Truyện ngắn của NGUYỄN BỔNG

Minh hoạ XUÂN DƯƠNG
Bà đon đả rót nước mời. Tôi đã yên vị trên chiếc ghế băng đóng bằng một thứ gỗ xoàng, bà nhẹ nhàng vào dìu ông ra cùng tiếp khách. Ông tâm sự, tên ông là Lảng, cứ trở trời vết thương lại hành hạ ông. Những lần như thế, không có chị gái tôi chăm sóc thì không biết cậy nhờ ai. Nhìn lên ba cái Huân chương chiến sỹ giải phóng treo trân trọng trên tường thấy có ba dòng họ khác nhau. Chắc có uẩn khúc…
Cái tin ông Lảng hứa cúng năm mươi triệu để tu bổ vào ngôi chùa xã người ta bàn tán ầm cả lên! Mấy người rỉ tai nhau, nhẽ ông ấy là người họ mình cũng nên. Nhưng xem ra ông trưởng tộc họ Nguyễn là người sốt sắng hơn có lý hơn. Ông bảo: “Ông ấy còn không biết chính xác họ ông ấy, nhưng nếu họ ta đùm bọc, thực tình cưu mang coi ông ấy như người nhà cũng là tốt. Nếu cần có thể kết nghĩa anh em”. Chả biết ông trưởng tộc có thâm ý gì nữa, nhưng cứ như điều ông ấy nói ra thì quý hóa quá. Riêng ông thiếu tá Nguyễn Thìn chưa vội, ông thủng thẳng giữ kẽ: “Hơn mười năm ở Trường Sơn, tôi đã chứng kiến mấy trường hợp do mất bố mẹ từ nhỏ, họ không rõ tông tích họ mạc, họ nhận anh em kết nghĩa với người đồng ý chí rồi nhận luôn cùng họ. Do vậy cứ từ từ để bác Lảng có thời gian tìm hiểu kỹ rồi tự nguyện cũng không vội”. Ông Nguyễn Sửu vai trên ông Thìn còn nhấn mạnh: “Sửa lý lịch là không tùy tiện được đâu, nó liên quan đến sinh, tử, đi, đến, kết hôn, tài sản rồi chế độ chính sách, quyền và nghĩa vụ công dân”.
“Quý hoá quá! Thật là quý hoá! Tôi không biết lấy gì đáp lại thịnh tình của quý họ”. Ông Lảng vừa nói vừa vái lấy vái để hàng chục cụ đang ngồi trên sập, trên ghế nhà ông trưởng tộc họ Nguyễn. Trên bàn thờ khói nhang nghi ngút, dưới bếp thì mùi hành mỡ thổn thức nhảy múa. “Tình người là quý. Người là vàng của là ngãi. Ông đã có lòng đến với họ chúng tôi còn quý hơn vạn lần… Nhân có các cụ cao niên đông đủ ở đây, có tâm sự gì xin ông cứ tự nhiên”. Vẫn tiếng ông Thìn thiếu tá mở lòng. Ông Lảng cảm động quá lắp bắp mãi chẳng thành lời. Mỗi người một câu an ủi động viên, cuối cùng ông cũng kể được. Đại loại thế này: Năm Ất Dậu ông mới lên năm, nạn đói năm ấy cùng với vỡ đê nước mặn, xác trôi lềnh bềnh. Bố ông chết. Các em ông chết. Chị gái ông bị lạc, sau này nghe tin cũng chết. Hai mẹ con ông đành bỏ làng, tính vào Nam theo đoàn người tơi tả. Nhưng lên tàu đêm, đến một nhà ga nọ nghe nói là Vinh hay Vịnh chi đấy, mẹ ông lả đi rồi cũng bỏ ông. Ông bơ vơ thoi thóp rồi cũng có người thương hại nhặt về nuôi. Mấy năm sau, thấy nhà họ cũng khó khăn, bữa ăn bữa nhịn, ông trốn nhà bám theo một đơn vị bộ đội qua làng. Rồi lớn một chút, ông được đơn vị giao làm liên lạc. Năm năm tư giải phóng miền Bắc, ông được vào học ở trường thiếu sinh quân. Sau đó đơn vị vào nhận nhiệm vụ ở Trường Sơn. Bom đạn chả kể ngày đêm, ông đã để lại một cánh tay. Chiếc võng bạt vừa là giường khi nằm, vừa là cáng khi bị thương, khi hy sinh là quan tài đã là bạn duy nhất gắn với rừng với đời ông hơn chục năm trời cũng là tài sản có giá trị nhất khi ông ra quân. Ông chỉ nhớ quê người nuôi ông ở Diễn Châu nên ông về đấy lấy vợ và mang họ Đào của mẹ nuôi. Ngấm chất độc da cam ông vô sinh và vợ ông cũng bỏ ông sau đó mấy năm. Ông đơn thân lủi thủi sống bằng đồng trợ cấp thương binh còm cõi nhưng nỗi nhớ quê cứ dằn vặt ông. Ông chỉ nhớ người nuôi ông kể lại láng máng ở cái ga Vinh khi nhặt ông. Cái tin nhớ nhất là bà cùng di tản với mẹ ông nói với mẹ nuôi : “Bà ấy là bà Bảng cùng quê với tôi ở Yên Định gần biển, cả làng bị vỡ nước mặn chết gần hết, nhà nó cũng chết đói, chỉ còn hai mẹ con, giờ đến lượt mẹ nó cũng bỏ nó thật tội nghiệp, mà tôi thì… bà hãy mở lòng cứu lấy cháu”. Ông đã năm lần bảy lượt khăn gói về tìm quê, có lần đã về tận Yên Định, lòng khấp khởi vừa mừng vừa lo, nhưng cuối cùng thất vọng. Bởi Yên Định là tên một huyện của tỉnh Thanh lại không gần biển, người ướm bằng tuổi bố mẹ ông chả có ai tên là Bảng. Sức đã hao vơi và đuối dần lại bùng lên cái khát vọng tìm quê tìm họ để rồi… lá rụng về cội. Ông đã nghe có người mách là ở Nam Định cũng có ga tàu và có cái huyện Hải Hậu chi đấy có địa danh Yên Định. Chắc đây là cái ga tàu lần đầu mẹ con ông bước lên chăng! Và lần này đánh liều lần cuối, tiên tổ, trời đất chắc còn linh nên dun đẩy ông về tận Yên Định nơi nghe rõ tiếng sóng biển ì ầm và tộc Nguyễn đây thì nhẽ đã đúng! Chỉ có cái tên Bảng của bố mẹ ông, người bảo hình như có nhưng ở tộc Trần, người thì bảo, ông Bảng ở rể họ Đỗ còn họ đích thực chả ai rõ. Bởi làng này cách mấy làng sát biển bị xóa sổ năm đói vài cây số. Mọi người xúc động lắm. Có tiếng chặc lưỡi xuýt xoa, có người đã thầm quệt dòng nước mặn mòi ứa ra hai khóe mắt. Ông Lảng càng cảm kích càng rành rọt câu chuyện. Lần này nghe tin Hải Hậu có hội chùa, tôi quyết định cứ về hội chùa, biết đâu trời phật phù hộ sẽ lần ra tông tích. Nếu không thì cũng coi như một chuyến vãng cảnh về cái huyện đã sinh ra mình thì cũng tốt. Ở chiến trường ông còn nhận đồng hương miền Bắc cơ mà, sống đùm bọc tử tế với nhau như anh em một nhà cũng tốt mà. Ông như một làn mây trắng mồ côi, từ biển lang thang lên tận đỉnh Trường Sơn cuối đời lại về với biển, rồi đến lúc cũng tan ra theo gió cuốn về trời, âu cũng trọn một kiếp người, nên mang họ nào cũng tốt.
Ông trưởng tộc Nguyễn vẫn thao thao lý lẽ như đã đến hồi kết của buổi trò chuyện. “Như vậy là trời phật độ trì giúp ông tìm đúng quê rồi. Còn họ tộc giờ ông tính sao?”. “Tôi cũng không biết nữa. Nhưng con người có tổ có tông. Tìm về được quê mà không biết mình là người họ nào thì lại càng đau xót. Mẹ tôi chết, hồi ấy tôi nhỏ quá nên cũng chả biết họ gì, chỉ nhớ mọi người gọi tôi là Lảng”. Mọi người lại động viên an ủi. Người đặt câu hỏi này, người đưa ý kiến nọ. Cộng với không khí thân mật trong bữa tiệc nên ông Lảng cảm động lắm. Ông nghĩ, nếu được họ Nguyễn đồng ý, ông sẽ sắm cái lễ để nhập họ. Được mang họ Nguyễn đông nhất trăm họ để có nơi có chốn đi về còn gì bằng. Khi nói điều đó ra, các vị đại diện trong họ ồ lên vui vẻ. Ông trưởng tộc rạng rỡ ra mặt. Thật bõ công ông săn đón tiếp cận. Ông tuyên bố: “Nếu sau này ông Lảng tìm thấy họ đích thực của mình thì tình nghĩa mãi vẫn còn. Việc thất lạc do thiên tai, địch họa chả phải mình ông. Còn nếu ông không tìm thấy thì coi như ông mang họ Nguyễn, có nghĩa vụ quyền lợi như nhau. Với tôi, ông ít tuổi hơn gọi tôi bằng anh. Căn cứ vào đó, theo các mối các nghành mà xưng hô cho phải đạo, họ cứ theo hàng, làng theo tuổi. Các vị có nhất trí không ạ!” “Còn gì mà không nhất trí”. Nhiều người đồng thanh cùng nói và vỗ tay rầm rầm.
Người họ Nguyễn thì căn bản là tốt. Đấy là nghĩa cử đùm bọc, là thương người như thể thương thân. Nhưng miệng lưỡi thế gian thì lại khác. Người ta đồn ầm lên rằng: Giá ông Lảng không nhiều tiền thì làm gì có chuyện họ Nguyễn nhận vơ. Thời buổi bây giờ cứ anh nào giàu là người ta quý. Khép lại quá khứ, chung tay xây dựng quê hương giàu đẹp tất nhiên là tốt rồi. Nhưng anh nghèo rớt mồng tơi tía thì lấy gì xây với chả đắp, rồi có họ nào đứng ra cưu mang nhận họ?
Hội chùa đã xong nửa tháng, nhưng ông Lảng vẫn chưa được đi. Người nọ chuyền người kia, nhà này chuyền nhà khác đãi đằng như chuyền quả bóng. Ông này là chú, ông kia là bác. Còn ông kia đầu râu tóc bạc đấy nhưng lại là hàng cháu… tất cả cứ rối như canh hẹ. Ông Lảng mệt nhoài vì đi nhận họ, ghi ghi chép chép, mệt đứt thở cả ăn với uống nhưng vẫn không dứt ra được. Cho đến một hôm, ông trưởng tộc mời ông đi thăm từ đường ngành cả. Trên đường đi ông chỉ cho ông Lảng bao nhiêu cảnh đẹp đổi mới của quê hương, nhất là từ khi có cuộc vân động lớn: Chung tay xây dựng Nông thôn mới.
Mấy cái làng ven biển do vỡ nước mặn năm Ất Dậu gây chết đói không sót một mống nay là vùng nuôi trồng hải sản, nhiều nhà trúng tiền tỷ. Rồi phú quý sinh lễ nghĩa. Con người ta phải biết ơn tổ tông, cả người ra nước ngoài cũng hướng về họ tộc, gửi vàng tiền xây dựng chùa chiền, nhà thờ họ mạc, mồ mả. Cái họ Đinh làng bên có ông làm to trên tỉnh, bà vợ còn tài trợ cả chục cây vàng nên nhà thờ họ to nhất xã đấy.
Thật đúng như người xưa tổng kết: Sống vì mồ vì mả đâu sống vì cả bát cơm. Rồi nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Khi vái xong ở từ đường họ cả, lại xoáy vào chuyện phải trùng tu. Các cụ họ tổ Nguyễn ta xưa đã xây từ đường phải nói là chắc chắn mà lại rất sang, toàn gỗ lim. Bây giờ làm được thế phải nhiều tỷ chứ chả chơi. Ngày xưa là to nhất xã, giờ sáp nhập ba xã thành một hóa ra lại nhỏ. Giờ con cháu làm ra ăn nên, có của ăn của để lại bảo: Ngôi từ đường thấp quá, không nguy nga bằng các ngôi từ đường các họ mới nâng cấp, có cả làm mới. Mà việc nâng cao tôi trù tính cũng chỉ già ba trăm triệu thì đố anh nào dám chê. Khổ nỗi, kẻ no gò người đói nên cứ chần chừ mãi. Ông Lảng vui vẻ gật lia lịa nhất trí cao với ông trưởng họ.
Nhưng …
Ông trưởng tộc bỗng hỏi: “Nghe nói, chú cúng năm chục triệu để tu bổ chùa xã có phải?”. “Làm gì có. Chắc người ta nghe nhầm, thực ra là em…”. “Nhầm nào? Chả nhẽ …”. “Là thế này. Hồi ở chiến trường...”. Chưa kịp nghe câu chuyện, ông trưởng tộc cắt ngang: “Vậy không phải số tiền ấy là của chú sao?”. “Không! Em chả bao giờ có nổi năm triệu đồng, nói gì đến năm chục triệu. Bác tính hơn chục năm ở Trường Sơn, chiến trường ác liệt. Trong một trận đụng bọn biệt kích Mỹ tiểu đội em nổ súng, em bị thương, rồi ra Bắc điều trị, còn mạng sống đã tốt rồi. Vẫn biết người ta về phục viên sau chiến tranh làm kinh tế mạnh lắm, nhưng hoàn cảnh em…”. “Thôi thôi. Giờ thì tôi hiểu rồi. Tôi cũng thông cảm lắm. Nhưng gần tháng trời sao không thấy ông hé răng?”. “Bác bảo, chả nhẽ không hỏi mà xưng. Tự nhiên vô duyên lại kể lể cái sự vất vả, nghèo hèn của mình ra à”. Ông trưởng tộc buồn và thất vọng ra mặt. Vẳng bên tai ông là lời ông thiếu tá Thìn đã ý tứ nhắc đi nhắc lại… kẻo mang tiếng họ Nguyễn mình tham, thấy người sang bắt quàng làm họ. Người trong họ xì xèo góp ý với ông: Liệu mà ứng xử cho khéo kẻo lòi cái đuôi tham tiền của thiên hạ ra. Mấy đêm liền không ngủ, rồi tiếp đêm ấy, nhất dạ sinh bá kế. Sáng hôm sau, cạn chén trà nóng ông trưởng tộc bình tâm vỗ vai ông Lảng: “Này! Đêm qua tôi nằm mơ các cụ báo mộng, ông không phải gốc rễ tộc Nguyễn. Có lẽ cụ Bảng thân sinh ra ông là dòng tộc họ Đỗ thì đúng hơn. Vì ông cụ nhà ta có thể cũng họ Đỗ xa, về làm rể họ Đỗ thì sao? Mà không chính xác đi nữa lấy họ Đỗ là họ của vợ nơi ông cụ Bảng ở rể càng có gốc gác và phải đạo chứ”. Ông Lảng chỉ còn biết ngồi ngây người ra và ấp úng: “Vâng…Bác dậy phải”. Tiếng ông trưởng tộc bùi ngùi ra vẻ cảm thông và mở lối. “Này ông. Làng bên có bà Nga là bộ đội ở Trường Sơn, cũng là thương binh, chắc hơn ông vài tuổi, có hoàn cảnh giống ông, cũng ở cái làng ven biển bị xóa sổ năm xưa về đây sống đơn thân, ông thử đến nói chuyện với bà ấy. Biết đâu…”
Ông Lảng tới nhà bà Nga. Lướt qua mấy cái Huân chương treo trân trọng trên tường. Như hiểu ý bà tâm sự: Hồi năm đói rồi vỡ đê nước mặn, tôi mới lên sáu, người nhỏ thó. Cả nhà chết gần hết, may mẹ kịp cho tôi vào nhà người ta rồi dẫn đứa em trai theo đoàn người di cư, mãi sau vẫn ngóng mà tôi chả có tin tức gì! Được cái nhà người ta nghèo nhưng tốt bụng. Nhà có một chị hơn tuổi tôi. Năm năm tư giải phóng Điện Biên, cả hai xin đi làm công nhân mãi tận Mộc Châu Sơn La, sau đó cả hai chị em cùng vào bộ đội và vào mãi Trường Sơn. Năm bảy nhăm đất nước thống nhất, tôi là thương binh về quê sinh sống. Ngót bốn mươi tuổi lại bị thương vào cột sống, xã làm cho ngôi nhà tình nghĩa, tuy nhỏ nhưng ấm cúng, bàn thờ ông bà, bố mẹ không khi nào nguội khói. “Thế bà có nhớ năm di tản ấy, mẹ bà dẫn em bà đi nó mấy tuổi không?”. Ông Lảng vội cắt ngang câu chuyện sốt sắng hỏi: “Chắc cũng cỡ bốn năm tuổi thì phải”. Ông Lảng sững sờ. Hay đây chị Nga là chị gái mình thật. “Chắc bà có nhớ họ của bà, nhớ làng của bà”.“Nhớ chứ. Tôi họ Ngô. Cũng chả rõ mang họ mẹ hay họ bố. Làng tôi mấy chục ngôi nhà tranh vách đất gần biển có cây đa to lắm, nhưng năm đói vỡ đê chết gần hết, còn sót ai thì tứ tán tha hương. Thế là người ta san bằng làm ruộng muối, dưới lớp đất là xương người dày như rải cành dâu chả ai dám ở”. “Hồi đi với mẹ, tôi còn nhỏ quá chả nhớ gì về chị mình, sau này nghe tin chị cũng chết đói rồi… Lạy trời, lạy phật, lạy linh hồn ông bà, cha mẹ, hay chị là chị ruột của tôi đây!”. “Thế tên bố và em trai, hẳn chị nhớ” “Nhớ chứ, bố tôi tên là Bằng, em tôi là Lăng”. Bỗng tim ông Lảng đập thùm thụp, có khi nào mẹ nuôi ông nhớ nhầm Bằng - Lăng thành Bảng - Lảng, họ Đỗ thành họ Ngô không nhỉ? Cũng có thể lắm! Thổ âm vùng miền và lúc bấn loạn đói khát con người ta đâu nhớ được như lúc tỉnh táo. Ông mong là mẹ nuôi ông nhầm!
Bà Nga bùi ngùi câu chuyện: “Khổ cho ông mà cũng khổ cho tôi, sao hoàn cảnh xưa và nay giống nhau thế chứ. Nhưng lấy gì làm bằng chứng bây giờ. Thôi thì để nhớ dần. Còn ông cứ qua lại chơi. Nhà có một mình, buồn lắm. Nói thật! Ông nhập họ Nguyễn tôi cũng mừng thầm. Tôi nghe tin cũng thương lắm, muốn đến hỏi thăm nhưng lúc nào cũng thấy ông bận”. “Thế à chị”. “Thấy người ta bảo thế. Với lại nghe nói ông giàu lắm. Nếu tôi vồn vã người ta lại bảo; thấy người sang…”. “Em đâu có giầu có gì. Sống bằng đồng trợ cấp thương binh thôi”. “Thế mà có năm chục triệu cúng vào chùa”. “Không phải tiền của em”. “Thế sao ông lại cúng”. “Em cúng thay một người. Người ấy là bạn chiến đấu cùng em, quý nhau như anh em ruột rà. Chị nghe em kể đây: Luật 10/59, máy chém lê khắp miền Nam. Nhiều dòng tộc nghi theo cách mạng, bọn Mỹ Diệm giết nhầm hơn bỏ sót đã chém sạch không sót một ai. Chú ấy con một gia đình có người làm du kích ở Cai Lậy, hay Cai Vái gì đấy bị bắt và chém hết, chú mới mười tuổi đi chơi bên ngoại nên sống sót, được cơ sở cách mạng đưa về cứ tận rừng miền Đông Nam bộ nuôi và cho ra Bắc học. Về đơn vị chiến đấu cùng đơn vị em, anh em đồng cảnh, nhận nhau rồi kết nghĩa. Em bị thương về Diễn Châu quê mẹ nuôi sinh sống để lại địa chỉ hẹn ngày tìm nhau. Sau giải phóng, chú ấy tìm về nhà em. Trận chiến không cân sức 81 ngày đêm giữ thành cổ Quảng Trị bị thương cụt một chân tận háng, lại vào đúng chỗ nhạy cảm, không thể có con nên không lập gia đình. Hai anh em người mất chân, người cụt tay, dựa vào nhau thành một người tạm gọi là hoàn chỉnh để đắp đổi qua ngày. Do tái phát vết thương chú ấy bỏ em! Lời chăng trối cuối cùng chú ấy dặn: “Tiền dành dụm được, em nhờ anh sau này gửi vào chùa nào mà anh ở gần nhất để có bát hương thờ. Làm được vậy, sau này anh em mãi được bên nhau, họ của anh cũng là họ của em”. Chú ấy mất được tám giỗ rồi. Số tiền em gửi ngân hàng, em đã thề là khó mấy cũng không tơ hào một xu. Tổng số tiền cả vốn lãi năm mươi triệu em đều cúng vào chùa xã hết. Chuyện là như vậy chị ạ!”.
Chị Nga òa bật khóc. Khóc tức tưởi rũ rượi, khóc khổ sở, khóc như lâu lắm rồi không được khóc. Bỗng chị vơ lấy tay tôi nắm chặt, lắc mạnh ân cần bảo: “ Đau cho chú ấy quá, quê mãi miền Nam, cho đến lúc chết còn chưa biết cha mẹ, anh em, quê quán. Mà thôi, khi sống ai cũng ứng với một ngôi sao trên trời. Chú ấy cũng là một ngôi sao Trường Sơn một thời, đã lóe sáng và đổi ngôi, chả ai đổi chác, cầm cố, nhượng bán được cho ai! Em làm nghĩa cử ấy là việc tử tế, phải đạo. Thế mà tộc Nguyễn và ối người làng lại độc miệng bảo em là…”.
Nói đoạn chị đổi cách xưng hô nói như ra lệnh: “Cậu cứ về đây chung sống với chị. Nhà cửa đủ khang trang. Rồi cũng như các cụ xưa nói: khi nhắm mắt xuôi tay thì đất cũng trả vua chùa cũng trả bụt thôi mà! Đâu nhất thiết cứ phải rõ ràng máu mủ ruột rà mới đùm bọc nhau được. Đã từng một thời Trường Sơn “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”. Trời còn để sống là hạnh phúc rồi. Quỹ thời gian đâu còn nhiều. Hãy chuyển cả hài cốt, bát nhang của cậu ấy về đây chị em mình giỗ, thờ. Năm mươi tư dân tộc anh em khắp Bắc Trung Nam đều chung sức chung lòng đánh Mỹ, giờ đã thống nhất, đất Việt đâu chả là nhà, là anh chị em. Nếu không đủ kinh phí để thu xếp về quê được đã có chị. Không dành dụm được nhiều nhưng cũng đủ trang trải tươm tất cho hai cậu. Ơn giời phật, tiên tổ, chị em mình còn sống ngày nào sẽ cùng lên chùa tuần tiết nhang khói cho cậu ấy”.
N.B

Vào vụ mới Ảnh TUẤN PHƯƠNG
(Nguồn: TC VNNB số 313 - 12/2025)