Truyện ngắn của VĂN LÊ
Ở làng Thượng Chùa, tổng Thanh Quyết, thuộc trấn Thanh Hoa ngoại, có một người đàn bà tên là Thị Hòa, góa chồng, có mang đúng một năm thì sinh được một đứa con trai, tóc dài đến thắt lưng, đặt tên là Lê Chí Điển. Hôm thị sinh, trời nổi mây xanh, có hình như mâm xôi, sau tan dần, hóa thành hình mũi thuẫn đâm xuống đất. Đến chiều trời đổ mưa, nước xanh như nước rau luộc. Những bậc cao niên trong làng coi đó là điềm gở.
Hơn một tháng sau, có quan chánh ở tổng Trường Yên ghé thăm làng. Ông là người hay chữ, lại giỏi lý, số, nên được mọi người gần xa kính phục. Nghe các bậc tiên chỉ trong làng Thượng Chùa kể chuyện ấy, quan chánh lấy làm lạ lắm, mới cho gọi Thị Hòa ẵm con tới.
Người đàn bà vốn nghèo khổ, chưa từng tới cửa quan bao giờ, nay được mời ra đình làng, trong lòng lo lắng không yên. Nhưng quan đòi thì phải đến. Muốn tránh cũng không được.
Quan chánh tổng nhìn dung nhan người đàn bà nghèo, rồi lật tấm khăn che nắng cho thằng bé. Ngài nhìn một hồi lâu, đầu khẽ gật gật, ra chiều ưng ý lắm. Đứa bé không xấu xí như các quan trong làng kể. Nó đẹp như tranh vẽ. Mắt sinh động, sáng người. Tay xòe ra chứ không nắm như những đứa trẻ khác. Quan chánh tổng lấy làm lạ. Sau đó, ngài hỏi người đàn bà về ngày sinh, giờ sinh của đứa bé, rồi cho về, không hỏi han gì thêm nữa. Các quan trong làng đưa mắt nhìn nhau, có ý chờ đợi lời phán của quan chánh, nhưng ngài vẫn im lặng. Các quan phải gặng hỏi mấy lần, ngài mới nói:
- Xét về tử vi thì đứa trẻ thuộc tuổi hỏa, mạng thổ, lại được sao Thái Dương chiếu, nên tâm tính sáng suốt, cứng cỏi, tài nghệ tinh thông. Đó là số của kẻ sĩ. Nếu sống ở làng, nó chỉ thành lực điền, còn xa thì có tài lộc, nhưng bị chết chìm.
Các quan nghe nói, vẻ mặt không vui; mãi sau, quan lý trưởng mới hỏi:
- Thưa cụ lớn, do đâu mà cụ lớn phán bảo như thế?
Quan chánh tổng ngẫm nghĩ một hồi lâu, rồi nói:
- Nguyên làng này xưa kia là đất trũng, nơi hội tụ của mọi sự dơ dáy. Sau này, người ta đổ đất lên làm nhà, nên khí âm bị bế, sinh ra vướng kẹt, tài vượng không phát. Đất lại có nhiều tia địa ác, nên dân thường đau yếu luôn. Chẳng tin, các ngài đào thử giếng mà xem. Đào ở hướng đông nam, thì nước đỏ như máu. Đào ở hướng tây bắc thì nước đen như mực. Lại có mùi tanh. Làng muốn phát thì phải khai thông ách tắc. Phạm, ngoài điều ấy ra, không còn cách nào khác.
Nghe chuyện, các quan làng có phần sợ hãi. Người gãi chiếu, kẻ ho khan... cố giấu đi vẻ bồn chồn trong bụng. Sau khi tiễn chân quan chánh tổng về rồi, các quan làng ở lại, bàn tán:
- Nghe đồn cụ lớn tổng Trường là người hay chữ hơn, nay xem ra thì cũng thuộc loại xoàng- Quan phó lý thổ lộ- Này nhé, bố đứa trẻ thuộc loại đàn ông chẳng ra đàn ông, đàn bà không ra đàn bà: Lại làm nghề xướng ca, xỏ lỗ tai, chuyên đóng giả Thúy Kiều, Thị Kính... Còn mẹ nó là dân ngụ cư, nghèo mạt hạng, tính nết thì đĩ thõa. Hạng người ấy sinh ra kẻ sĩ thế nào được.
- Đúng quá! - Đội Thơ vỗ đùi tán thưởng - Cả dòng họ nhà ấy chẳng ai làm được chức hương, sống không qua nổi lục tuần thì làm thế nào mà có kẻ sĩ. Cao lắm là làm phu ở Kẻ Chợ, phải không cụ lý?
Quan lý trưởng ậm ừ, lấp lửng:
- Để chờ xem! - Nói xong, ngài nhặt một miếng trầu, bỏ vào miệng, rũ áo, đứng dậy ra về.
Chuyện ấy chẳng còn ai quan tâm nữa.
Ba năm sau, tự nhiên ba cái giếng của làng Thượng Chùa trở nên khô kiệt. Đào mãi vẫn không thấy nước. Nhớ lại lời của quan tổng Trường, dân làng đào thêm hai giếng, một ở tây bắc, một ở đông nam, quả nhiên nước đỏ như máu và đen như mực, mùi tanh xông lên không chịu được. Thế là người ta phải lấy đất lấp đi, nhưng mãi vẫn không đầy giếng.
Đúng lúc mọi người đang hoang mang thì Thị Hòa cõng con, đội tép đi qua. Trông thấy dân làng đang đào đất, thằng nhỏ tụt xuống, đòi xem. Nó bốc một nắm đất, đưa lên mũi ngửi, rồi chỉ tay về phía nơi con rồng, nói:
- Đào ở đây không được. Phải đào ở đằng kia, dưới miệng con rồng ấy.
Các quan lúc đó đứng gần đấy, lấy làm lạ; tuy chẳng thật tin, nhưng cũng cho mấy tráng sĩ tới khoảnh đất dãy núi đầu rồng, đào thử. Mới xắn được mấy nhát mai, thì thấy nước trong kẹt đá phun lên ồng ộc. Nước rất ngọt, lại trong vắt, mát lạnh. Uống vào thấy tỉnh cả người. Các quan bảo nước ấy chính là rãi của rồng. Vào đúng thời điểm ấy, Bắc Hà có thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra, nên chẳng ai lưu tâm đến chuyện đó nữa. Khắp nơi nạn đói hoành hành. Bụng người trống không những gió. Dân chúng phải đào củ chuối, củ rừng mà ăn. Củ hết, người ta phải ăn cỏ mà sống. Trộm cướp nổi lên như rươi. ở đâu cũng có cảnh kẻ cắp bị chặt tay, xiềng chân, cổ đeo gông, phơi nắng ngoài đường. Thế nhưng vẫn bị mất. Đói vẫn hoàn đói, hàng ngày dân từ mạn trong, qua ải Cửu Chân, kéo về Kẻ Chợ, ngủ đầy các điếm canh. Triều đình có tư xuống các trấn mở trạm phát chẩn cho dân. Cứ hai mươi người được phân một đấu gạo nấu cháo. Nhưng người đói đông quá, một đấu gạo phải chia ra tới năm mươi phần.
Cứ mỗi buổi sáng, tuần đinh đi thu gom người chết, rồi đem chôn ngoài bãi tha ma. Nơi nơi, tiếng ca thán, kêu khóc dậy đất, vang đến tận trời xanh.
Vào một đêm tối trời, Thị Hòa đói quá, ôm con toan nhảy xuống giếng tự vẫn, thì nghe tiếng người văng vẳng từ một nơi nào đó cất lên:
- Nàng vốn là con quan ở làng Văn Cừ. Nhân chạy loạn mà lạc tới đây, chịu cảnh bần hàn. Nàng hãy về ngay chốn xưa mà sống, may ra mới thoát khỏi nạn đói.
Tiếng người vọng lên từ chốn thâm cung, làm cho Thị Hòa rất sợ hãi. Chân tay thị run lẩy bẩy, mồ hôi lạnh toát ra ướt sũng cả váy, yếm. Thị lập bập nói:
- Trăm lạy ngài, ngàn lạy ngài, nhà con nghèo khó, xin ngài tha cho...
- Ta không phải là ma đói. Ta không xin ăn nàng. Ta chỉ mong nàng rời khỏi đây về chốn xưa mà sống. Nghe lời ta, con nàng sẽ thành danh.
Tiếng nói lần này nghe rất quen, nhưng thị không nhận ra là tiếng ai. Thị cho rằng đây chính là người quen về báo mộng. Thị ngẫm nghĩ một hồi, không dám liều thân nữa. Thị dắt con trở vào nhà, thu xếp đồ đạc cho vào tay nải, rồi cõng con đi. Bấy giờ vào khoảng mờ sáng.
Sự biến mất của hai mẹ con thị, cả tháng sau, quan làng Thượng Chùa mới biết. Công việc đầu tiên của lý trưởng là đem sổ bạ ra, xóa tên mẹ con thị, giống như xóa tên người chết vậy.
Kể từ lúc bỏ làng ra đi, hai mẹ con Thị Hòa vừa đi, vừa ăn xin, cuối cùng cũng tìm được về làng Văn Cừ, Để nhận diện, dòng họ bắt thị phải cởi yếm ra. Những người thân của thị reo lên khi nhìn thấy nốt ruồi to như hạt đậu ở ngay trên vú bên phải của thị. Nhờ có nốt ruồi ấy mà dòng họ tìm ra được hòn máu lưu lạc trở về.
Dòng họ của thị rất trọng người. Phàm là con trai dù nội hay ngoại, cũng đều được ăn học, nuôi dưỡng tử tế. Chẳng bao lâu, con thị lớn lên, trở thành thằng bé vô cùng tuấn tú.
Một ngày kia, quan Tổng trấn ghé thăm làng, nhìn thấy một thiếu niên dung mạo khôi ngô, đĩnh đạc, mắt sáng như sao, trán cao như núi, tiếng nói trong như tiếng đàn, lấy làm thích thú lắm. Ngài xuống ngựa, đứng lại, hỏi:
- Hoàng nam, người học đến đâu rồi?
Thằng bé nghiêm nghị trả lời:
- Thưa đại quan, ta mới đọc hết có hơn một thiên sách.
- Láo! - Quan mắng. - Vậy ta hỏi ngươi, thế nào là người có học?
- Người có học là người biết mình phải học nữa.
- Thế nào là người có đức?
- Người có đức là người không lấy đức của mình làm đủ.
- Vậy, thế nào là người hèn, thế nào là người giỏi?
- Người đánh mất mình thì gọi là hèn. Người biết mình thì gọi là giỏi.
- Thế nào là sự mạnh? Thế nào là sự yếu?
- Hợp được thì ắt mạnh. Xé ra thì tất yếu.
Quan Tổng Trấn hỏi câu nào, thằng bé trả lời sắc sảo câu ấy, không chê vào đâu được, làm cho ông phải giật mình. Quan Tổng Trấn ngẫm nghĩ một hồi, rồi hỏi tiếp:
- Ta hỏi nhà ngươi câu cuối cùng, ngươi ngẫm cho kỹ hãy trả lời. Thế nào là sự động, thế nào là sự tĩnh? Trường hợp nào thì nắm bắt được hình? Trường hợp nào thì lý chết?
Thằng bé không cần ngẫm nghĩ, trả lời ngay:
- Thưa đại quan, động là tĩnh thức. Tĩnh là động ngủ. Hình là cái nhìn thấy. Hình có thể bắt được, nhưng cũng có thể không. Lửa nhìn thấy nhưng không thể nắm bắt. Đó cũng là lý. Đã là lý thì chỉ có sống mà không có chết. Lý tồn tại ngoài ý muốn của ta.
Quan Tổng Trấn rùng mình. Thằng bé quả là thông tuệ. Ngôn xuất thành lý, ý sắc như gươm. Tư chất trong như ngọc. Sau cùng, quan Tổng Trấn hỏi:
- Ngươi có biết làm thơ không?
- Thưa đại quan có biết chút ít.
- Ngươi đọc thử một bài ta nghe!
Thằng bé cúi đầu, đọc:
Nghe nói Trấn Thanh Hoa năm nay được mùa
Người dân trồng cấy quanh năm đã có được hạt thóc
Ngày mới rạng đã nghe văng vẳng tiếng hát của người hái dâu
Chỉ giận trăng hạ tuần không đủ sáng để soi cho người dệt cửi.
Lại thương người con gái họ Bùi, năm nào đi qua làng chết đói ngoài điếm canh...
Bài thơ khiến cho quan Tổng Trấn xúc động, nước mắt rơi lã chã. Ngài ngoảnh đi, lấy tay áo lau mặt. Ngài bảo:
- Người có tư chất một kẻ sĩ, lại có lòng nhân ái, bao dung. Ta sẽ giúp ngươi. Phải, ta sẽ tiến cử ngươi.
Sáu năm sau, vào năm Mậu Thân, khi Quang Trung Hoàng Đế tiến ra Bắc Hà, diệt trừ xâm lăng, trở về Phú Xuân, có đem theo một viên quan nội hầu rất trẻ, tên là Lê Chí Điển, người ở làng Thượng Chùa, tổng Thánh Quyết, trấn Thanh Hoa ngoại. Đức vua rất quý trọng viên quan trẻ này và còn cho giữ thêm một chức vụ là can giáp giúp vua nữa.
ở thành Phú Xuân, vua làm việc không ngừng nghỉ. Ngoài những buổi chầu triều, ngài thường lui tới công xưởng, cùng với quan thượng thư bộ công xem xét việc đóng chiến thuyền mới hoặc đúc súng đại bác. Đêm đến, ngài thường ngồi một mình trước bản họa đồ, tay bóp cằm, nghĩ ngợi. Những lúc ngài suy tư, quan nội hầu khoanh tay đứng chầu ở cửa hậu. Một hôm, đức vua bất chợt đi ra ngoài, thấy quan nội hầu đứng đó, ngài cảm động lắm, gọi vào điện, hỏi:
- Từ ngày rời Bắc hà, theo trẫm vào đây, khanh thấy thế nào?
Quan nội hầu vái đức vua, rồi nói:
- Tâu hoàng thượng, kể từ ngày được hầu hạ hoàng thượng, thần lấy làm sung sướng lắm. Nhưng quả là thần rất buồn. Thần thấy mình được ăn lộc, mà chưa giúp được gì cho hoàng thượng cả.
- Khanh là một người thông minh, tuy nhỏ tuổi, nhưng tinh tường mọi việc. Lâu nay, ta chưa gặp là vì nhiều việc đó thôi. Khanh đừng lấy thế làm buồn- Vua an ủi, rồi cầm thanh gươm đặt trên giá, trao cho quan nội hầu, hỏi: - Khanh xem, thanh gươm này có tốt không?
Quan nội hầu không rút gươm ra khỏi vỏ, chỉ lượng xem nặng, nhẹ thế nào rồi nói:
- Tâu hoàng thượng, về nặng, nhẹ thì được, nhưng thần chưa biết nó có tốt hay không, nếu thần chưa rõ ai là chủ nhân của nó.
- Khanh thật là ý tứ! - Vua khen, rồi hỏi: - Suốt cả năm nay, không đêm nào ta ngủ trọn giấc. Khanh có hiểu ta lo nghĩ về chuyện gì không?
- Xin hoàng thượng cho thần mượn cây bút, thần sẽ viết trình lên hoàng thượng.
Vua sai mang bút nghiên tới, quan nội hầu liền viết hai chữ "Song Nguyễn" rồi trình Vua. Vua thất kinh, nhưng vẫn bảo:
- Khanh cứ nói rõ ra.
- Tâu hoàng thượng, hiện thời, hoàng thượng luôn lo nghĩ tới việc trừ họa Nguyễn Phúc, thứ đến là lo sửa sang triều chính, chăm sóc muôn dân, theo kế của Nguyễn La Sơn Phu Tử.
Vua sờ lên cằm, cười sang sảng:
- Khanh có tâm linh giống Trinh Di. Có được khanh ở bên, trẫm yên lòng lắm! - Rồi ngài hỏi: - Theo khanh, thì trẫm nên lo tính chuyện nào trước?
- Tâu hoàng thượng, họa Nguyễn Phúc là rất lớn, nhưng vẫn chưa đáng ngại. Hiện y sống ở Vọng Các, liên kết với ngoại bang, tính kế lâu dài, chờ ta có biến thì hành động. Do vậy, chưa đáng ngại. Việc đáng ngại nhất chính là ở triều thần ta. Mấy năm nay, tướng lĩnh hay làm phản, khiến cho hoàng thượng phải nhọc lòng. Dù đã dẹp yên, nhưng mầm mống chưa phải là đã hết. Theo thần, trước thì hoàng thượng sửa sang triều chính, chăm sóc muôn dân, thu phục giang sơn về một mối; sau thì sửa sang binh bị, chinh phạt phương nam.
- Thu phục giang sơn về một mối, điều này là thế nào?
- Tâu hoàng thượng, hiện tại nước ta có, nhưng lại bị xẻ chia. Từ Quy Nhơn vào, hoàng huynh là chủ. Từ Phú Xuân trở ra thì thuộc quyền của hoàng thượng. Do đó, tài lực bị phân chia. Đó là một cái yếu. Hoàng huynh thì tính khí hẹp hòi, trị dân kém cỏi, lại có tính đố kỵ với hoàng thượng. Đó là hai cái yếu. Còn Đông Định vương thì ở xa, cậy quyền cậy thế nhũng nhiễu muôn dân, độc đoán ngang tàng, ăn chơi vô độ. Sử dụng người đó, tất sẽ sinh loạn. Đó là ba cái yếu. Nếu hoàng thượng hợp nhất được thế lực, thì sức mạnh tựa triều cường. Nếu cứ để bị cắt chia mãi, thì chỗ yếu sẽ phát sinh. Nguyễn Phúc nhân đó mà đánh thì nguy mất.
Đức vua ngẫm nghĩ một hồi , rồi nói:
- Về lý, khanh nói đúng. Nhưng chiếm đất đai của anh thì thật là bất nghĩa. Đã là bất nghĩa thì ai còn phục trẫm nữa.
- Tâu hoàng thượng, hoàng thượng hãy vì một An Nam mạnh mà hành động. Hoặc là hoàng thượng sẽ chiếm đất của hoàng huynh hoặc là người khác sẽ chiếm. Tùy hoàng thượng định liệu.
- Khanh nói thế, không sợ trẫm bắt tội sao?
- Tâu hoàng thượng, kẻ hạ thần vì chức phận là nói, thì dù có bị chết cũng cam lòng.
Vua ngồi bất động một hồi, rồi rũ áo đứng dậy. Ngài nói:
- Những điều khanh nói làm trẫm rối trí!
Quan nội hầu định tâu với đức vua một điều nữa, nhưng ngài đã bỏ đi rồi. Cũng từ bữa ấy, chẳng lần nào quan nội hầu được tiếp kiến nhà vua nữa.
Thế rồi, vào một đêm mưa gió, quan nội hầu đang ngồi đọc sách trong phòng, thì đức vua cho lính triệu vào cung. Quan nội hầu vội vàng mặc triều phục, thắp đèn, vào chầu. Dưới ánh đèn, đuốc sáng trưng, quan nội hầu nhìn thấy nhà vua vận hoàng bào, lưng đeo gươm, đi đi lại lại, dáng vẻ xúc động lắm. Hẳn là có chuyện gì đó rất hệ trọng, nên đức vua mới có vẻ nóng giận như thế.
- Tâu hoàng thượng, phụng chỉ hoàng thượng, hạ thần đã có mặt - Quan nội hầu bẩm báo, rồi khoanh tay cúi đầu chờ lệnh. Đức vua dừng bước, nhưng không quay lại. Ngài phán:
- ở phía nam, ta được mật báo rằng Nguyễn Phúc ánh nhờ cậy vua Xiêm La và quân Tây dương giúp đỡ, đang chuẩn bị lực lượng, đánh chiếm Gia Định. Vậy mà hoàng huynh của trẫm lại gây ra một chuyện động trời. Trẫm phải thân chinh đưa quân vào Quy Nhơn. Khanh ở lại, cùng với các quan lo việc triều chính. Đi chuyến này trở về, trẫm sẽ có chuyện bàn bạc với khanh.
- Tâu hoàng thượng, thần xin có mấy lời...
- Trẫm biết, khanh muốn gì... Đừng bận tâm về trẫm. - Nói rồi, đức vua quay trở vào điện. Một lúc sau, tiếng trống trận nổi lên ở phía nam thành. Hoàng đế đã xuất chinh.
Đức vua đi rồi, triều thần vẫn tới chầu, như không có chuyện gì xảy ra. Điều hành công việc là do Bùi Thái sư, anh ruột của Hoàng Thái Hậu. Đây là một con người tài năng tầm thường, lại ỷ vào thế của Thái hậu, hống hách, thích xu nịnh, nên các quan không phục. Bề ngoài có vẻ chấp hành, nhưng trong bụng ai cũng ấm ức. Từ buổi chầu triều đầu tiên, quan nội hầu nhận ra rằng nếu đức vua trao quyền cho con người này, thì mối hiểm họa sẽ không lường trước được.
Sau hơn một tháng hành quân vào Quy Nhơn trở về, hoàng đế không kịp nghỉ ngơi. Ngài ra triều cùng với các quan văn, quan võ bàn chuyện quốc sự, chuẩn bị chinh phạt Xiêm La.
Việc hoạch định cho cuộc đại hành quân đã được nhà vua cùng với quan Thái sư, Đại tư mã, Thái phó, Thái úy, các đô đốc bàn bạc kỹ lưỡng. Toàn bộ kế hoạch tiến quân đã được vạch sẵn trên họa đồ. Công việc được tiến hành gần một năm ròng. Những tháng ngày này, đức vua làm việc rất căng thẳng. Ngài không còn thời gian nghỉ ngơi nữa.
Vào một buổi trưa, sau khi đãi yến sứ thần của hai phiên vương miền Thượng là Thủy Xá và Hỏa Xá, vua nói với quan nội hầu:
- Trẫm đã có phủ dụ hai vua miền Thượng và đã nhận được thư phúc đáp của vua Miên chấp thuận cho trẫm mượn đường tiến đánh Vọng Các. Đêm qua, trẫm mới có chỉ dụ cho quân sĩ các đạo miền Trung. Đợi ngày tốt, ta sẽ khởi binh.
- Tâu hoàng thượng, hạ thần rất nóng lòng chờ ngày đại xuất binh của hoàng thượng.
- Trẫm đã từng nghĩ ngợi rất nhiều về ý của khanh... - Vua trầm ngâm nói: Nguyễn Phúc thề đem hận mười đời để đánh trẫm, thì trẫm cũng vì xã tắc mà khởi binh. Trẫm phải diệt Nguyễn Phúc trước, rồi mới rảnh tay làm công việc khác... Trẫm rất muốn triệu Ngô Thì Nhậm vào Phú Xuân, nhưng nếu đưa Nhậm vào, thì Bắc Hà trống trải quá, may mắn là trẫm có được khanh.
- Xin đội ơn hoàng thượng.
- Đi chuyến này, trẫm không đem khanh đi được.- Vua nói tiếp. - Trẫm muốn khanh ở lại triều giúp đỡ Bùi Thái Sư điều hành công việc. Trẫm đã có sắc phong cho khanh. Khanh hãy vì trẫm mà gắng sức. Đừng phụ lòng trẫm.
Quan nội hầu quỳ xuống trước mặt đức vua, nói với giọng đầy xúc động:
- Xin đội ơn hoàng thượng!
- Mấy bữa nay, trời rất đẹp. - Vua chợt thở dài, vẻ mệt mỏi. - Vậy mà trẫm lại bị nhức đầu. Thôi khanh về đi. Trẫm muốn nghỉ một lát. - Nói rồi, vua vẫy tay. Hai nữ tì vực vua vào điện.
Buổi tối, quan nội hầu ngồi trong phòng đọc sách nhưng lòng áy náy không yên. Trời im gió. Ngọn nến đang sáng bỗng nhiên vụt tắt, châm lửa mãi cũng không cháy được. Quan nội hầu bực bội, bước ra ngoài hiên, thì có con hầu đến báo vua băng hà. Đó là ngày 1 tháng 9 năm Nhâm Tí.
Vua mất, các quan ai cũng than khóc thảm thiết. Chỉ có quan nội hầu là không có một giọt nước mắt nào. Quan như người ngớ ngẩn, áo mũ xộc xệch, tay đấm ngực, mặt ngửa lên trời luôn miệng kêu khổ. Mắt quan trở nên đỏ rực, mấy ngày sau thì bạc trắng như bị phủ bởi một lớp tro tàn. Quan ngự y phải cắt thuốc cho uống mới đỡ, nhưng không được sáng như trước nữa.
Vua băng được ít ngày, triều thần hợp lại lập Thái tử lên ngôi. Vua chỉ mới mười tuổi, nên quyền hành về tay Bùi Thái sư cả. Lúc này, Thái sư càng trở nên hống hách, tàn ác. Triều đình bắt đầu phân chia bè đảng, sát phạt lẫn nhau.
Một hôm, quan nội hầu vào bẩm với Thái sư rằng:
- Thưa đại quan, Thánh Tổ Võ Hoàng Đế băng, để lại cả một sự nghiệp dang dở. Vua còn nhỏ, chưa gánh vác nổi việc lớn. Xin Thái sư tâu với Hoàng Thái hậu cho xuất binh, loại trừ Nguyễn Phúc ngay, thực hiện chí lớn của tiên đế. Không nhân lúc này mà tiến binh, thì xã tắc nguy mất.
Bùi Thái sư vô cùng bực bội, phán:
- Vua chết, như cha mẹ chết, mà ngươi không có lấy một giọt nước mắt, giờ lại dám mở mồm bảo ta tâu với hoàng thượng cho xuất binh à? Những kẻ tâm địa như ngươi thì làm sao hiểu được việc lớn. - Nói rồi, rũ áo bước đi.
Quan nội hầu như chết đứng giữa sân chầu, nước mắt giàn giụa, ai trông thấy cũng cảm thương.
- Xã tắc nguy mất rồi... Sự nghiệp của tiên đế sẽ tan nát vì con người này...
Có con hầu gái đứng gần đấy nghe được, liền báo cho Thái sư. Thái sư giận lắm, cho lính bắt ngay quan nội hầu, tống vào ngục tối.
Khi lính đến vây nhà, quan nội hầu tự lột áo mũ, đặt lên bàn, quỳ xuống, mặt ngửa về phương bắc, khấn rằng:
- Thần là Lê Chí Điển, theo hầu Thái Tổ Võ hoàng đế được bốn năm, thần lấy làm vinh hạnh lắm. Nay thần vì xã tắc mà không làm vừa lòng Thái sư, âu cũng là mệnh trời xui khiến. Nếu trời còn thương đến Tây Sơn, thì xin cho các tướng sĩ đồng lòng gìn giữ được vững bền xã tắc. - Nói xong, quan nội hầu vái ba vái rồi đứng dậy, nói với bọn lính: ta đợi điều này đã mấy tháng nay. Các ngươi cứ thi hành đi.
Bọn lính bước tới trói quan nội hầu lại, đóng gông, rồi đem giam vào hầm tối. Mặc dù bị đánh đập tàn nhẫn, nhưng quan nội hầu vẫn bình thản như không.
Một bữa, có tên ngục tốt mò đến, nói với quan nội hầu rằng: "Đại quan là người có tài, lại có chí, ở đây ắt chết" với Thái sư. Sao đại quan không về với Nguyễn vương để được trọng dụng. Quan nội hầu buồn bẵ lắc đầu: "Đạo thờ vua mà lúc thịnh thì hưởng lộc, lúc yếu thì bỏ đi, có khác giống cầm thú. Bình sinh ta là người Bắc Hà, dù phải chết, ta cũng không đổi lòng được". Tên hầu lắc đầu đi ra, phải chịu là trung thần.
Một tuần sau, Bùi Thái sư cho điệu quan nội hầu ra, thì người chỉ còn là một bộ xương khô khốc. Chỉ có cặp mắt là còn sống. Bùi Thái sư chỉ vào mặt quan nội hầu, mắng rằng:
- Mày theo hầu Thái Tổ Võ hoàng đế, mà lại mong muốn cho cơ nghiệp Tây Sơn tan như bèo bọt à?
Quan nội hầu thản nhiên nói:
- Cơ nghiệp của Thái Tổ Võ hàng đế lại vô cùng to lớn. Nhưng nó sẽ tan nát bởi tay ông. Ông chia bè đảng, sát hại người hiền, đó chẳng phải là điềm báo diệt vong sao?
- Ngươi là một tên hầu, thì làm sao nhìn thấy được núi Thái?
- Núi Thái là Thái Tổ Võ hoàng đế. Nhà vua anh minh mà đại lượng. Dũng mãnh mà cơ mưu. Dưới cơ của ngài, mọi người như một. Còn ông thì đem một cắt ra mười. Này Bùi Thái sư, ta nói cho ông hay, nếu ông còn thờ nhà Tây Sơn, thì hãy ráng làm theo ý lớn của tiên đế. Bằng không, ông sẽ trở thành một con cá chết trôi.
Bùi Thái sư không kìm được bình tĩnh. Ông ra lệnh cho bọn trảm tấu đem quan nội hầu dìm nước cho chết, rồi bỏ xác ở ngoài cồn. Sau, có người đem chôn ở chân núi Bạch Mã.
Người ta kể rằng, sáu năm sau, khi Nguyễn Thế Tổ hoàng đế chiếm được đất Phú Xuân, nghe kể về quan nội hầu, mặt biến sắc, rồi nói: "Nếu Tây Sơn làm theo người này, thì ta nguy mất". Nói rồi nhà vua cho cải táng quan nội hầu, đem về chôn ở chân núi Ngự. Tục truyền rằng, lúc đào lên, thấy thân thể tan rữa cả. Chỉ có quả tim là không tan được.
Chuyện như vậy, không biết sự thể thế nào.
V.L
(Nguồn: TC VNNB số 305+305/5/2025)