Thứ ba, 18/08/2026

Ngày về không xa

Thứ ba, 16/06/2026

Truyện ngắn của PHẠM HỒNG LOAN

 

Chiều.

Nắng tắt dần sau ngọn đồi phía xa. Tôi nắm tay chị Mai, thong thả xuống chân đồi. Chị là con bác ruột của tôi. Hai chị em gắn bó với nhau từ thuở để chỏm. Rời trường đại học, chị theo chồng vào Đà Lạt. Tôi ở lại Hà Nội.

Chợt có tiếng reo lanh lảnh từ xa. An Duyên ào đến, níu tay tôi:

- Cô à! Con đợi cô mãi. Hôm nay, cô đến nhà con chứ? Cô cứ hứa hoài à. Tôi bật cười, xoa đầu con bé:

- Cô bé lém lỉnh ơi! Chúng ta đi nào.

- Cô ơi, hôm nay cô ở lại ăn cơm với nhà con nhé. Cô kể nhiều chuyện miền Bắc cho con nghe. À... Cô đến chơi, ba mẹ con sẽ rất vui. Nhưng mà... Nó ngập ngừng. Tôi nhìn con bé chờ đợi. Song nó chợt im bặt rồi kéo tôi rẽ sang hướng khác. Mặt trời bắt đầu hắt những ánh vàng dịu trên khắp cành cây, ngọn cỏ. Hoàng hôn Đà Lạt chứa bao điều huyền bí, giữa những cảnh vật nên thơ trong giăng giăng mưa bụi. Vừa đặt chân đến đây, tôi đã bị hút hồn bởi những nét duyên của Đà Lạt. Đó là cảm giác se lạnh vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Ngay cả buổi trưa, tôi cũng cảm nhận cái mơn man trên da thịt với màn sương bao phủ khắp cành cây ngọn cỏ như cái lạnh dịu ấm của tiết trời cuối thu Hà Nội. Là những biệt thự cổ trầm mặc, uy nghi ẩn mình dưới những tán thông già. Là vẻ hoang dã, hùng vĩ của trùng điệp núi rừng chứa chất bao bí mật gợi tìm. Là ào ào những thác nước trắng xóa như dải lụa đào tuột xuống từ lưng chừng trời, níu kéo, mời gọi du khách. Là mênh mông những cánh rừng thông trong vi vút gió ngàn. Đã bao lần đắm mình trong cảnh sắc Đà Lạt trong buổi hoàng hôn nhưng chưa bao giờ tôi cảm giác lạ lùng như bây giờ.

- Hôm nay, cô sẽ ở lại với con. Nhưng sao con biết cô ở đây mà tìm?

- Con biết chứ. - Nó nhìn tôi nheo nheo mắt, nhìn tôi tinh nghịch - Con còn biết cô rất yêu Đà Lạt nữa cơ. Ôi! Con bé này. Nó đọc được suy nghĩ của mình sao chứ? Tôi quay sang, bắt gặp đôi mắt mở to, trong trẻo. Vẫn ánh mắt lạ lùng làm tôi xốn xang ngay từ buổi đầu gặp gỡ.

Minh họa: BÙI LIÊM 

Tôi quen An Duyên trong một buổi chiều dạo chơi bên hồ, ngắm nét duyên của Đà Lạt với những giỏ hoa đung đưa trên cột điện dọc tuyến phố, với những vỉa hè được trang điểm bao nhiêu loài hoa, chủ yếu là hoa cẩm tú cầu, vươn hẳn ra ngoài hàng rào ngắm nhìn khách qua đường. Đang mải mê thả hồn trên những cánh hoa, chợt … Rầm... Tôi giật thót người khi thấy bên mé đường, một cô bé chừng 12 tuổi ngã sóng soài bên chiếc xe đạp, chiếc cặp sách văng ra xa. Tôi chạy đến: “Có sao không con? Để cô đỡ dậy nào” “Con không sao ạ...”. Cô bé mếu máo: “Chỉ tại cái chai nhựa kia kìa”. “Không sao thế là tốt rồi.” “Thưa cô, cô ở ngoài Bắc mới vô ạ?” Cô bé nhoẻn cười, quên đi nỗi đau trên cánh tay rớm máu, với giọng nói dễ thương như pha tạp cách phát âm của cả hai miền Nam Bắc khiến tôi thấy thú vị. “Ủa! Sao con biết?” “Dạ. Nghe cô nói là con biết liền à. Cô ơi, ba con cũng là người miền Bắc đó.” Tôi nhìn con bé. Chợt trong tôi nhen lên một cảm giác mơ hồ. Hình như tôi đã gặp đôi mắt này ở đâu? Đôi mi dài che rợp với cái nhìn mênh mang, đau đáu. Đang chìm trong suy tư, chợt An Duyên kéo tay tôi:

- Cô ơi, nhà con đây nè. Rồi nó cao giọng, lanh lảnh - Mẹ ơi, cô An Nhi đến thăm nhà mình nè. Một người đàn bà dáng chắc nịch, đang tưới cho mấy khóm hoa trước nhà, ngẩng lên:

- Chào cô. Mời cô vào chơi. Cháu cứ nhắc cô hoài à. An Duyên, con mời cô vào nhà uống nước, đợi mẹ một chút nghe con.

- Dạ! Cô bé nói như reo, nắm tay tôi bước vào căn nhà ba gian khang trang, sạch sẽ. Chợt tôi sững lại. Trên giường, một người đàn ông ngồi bất động, mắt nhắm nghiền. Những vết sẹo nhằng nhịt kéo dài khiến khuôn mặt anh lúc nào cũng như co rút lại. Tai bên trái mất đi quá nửa, phần còn lại nhú ra như miếng mộc nhĩ xẻ nhỏ. Một tay áo rỗng không, đu đưa. An Duyên kéo tay tôi:

- Cô ơi, đừng sợ. Ba con hiền khô à. Mà ba con là bộ đội giải phóng đấy.

- Chào anh. Tôi là An Nhi... Hình như... Hình như tôi đã gặp anh ở đâu rồi thì phải? Có phải anh là người Thành Nam không ạ? Mặt người đàn ông co rúm lại. Anh xoay người ra phía cửa sổ, lắc đầu quầy quậy, mắt nhắm nghiền như đang cố xua đuổi điều gì đó đang giằng xé trong lòng. Điều gì vậy? Tôi bước lại gần. Đập vào mắt tôi là vết sẹo to bằng nửa đồng xu bên trên thái dương mà bom đạn kẻ thù không chạm tới.

- Anh An Phước. Có phải là anh không? Trời ơi. Anh còn sống ư? Người ta đã gửi giấy báo tử về cho gia đình mình? Người ta đã làm lễ truy điệu anh rồi cơ mà? Anh có nhận ra em không? An Nhi của anh đây. Người đàn ông gục xuống đầu gối. An Duyên vội vã trèo lên giường, ôm lấy vai bố:

- Ba ơi, ba có làm sao không? Cô ơi! Ba con tên là Hai chứ không phải là An Phước đâu ạ.

Tôi bàng hoàng, thảng thốt. Không! Tôi không thể nhầm được. Ánh mắt thăm thẳm của An Duyên là đây. Ánh mắt đã theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ là đây. Người đàn ông vẫn ngồi yên, bất động, mắt không rời khỏi tôi, da diết, đớn đau. Không chịu nổi ánh mắt ấy, tôi vội vã:

- Không. Em không thể nhận nhầm được. Đúng là anh rồi. Anh nhớ không, ngày xưa, hồi anh còn học ở lớp chuyên trên thành phố, trước khi xung phong đi bộ đội, cứ mỗi chiều thứ Bảy, chúng em lại ra ngõ đợi bố chở anh về để được anh cho quà. Rồi đứa nào đứa ấy nhảy lên, hò reo, nhảy múa khi cầm trên tay những cuốn truyện anh mua bằng tiền tiết kiệm. Rồi những ngày hè, anh em mình cùng vui đùa ở ao trước nhà. Anh leo lên cành sung chĩa ra giữa ao rồi nhún mình nhảy ùm xuống, bơi một mạch sang bờ bên kia. Lúc ấy bé An Phương, An Hải ngồi trên cầu ao khóc thét lên, còn em thì mặt mũi tái xám sợ anh... chết đuối. Anh vội vàng bơi lại, lấy cây chuối đã chặt sẵn, thả xuống ao, cho từng đứa bám vào, tập bơi. Nhiều khi anh hít một hơi dài rồi ngụp xuống, mất tăm. Em hoảng hồn, gào lên thất thanh: “Anh ơi, anh đâu rồi?”. Nước mắt chưa kịp tràn bờ mi, em đã cười hớn hở khi anh ngoi lên ngay trước mặt. Mải mê vùng vẫy chỉ đến khi mẹ gọi thì anh em mình mới kéo nhau lên bờ. Nhưng em thích nhất là những lúc xem anh bắt cá, vì anh có tài sát cá mà, đúng không? Khi lấy nơm úp cá, chỉ vài nhát chụp, anh đã tóm được một chú tươi roi rói, giãy đành đạch, quăng lên bờ. Mấy đứa hè nhau bắt bỏ vào chậu hò reo đến khản giọng, coi anh như người anh hùng, đánh trận nào thắng trận đó. Rồi cứ sáng chủ nhật, anh đưa chúng em ra vườn bắt sâu, nhổ cỏ, tưới cho vườn rau xanh mơn mởn nữa. Mỗi khi đi học về đến nhà là anh lại luôn chân luôn tay với bao công việc để giúp mẹ. Anh còn nhớ trước khi lên đường chiến đấu, anh dặn em điều gì không: Phải cố gắng học thật giỏi dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào. Anh nhớ không? Anh nhớ không?

Một bàn tay dịu dàng kéo tôi đứng lên:

- Bình tĩnh lại đi em. Tôi ngã vào lòng người đàn bà xa lạ phút chốc đã trở nên thân thiết.

- Em xin lỗi chị. Có lẽ em lầm. Anh ấy có nhiều nét giống anh trai em. Đây là vết sẹo hồi nhỏ anh ấy bị bệnh đậu mùa. Ngày xưa, khi còn bé, em hay ngồi vào lòng anh ấy, sờ lên vết sẹo này. Nhưng anh trai em hy sinh lâu rồi. Mà chị ơi, sao anh ấy lại đến nông nỗi này? Chị dìu tôi đến bên bàn, đưa cho tôi cốc nước lạnh:

- Uống đi em. Rồi chị sẽ kể em nghe. Ngày ấy... Chợt người đàn ông bật lên, lết về phía cuối giường, sờ soạng. Chị vội chạy đến. Anh gạt chị ra, oằn mình trên đôi nạng gỗ, khó nhọc, cà nhắc lê từng bước ra cửa. Gương mặt anh tối sầm, chỉ thấy dòng nước chảy ra nơi khoé mắt. Người vợ đến bên tôi:

- Đừng giận anh ấy mà tội nghiệp, em à. Anh ấy không muốn nhắc về quá khứ. Không muốn ai biết về mình. Ngày ấy, cách đây 20 năm. Biết trước bọn giặc sẽ càn qua đây, mấy ngày trước, gia đình chị cùng dân bản đưa nhau vào tận trong núi. Đợi quân giặc rút lui, dân bản trở về, dựng lại nhà cửa. Đêm ấy, mọi người lặng lẽ đưa những người lính trẻ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ bản, xuyên rừng, lên ngọn đồi cao. Họ đặt các liệt sĩ nằm cạnh nhau tiến hành các nghi lễ cần thiết trước khi đưa về với đất Mẹ. Những người lính tuổi đời chưa quá hai mươi, nắm tay nhau như đang ngủ với vẻ mặt thanh thản. Chị có cảm giác như họ đang ngủ say sau một ngày cùng bà con lên rừng phát rẫy, tỉa cây. Khi vẫn nắm tay nhau để chia từng mẩu khoai, điếu thuốc thì giờ đây, các anh lại nắm tay nhau, đi về miền mây trắng. Chỉ đến khi nắm đất đầu tiên phủ lên người họ, chị mới bật khóc. Mọi người lặng lẽ ra về, chị vẫn còn ngồi bên những nấm mộ san bằng được đánh dấu bằng mấy tảng đá. Cuộc đời mỗi con người lẽ nào cuối cùng chỉ hiện hữu trên thế gian bằng một viên đá nhỏ nhoi này thôi? Lòng nặng trĩu, chị cùng cha quay trở về. Ngang qua con suối cạn, chợt chị níu tay cha: “Ba à, hình như có tiếng người.” Cha chị sững lại. Hai cha con thận trọng dò dẫm về phía có tiếng rên yếu ớt. Bỗng chị giật mình. Dưới hố bom sâu hoắm, trong ánh trăng mờ ảo, một người không rõ hình thù nằm nghiêng, bất động.

Cha chị nhào xuống, áp tai vào ngực áo màu xanh cỏ úa còn loang vết máu. Lát sau, ông ngẩng lên, mừng rỡ: “Bộ đội mình. Còn sống. Anh ấy còn sống. Lẹ lên con”. Trong khi cha cậy miệng đổ nước cho anh bộ đội, chị không dám nhìn vào anh. Một mảnh đạn quái ác nào đã tiện gần đứt vành tai anh. Cả khuôn mặt nham nhở, lùng nhùng máu mủ. Chân trái phình to, chặt cứng trong ống quần, cánh tay trái lủng lẳng chỉ còn dính vào vai bằng một mảnh da. Chân phải...? Ôi trời! Lúc cha bế anh lên, chị chỉ thấy ống quần buông thõng. Cho đến bây giờ, chị cũng không thể hiểu được hai cha con đã đưa anh chiến sĩ về bằng cách nào. Cũng không thể hiểu được vì sao anh vượt qua cái chết với những vết thương khắp người. Chỉ biết rằng hầu như cả ngày lẫn đêm, hai bố con không ngủ. Trong khi cha mải miết lên rừng tìm các loại lá cây vì ông vốn am tường các cách chữa bệnh bằng cây rừng thì chị ngồi lặng yên, lắng nghe từng hơi thở đứt quãng, khó nhọc của anh. Phải đến ba tháng sau, sức khoẻ của anh mới ổn định, nhưng mỗi khi trái gió trở trời, anh lại lên cơn đau đầu bởi mảnh đạn còn găm trong đó.

Một lần, dưới hầm bí mật, anh nắm tay chị: “Công ơn của cha và em suốt đời không bao giờ anh quên. Nhưng anh không thể là gánh nặng cho em mãi được. Anh phải đi. Anh phải tìm về đơn vị.” Chị kêu lên, thảng thốt: “Trời ơi, anh đi làm sao được với đôi chân này? Mà anh biết đơn vị ở đâu mà tìm? Không. Em không cho anh đi đâu cả.” “Đừng. Em đừng ngăn cản anh.” Dưới ánh sáng lờ mờ của lỗ thông hơi, đôi mắt anh loé lên những tia sáng mà chị chưa thấy bao giờ. Sáng hôm sau, gõ cửa theo ám hiệu đến lần thứ ba nhưng trả lời chị là sự im lặng khắc nghiệt của đất. Vội vã mở cửa hầm, chị nhào đến chỗ anh nằm, run run cầm mảnh giấy đặt ngay ngắn trên gối: “Em! Anh ra đi. Đừng tìm anh. Nhất định sẽ có ngày anh trở về với em. Mãi mãi mang theo bóng hình em và công ơn của ba trong suốt cuộc đời”. Hai cha con chị bổ nhào đi tìm anh. Anh ở đâu giữa điệp trùng rừng núi, giữa bốn bề rền vang tiếng súng, giữa những dòng người ngược xuôi hối hả với đủ sắc màu của cuộc di tản?

 Đà Lạt giải phóng. Sài Gòn giải phóng. Tin vui dồn dập bay về. Cả buôn làng bé nhỏ của chị tràn ngập cờ hoa. Một lần nữa, chị lại ra đi. Trái tim như thầm mách bảo điều gì đó. Chị quên mọi mệt nhọc, đói khát, hiểm nguy. Mười ngày sau, chị tìm thấy anh kiệt sức bên một dòng suối. Chị ôm chầm lấy anh, thảng thốt: “Anh... Anh tỉnh lại đi.” Lát sau, mi mắt anh khẽ động đậy. Chị lập bập: “Anh mở mắt ra nhìn em đi. Trời ơi! Sao anh lại thế này cơ chứ?” Nước mắt chị đẫm vai anh. Bàn tay anh lần tìm mái tóc chị. Những sợi tóc xơ xác, cứng queo làm mềm trái tim nóng bỏng của anh: “Em! Em tìm anh làm gì? Hãy để anh đi. Anh phải tìm bằng được đơn vị của anh.” “Nhưng chân anh thế kia thì làm sao đi được? Chị cúi xuống sờ vào vết thương đang rỉ nước vàng - Về nhà thôi anh.” “Không! Anh phải đi. Nếu không tìm được đơn vị của mình, anh sẽ nhập vào bất cứ một đơn vị nào cũng được. Anh không thể là một kẻ đào ngũ. Em hiểu không?”. Những câu cuối, anh dặn từng tiếng. “Thôi mà. Em năn nỉ anh đó. Anh nghe em. Khi nào lành vết thương, anh đi tìm đơn vị cũng chưa muộn. À, em chưa kịp báo cho anh hay. Em đã báo cáo trường hợp của anh cho mấy chú bên Mặt trận. Các ổng bảo anh cứ yên tâm chữa lành vết thương. Khi nào có đơn vị bộ đội hành quân qua, các ổng gửi liền à. Đó là mệnh lệnh. Đồng chí bộ đội đã rõ chưa?” “Rõ.” Anh cố gượng nỗi đau, giơ tay lên chào.

Thời gian sau, cha chị lâm bệnh nặng. Trước khi qua đời, ông gọi chị đến bên giường: “Con à! Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp. Thôi thì số trời dun dủi cho con gặp thằng Hai. Cha xem ra nó là người tốt. Không làm được những việc nặng nhọc nó cũng đỡ đần được việc nhà. Hai đứa bảo ban nhau làm ăn. Rồi ông trời sẽ không phụ con đâu”. Chị nghe theo lời cha. Anh cũng không có ý định đi tìm đơn vị nữa. Đã có lần chị hỏi về quê quán, gia đình, anh chỉ im lặng, quay đi, sờ tay lên mặt, ngân ngấn nước mắt. Từ đó, chị không hỏi thêm lần nào nữa. Rồi An Duyên ra đời.

 Chị cúi xuống, giấu giọt nước tràn ra nơi khoé mắt.

Lẫn lữa mãi, cuối cùng cũng đến ngày tôi phải trở về. Sau cuộc nói chuyện đường dài, một gói bưu phẩm được chuyển đến trước khi tôi lên máy bay một tiếng đồng hồ. Không kịp dặn chị Mai, tôi ôm gói đồ lao xuống chân đồi. Tôi ào vào nhà, hối hả xé lớp giấy bọc ngoài, đổ tung xuống bên anh. Anh cuống quýt vồ lấy tấm ảnh ố màu thời gian. Tôi níu tay anh, nức nở:

- Anh nhìn kĩ xem có phải đây là tấm ảnh anh chụp với chị An Ngọc ở trường Đại học Tổng hợp khi anh về phép chuẩn bị đi B? Lẽ nào anh không nhận ra chính mình? Không nhận ra chị gái mình?

Hai tay anh run bắn lên. Nụ cười của người con trai mười bảy tuổi và ánh mắt dịu hiền của người con gái như kéo anh về với quá khứ. Tôi hối hả:

- Đây nữa tấm ảnh anh chụp với các bạn cùng đội tuyển chuẩn bị đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc trước khi anh lên đường. Đây là anh Trân, anh Ninh, anh Tùng, anh Chiến, chị Tuyết... Còn đây nữa. Lẽ nào anh không nhận ra chiếc ba lô và những đồ dùng đơn vị gửi về cùng giấy báo tử vì tưởng anh đã hy sinh. Đây chiếc đồng hồ cha tặng anh ngày nhập ngũ? Chiếc huy hiệu Đoàn chị An Ngọc cài cho anh trước lúc lên đường. Cuốn sổ ghi những bài thơ anh viết, cả nhà vẫn nâng niu đợi ngày anh về. Em vẫn còn thuộc nhiều bài thơ của anh, nhất là bài thơ Tiếng thoi viết về quê mình: “Lách cách/ Tiếng thoi đưa/ Nghe êm ái/ Dịu nắng trưa...”. Còn đây... Tôi nghẹn lại, nước mắt lã chã rơi - Tấm ảnh cả nhà mình chụp trước khi anh đi bộ đội. Mẹ đây, bố đây, anh cũng không nhận ra sao? Và đây, tấm ảnh của chị Mùi. Anh còn nhớ chứ. Từ ngày anh lên đường, cả nhà mình đã coi chị như người trong gia đình. Vậy mà... Người đàn ông bật lên vồ lấy tấm ảnh, giơ lên trước mắt rồi áp vào ngực, ngã soài xuống nền nhà. Chợt tiếng còi xe vang lên giục giã như xoáy vào tim. Tôi gục xuống rồi bừng tỉnh, vội vã, hấp tấp vơ vội gói đồ, quay người như chạy trốn trong nỗi tuyệt vọng đến rã rời. Bỗng có tiếng kêu xé lòng:

- An Nhi. Anh đây.

Tôi đứng sững lại. Khuỵu xuống. Không. Tôi đang bồng bềnh. Bồng bềnh. Có tiếng thầm thì thân thuộc ở nơi nào đó xa, xa lắm:

- Em hãy tha thứ cho anh. Anh đã nhận ra từ khi em bước vào, cất tiếng nói. Giọng của em gái anh, giọng của quê hương mà anh ấp ủ trong tim, mong có ngày được trở về. Bao năm qua, anh khao khát phút giây này, nhưng anh không thể.... Ngay cả bản thân mình, khi soi gương, anh còn ghê sợ nữa là... Em biết không, đã bao lần anh nghĩ đến cái chết. Đã bao lần anh muốn được trở về nhà, được nhìn thấy bố mẹ, thấy mọi người trong gia đình mình rồi lại ra đi thì dù có chết anh cũng an lòng. Nhưng khi soi mình trong gương, anh lại từ bỏ ý định đó. Không! Anh không thể trở về. Nhưng giờ anh đã hiểu. Chiến tranh có thể huỷ diệt tất cả nhưng không thể huỷ diệt được trái tim con người, phải không em?

                                                                        P.H.L

(Nguồn: TC VNNB số 319 - 05/2026)

Bài viết khác