồi họ nhanh chóng tụt xuống chân núi. Trời mùa đông, gió thổi ràn rạt mặt người, môi nẻ như đất nứt toác ra, rớm cả máu. Điềm ngậm môi, liếm lưỡi, đẩy chút máu ở mép trở vào trong mồm, nhanh chóng chui vào hầm trú ẩn. Thằng Tuân chắc đã nấp an toàn rồi, cái thằng này nó nhanh nhẹn lắm nhưng mà chúa là ngổ ngáo, chả sợ đá rơi, núi lở gì cả. Hôm nay Điềm là người đốt dây cháy chậm, Điềm đã bảo nó xuống núi tránh xa tầm đá văng, tay Điềm đã châm ngòi dây cháy chậm dẫn lén lên lưng chừng núi thì bỗng một dáng người đi như lao tới phía đằng kia núi, Điềm chỉ kịp hét lạc giọng:

- Quay lại, quay lại không là chết bây giờ. Nằm xuống! Nằm xuống đi…!

Cùng lúc ấy đồng loạt những tiếng nổ chát chúa, ầm đục và bụi trắng mù mịt bốc lên từ lưng chừng nơi tảng đá anh em Điềm vừa choòng khi nãy, đá bắn rơi tứ tung, từng hòn đá tung lên trời rồi rơi xuống như một trận bom, chẳng khác gì người ta bắn pháo hoa. Pháo hoa thì tung nhẹ nhàng,  cùng trọng lượng nên độ vòng cong của tia pháo giống nhau. Đá tung thì không như thế, đá to, đá nhỏ tung lên trời, rơi xuống tuỳ theo trọng lượng của từng tảng, từng viên. Tảng to thì chỉ đẩy ình lên không trung một chút rồi nó rơi ịch xuống ngay chân núi, tảng vừa vừa như cái chiếu, như xe bò thì tướn ra xa hơn nữa và đáp xuống mặt đất sau khi đã nhảy chồm chồm vài ba cái nẩy. Những hòn đá nhỏ như mũ cối, như gầu dai, như nắm tay nắm chân thì thôi rồi chúng bay cao lên trung không, chúng bắn ra tung toé, chúng nhàu, chúng nát ra từ lòng đá mẹ chẳng còn hồn vía nào nữa nên chúng cắm phập vào những gì chúng gặp được trong phút phi thân cùng ngàn vạn, vô số đàn em đã tan nát ra thành bụi mù mịt, đặc quánh…

Từ chỗ ẩn nấp Điềm không khỏi nhìn đám đá nổ mà tay vẫn bịt hai tai lại. Bỗng Điềm thấy như trong quầng đá tung lên ấy có một vật thể không phải là đá, vật thể ấy dài hơn các tảng đá, vật thể ấy có các chi ngọ nguậy bung ra!.... Điềm nhắm mắt lại, gạt rất nhanh hình ảnh vừa nhìn thấy trong đầu, bỏ phắt hai tay đang bịt tai, chạy vụt ra bãi đá trong khi vẫn khói bụi mờ mịt, mặc những hòn đá rơi, đá lăn lọc cọc xuống bãi, dù nó có thể lăn gãy chân Điềm. “Cái thằng chết cha, mả mẹ nào lại ra bãi đá lúc này, mày bị tai nạn thì lại phiền phức cho tao”. Điềm đoán không sai, phía bên kia bãi đá là một người đàn ông quần áo màu xanh lá dù bụi đá phủ trắng Điềm vẫn nhận ra người bạn tên Hướng, Hướng sao lại ra bãi đá lúc này? Anh khom người xuống và trong vòng tay ấy là một thân hình mềm rượi, máu túa ra tai và mũi, chân tay oặt ra thõng thẹo. Đó chính là Tuân, trời ơi! Lúc trước Điềm thấy một vật thể chẳng giống đá bay lên trời thì ra đó chính là thằng em của anh. Vừa mới đây chừng mươi phút trước hai anh em còn đứng hiên ngang trên sườn núi đục thủng đá, thế mà giờ đây Tuân đã ra thế này, Tuân ơi…Tuân ơi….

Người Tuân đã nhũn ra rồi, máu me ứa ra từng chặp, nhưng kì lạ là đôi mắt anh vẫn mở với cái nhìn tê dại, Khi Điềm cúi sát xuống người đứa em, Tuân phều phào ngát quãng:

- Anh… đừng… phá….núi…. nữa…!

Rồi nghẹo rũ đầu xuống, đôi mắt vẫn mở to nhìn về phía núi. Điềm hoảng hốt và cả sợ hãi, choáng váng trước hình hài đứa em không nức nở nên lời được, đứng không vững. Hướng đặt nhẹ Tuân lên trên mặt đá, tay chạm vào mũi xem có hơi thở không, chẳng thể nào mà thở được nữa khi mỏm đá Tuân nấp đã bị một tảng đá khác tung đến, đập vỡ, chồm lên cả người Tuân tới mức anh bị bắn tung lên trời như người ta tung một viên bi.

Sau cái chết của Tuân bãi đá im ắng hẳn. Một vùng không gian được nghỉ ngơi không có tiếng mìn đánh đá nổ ầm ầm, không còn bụi mù mờ mịt.  Núi đỡ giật mình, núi nào có thể chạy đi, mấy chục năm nay con người đánh núi, phá núi, có biết bao nhiêu tảng đá đã rời khỏi núi mẹ. Con người có biết đâu lòng núi mẹ tan nát như thế nào. Triệu triệu năm núi chứng kiến bao đổi thay thăng trầm ngàn đời, núi đá là một dấu tích thầm lặng, chở che, nuôi dưỡng con người mảnh đất đất này, làm thành luỹ bảo vệ họ qua các cuộc chiến tranh, thế mà bây giờ đá núi lại bị đánh cho tan hoang trong bàn tay con người.

Các chủ xưởng đá được dịp ngồi lại suy nghĩ. Lụa tranh thủ mấy hôm làm cỏ lúa rồi lại rậm rịch ra bãi đá, cô lo lắng tới khoản nợ bốn chỉ vàng để mua con bò. Chưa làm được mấy bữa thì đã nghỉ dài mà nghe nói vàng đang tăng giá làm cô thêm lo lắng. Trái lại với Lụa từ hôm ra quân đến nay Hướng cứ đi suốt từ sáng đến tối, khi thì ra uỷ ban, lúc lại ở nhà ông trưởng thôn, lúc lại ra bãi đá. Đấy hôm nọ anh ấy ra bãi đá sáng sớm lúc anh em nhà Điềm nổ mìn, Lụa nghe tin chạy ra thấy chồng mình bê bết máu, cô  khuỵ xuống, anh mà có mệnh hệ gì thì cô ân hận và đau xót biết chừng nào. May mắn anh chỉ bị thương phần mềm bởi những vết đá bắn vào, máu là dính từ Tuân sang!

Điềm từ sau ngày người em mất mạng cũng ngây ngây dại dại, ngày đêm đi lang thang trên bãi đá, lúc khóc lúc cười, lúc tìm mò mẫm từng viên đá xếp xếp kê kê hắn nói hắn xếp lại núi, trả đá cho núi để tìm thằng em Tuân về.

Mùa đông u ám rồi cũng qua đi, ra giêng đào chưa phai, bánh chưng chưa hết, lễ phát động trồng cây xanh khắp núi đá, đồi trọc. Bãi đá ven sông Hoàng im lìm đã mấy tháng hôm nay trở mình thức dậy. Những cuộc họp cuối năm cũ, lễ hội đầu năm mới của dân làng và chính quyền địa phương với sự xuất hiện của anh bí thư đảng ủy Đinh Trọng Hướng thúc đẩy nhận thức của bà con: “Đất đai sông núi là tài nguyên, là lịch sử chúng ta chỉ khai thác và làm giàu trên tài nguyên thiên nhiên ấy chứ không thể tàn phá tài nguyên thiên nhiên”. Từng đoàn xe bò chở cây giống được hỗ trợ trên viện Đại học Nông nghiệp I, đất chở từ những gò, bãi ngoài sông lên núi. Anh động viên bà con: “Đồng bào H’Mông trên núi cao còn gùi đất lên hốc đá trồng ngô, cớ sao chúng ta có xe bò lại không mang đất bãi đá, lên núi trồng cây”. Hai ngày mùng Năm, mùng Sáu tết mà cả bốn khu bãi đá được đắp đất, trồng cây gần kín. Hăng hái nhất là vợ chồng Điềm. Miệng nói tay làm, Điềm săm xắn, tất bật hơn cả những ngày anh ta choòng đá, trong sâu thẳm mỗi tảng đất, hòn đá xếp lại bãi đá này Điềm đều nhớ đến người em thiệt phận ngắn số, anh nghĩ: Chiều tối nay mình sẽ ra chùa Bà Ngô xin sư bà một cây bồ đề rồi trồng lên đây để cho em Tuân lấy chốn đi về. Vừa nghĩ vừa nhìn ra anh thấy hai bóng dáng quen quen nhễ nhại khênh một bì đất đến, thì ra Dung với Lụa đang mang đất lên hốc đá cao trên kia, anh vội trèo lên tiếp sức cho hai người. Dung xua tay cười nói với chồng:

 - Anh cứ để chị em tôi tự làm, chị em tôi làm được mà. Cái cây này chỉ là của chị em tôi thôi, sau này mỗi lần đi qua đây, nhìn lên thấy cây gạo rực trời hoa đỏ là của chị em tôi đấy nha.

- Ô, vẫn còn đội quân xe bò ư, vậy thì chúng ta sẽ chở cái gì đây?

Cái ông Điềm từ ngày em trai mất cứ dở dở ngơ ngơ, nhiều điều cứ ngớ ra chả biết gì. Có chính sách mới ban ra: Chuyển hướng cơ cấu kinh tế. Quê nhà phát triển văn hoá và du lịch, sắp xếp lại việc làm cho người dân, đoàn xe bò sẽ đi vào phục vụ các khách du lịch nước ngoài đi tham quan các vùng phụ cận một hình thức trải nghiệm độc đáo và gắn với bản sắc, lại tận dụng sức người, sức của trong dân. Mới đêm qua Hướng nói với vợ như vậy sau cuộc họp về. Lụa thầm nghĩ: Anh ấy ra quân không về đi đánh xe bò chở đá như mình nghĩ mà góp phần giúp bà con mang xe bò đi làm những công việc khác nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn.

Dưới chân núi nhiều người kênh đất đi lại nhộn nhịp, họ xếp gọn những tảng đá nhỏ lại thành những gò đống cao, bỏ đất trồng cây xanh vào những hang hốc. Dung và Lụa cầm tay nhau cùng đi xuống núi, Dung hớn hở chỉ tay ra phía ngoài sông bảo Lụa:

- Chị Lụa ơi, chị nhìn kìa, dưới sông tàu máy chạy băng băng rẽ sóng đẹp nhỉ!

Quả đúng như vậy, trong màn trời mùa xuân nắng mới, dòng sông mờ mờ hơi nước với các con tàu trọng tải lớn đang theo nước ra biển, hai bên bờ cỏ cây đã nảy mầm xanh, những bông lau cuối mùa đang thi sắc với cánh đào phai ven núi. Bên kia sông là núi Cắm Gươm, những homestay và những góc cong đầu đao mái chùa cổ thấp thoáng, ẩn hiện bên núi, ven rừng, góc suối. Con đường du lịch nơi hàng cây bồ đề mới trồng đã bén rễ trổ những chiếc lá hình trái tim, một sự đổi thay được khởi sắc và phát triển từng ngày, từng ngày. Lụa mắt hân hoan nhìn khắp khung trời. Không quên trả lời Dung:

- Ừ, quê mình đẹp lắm, chị em mình cùng nhau góp tay xây dựng quê hương cho mỗi ngày đẹp hơn.

- Đúng rồi, không còn đánh đá phá núi nữa mà mình phải bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của quê hương. Dung cúi người vuốt một gốc lau bị xô ngã, cô bỏ thêm đất vào gốc nó.

Hai người phụ nữ vừa làm vừa trò chuyện, họ vần tảng đá vướng ở bậc dốc, xếp thêm đá tạo thành bàn đá và mấy hòn đá xung quanh cũng được tham dự trở thành một góc cảnh thô sơ, hơi hoang dã lại gần gụi. Lụa bảo:

- Cô hiểu rất đúng đấy, bởi quê mình là vùng đất có nhiều điểm du lịch, đất của các bậc đế vương, nhiều quân thần, vị thánh nổi tiếng, có bề dày lịch sử và linh khí đất trời hội tụ. Mỗi ngọn núi, dòng sông đều có tên tuổi, sự tích, lịch sử từ ngày xa xưa, nhất là thời kì khai sinh nhà nước phong kiến đầu tiên của dân tộc.

Dung reo lên:

- Ôi chị nói cứ như hướng dẫn viên ý!

- Chả không à, tôi rất thích công việc ấy, mai kia tôi sẽ làm hướng dẫn viên ở những khu du lịch quê mình, còn cô?

Dung đã lấy lại vẻ nghiêm túc. Cô chậm rãi nói:

- Em nghĩ rằng gia đình em gắn bó nhiều với những dãy núi quê mình lắm, anh Điềm đang xin dự án phủ xanh núi đá, đồi trọc, nạo vét dòng sông chạy quanh khu di tích phía tây xã mình ấy. Rồi khi ấy tập trung cho xây dựng các công trình du lịch chị ạ, vừa đẹp cảnh quan lại vừa làm kinh tế bền vững.

- Cái cô này giỏi thế! Lụa vịn vào tảng đá bên dốc kéo tay Dung vừa đi vừa khen.

- Ôi, đấy là anh Hướng nhà chị tham mưu cho chồng em đấy, em nghe lỏm thấy vậy.

 Hai người phụ nữ thong thả đi xướng núi, dưới chân núi mọi người đã trồng cây xong. Cả một vùng núi mới ngày nào nham nhở, bạc phếch, đớn đau. Nay hồi sinh mạnh mẽ từng ngày trở lại nguyên sinh một vùng địa linh.

                                                                        N. T. D

(Nguồn: TC VNNB số 319 - 05/2026)

Bài viết khác