Chủ nhật, 17/05/2026

TRUNG TƯỚNG - TIẾN SĨ NGUYỄN TRỌNG THẮNG CÁNH CHIM LỬA GIỮA NHỮNG CƠN “BÃO LỬA”

Thứ bảy, 14/03/2026

CHU THỊ PHƯƠNG LAN (Hà Nam)

- A lô! Xin lỗi, có phải chị là người nhận tư liệu mà chúng tôi cần gửi đến hay không? Chị ở Phủ Lý phía bên này đường Một hay phía bên kia sông Đáy? Liệu tôi có phải “bay” qua sông hay đi đường vòng hỏi thăm mấy cây số theo địa giới hành chính vừa mở rộng? Tôi đang ở Ninh Bình, hẹn chị ba mươi phút nữa tôi có mặt!

- Xin chào vị tướng và xin lỗi nhé! Đã qua lâu lắm rồi cái thời “bắc nhịp cầu giải yếm” nên giờ muốn qua sông thì “bay” có phải không? Hẳn đây là một vị tướng quen “Quân lệnh như sơn!”. Từ Ninh Bình về Phủ Lý hẹn ba mươi phút! Có lẽ tôi phải bỏ dở chuyến công tác ở Duy Tiên để “bay” về đón tiếp một vị tướng đích thân đem tư liệu đến nhà một tác giả địa phương! Xin cảm ơn vị tướng mà tôi chưa quen đã hình dung cá tính.

Chà! Hẳn đây là một tác giả biết người biết việc. Cuộc gặp gỡ chắc chắn sẽ có nhiều thú vị. Tiếng nói không phải để trả lời tác giả mà chỉ là tự nói với chính mình. Liệu tác giả nghĩ gì về cuộc gặp gỡ không hẹn trước và có kịp về trực tiếp nhận tư liệu từ mình hay phải gửi lại thì chẳng thích. Mình muốn gặp xem nữ tác giả ra sao mà dám đi vào một đề tài đặc biệt này - Danh tướng và Anh hùng! Đâu phải cứ phóng bút viết theo cảm tính. Chỉ có cây bút nghiêm túc đầy trách nhiệm mới có thể viết được về đề tài khô cứng của những người quen “Quân lệnh như sơn!”. Tự nhiên, tính tò mò hấp dẫn và lôi cuốn của một thời tuổi trẻ lại trở về. Cái chất lính cố hữu bao giờ cũng thế, nó không chịu “già” theo tuổi tác cho dẫu có trăm năm, khi nghĩ lại thời oanh liệt ta vẫn là người lính!

Vừa dự lễ kỷ niệm ngày thành lập trường Tăng thiết giáp, trong lòng vị tướng nguyên là Cục trưởng Cục Nhà trường còn lâng lâng niềm vui của tuổi trẻ hôm nay - Những người lính được đào tạo bài bản chính qui chứ đâu phải như chính mình thời chống Mỹ - Anh lính binh nhì có trái tim nóng bỏng lửa nhiệt tình cách mạng! Lòng căm thù quân giặc thôi thúc bước quân hành!

Trên con đường Quốc lộ 1A đoạn Ninh Bình - Phủ Lý, xe bon bon như chắp cánh cho tâm hồn vị tướng đang đi đến cuộc hẹn không báo trước! Những cây bút thời @ đa số đi vào đề tài tuổi trẻ hôm nay, sôi động đầy hấp dẫn như những món ăn nóng hổi trên bàn. Cây bút này lại “ngược dòng lịch sử” năm, sáu mươi năm thời bom đạn chiến tranh! Ba mươi phút hẹn giờ liệu có phải là đánh đố khi tác giả nói là đang còn ở Duy Tiên? Thôi thì, cứ coi như là một thử thách “độ tin cậy” đối với cây bút nữ? Kìa! Hình như mình “mắc bệnh nghề nghiệp” tự bao giờ? Phải chăng môi trường đào tạo luôn đòi hỏi những học viên nghiêm túc. Hãy thông cảm cho một người vốn từng quen “Quân lệnh như sơn!”.

Chẳng kịp làm phép tính về vận tốc, chặng đường từ Nình Bình với Duy Tiên cùng về Phủ Lý bằng phương tiện khác nhau, chị vội thu xếp công việc để về ngay cho khỏi muộn, chị không muốn trễ giờ đối với vị khách đặc biệt này.

Về đến nhà, vừa kịp rót nước dừa ra cốc để chuẩn bị tiếp khách trong một buổi chiều nắng nóng, chiếc xe đen đã đậu ngay hè phố. Một dáng người cao lớn bước xuống xe, vào thẳng trong sân không một chút ngập ngừng. Thật đúng tác phong con nhà lính! Tiếng chào vồn vã. Cái bắt tay thật chặt như thầm nói - Đây là nơi tin cậy để trao gửi dòng tư liệu của những người lính đã từng được tôi luyện qua những tháng năm dài trong khói lửa chiến tranh! Bỗng chốc, anh cảm thấy thanh thản với nụ cười cởi mở, vui tươi. Đôi mắt tròn to nhìn thẳng như nói lên tất cả. Ít phút trao gửi, hàn huyên, anh lại vội vã xin phép đến thăm người đồng đội năm xưa cùng thời trận mạc, giờ cũng đang ở đất Phủ Lý này. Anh không chỉ là một vị tướng, mà còn là một người sống có tình có nghĩa. Hình ảnh người bạn đồng ngũ năm nào luôn hiện hữu trong nỗi nhớ khôn nguôi, hễ có dịp là anh ghé thăm ngay tức khắc. Chị đóng vai “nữ giao liên” lên xe đưa vị tướng đến nhà ông bạn. Chia tay về nhà, chị vội mở chiếc phong bì dày cộm lấy tư liệu ra xem. Hai tấm hình cùng lúc ra theo. Một tấm hình anh lính quân giải phóng đội chiếc mũ tai bèo và tấm hình vị tướng. Hai tấm hình ở hai độ tuổi khác nhau, nhưng đôi mắt to tròn vẫn bộc lộ nội tâm đầy cá tính.

Tuổi Sửu sinh năm 1949! Có phải anh cất tiếng khóc chào đời vào lúc gà gáy sáng, khi người nông dân vừa xuống khỏi giường đã vội dong con trâu ra đồng cày ruộng? Hai con số 9 vòng to như đôi mắt của anh ngời sáng! Đôi mắt đen với cái nhìn trực diện thì dẫu có phù thủy cao tay cũng phải chạy xa chẳng thể nào phù phép được điều gì. Đôi mắt ấy khi nhìn thẳng kẻ thù sẽ thể hiện sự áp đảo đến cùng.

Trung tướng Nguyễn Trọng Thắng sinh vào tháng tám, ở thôn Đồng Trụ, xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân nơi xóm bãi ven sông. Nước sông Hồng dạt dào sóng vỗ hòa vào câu hát ru của mẹ! Hạt lúa củ khoai nuôi Thắng lớn lên. Nghèo đói không làm cho Thắng cọc còi bởi đôi mắt giúp anh có sức bật như cây măng mọc thẳng. Không được học nhiều như các chàng thư sinh phố thị, anh sớm gắn bó với ruộng đồng nên mới mười bảy tuổi, anh đã là một đội trưởng sản xuất đầy năng động. Anh cũng là Trung đội phó dân quân dũng cảm và mưu trí.

Ngày 26/10/1966, từng tốp giặc trời vãi bom xuống làng quê. Một quả bom 1000 bảng cắm sâu xuống sau nhà ông Xã đội trưởng Nguyễn Xuân Bản. Bom không nổ. Cả xã chưa ai có kinh nghiệm phá bom… Đội trưởng sản xuất kiêm Trung đội phó dân quân Nguyễn Trọng Thắng kịp thời có mặt. Anh là người đầu tiên xung phong trực tiếp xuống đào bom với tinh thần quyết thắng. Anh tính, cứ đào lên để trấn an tinh thần dân cái đã, rồi báo cáo với tỉnh đội cho xử lý sau. Ngay trên trận địa hôm ấy, Nguyễn Trọng Thắng được kết nạp vào Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Sau đấy, anh được dân quân và chính quyền xã đề nghị Tỉnh đội Nam Hà cấp Bằng khen.

Mười chín tuổi, anh lên đường nhập ngũ, gửi lại lũy tre làng ánh mắt vấn vương! Có ai đó gửi theo bước chân người lính trẻ ánh mắt e ấp trong vành nón! Anh chẳng phải gác bút nghiên mà là bàn giao công việc ruộng đồng cho những người con gái ba đảm đang ở lại quê nhà. Sau mấy tháng luyện quân, anh cán bộ đoàn đồng thời là tổ trưởng tổ ba người Nguyễn Trọng Thắng đã được tặng giấy khen và đơn vị báo công về địa phương. Đó là sự khởi đầu cho chặng đường binh nghiệp của chàng trai không ngại gian nan. Anh luôn hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao cho dù có khó khăn đến mấy. Hết đợt huấn luyện tân binh, người lính trẻ cùng đồng đội “phi” một mạch sang đất nước triệu voi lạ lẫm. Đại đội 11 trong Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 chiến đấu suốt bốn năm (1968 - 1971) bằng mối tình hữu nghị Việt - Lào gắn bó keo sơn. Giữa hai trận đánh, anh có cùng cô gái Lào trong điệu múa lăm vông, cho tiếng hát xua tan khói bom và thuốc súng. Điệu múa lăm vông đã tiếp thêm sức mạnh cho anh chiến đấu dũng cảm cùng đồng đội. Chỉ sau hai năm, từ anh lính binh nhì, anh đã trở thành một Trung đội trưởng mưu trí, dũng cảm xông pha khắp các chiến trường Lào khói lửa.

Đến đầu năm 1972, đơn vị anh hành quân về Quảng Trị - Nơi xoáy lốc của cuộc chiến tranh trong những cơn bão lửa kinh hoàng. Không chùn bước, đôi mắt to tròn của Nguyễn Trọng Thắng đã nhiều phen bốc lửa, anh luôn xông lên phía trước tiêu diệt quân thù. Chỉ trong 8 tháng, từ tháng 2/1972 đến tháng 10/1972, Nguyễn Trọng Thắng được phong hàm từ Thượng sĩ với chức vụ Đại đội phó vượt cấp lên Trung úy (bỏ qua cấp Thiếu úy), Đại đội Trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 dọc ngang chiến trường Quảng Trị. Đặc biệt, chỉ trong bốn tháng - Từ tháng 11/1972 đến tháng 2/1973, Nguyễn Trọng Thắng được phong hàm Thượng úy với chức Tiểu đoàn Trưởng, bỏ qua cấp Tiểu đoàn Phó) Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 giữa chiến trường Quảng Trị anh hùng!. Ai cũng biết, những tháng ngày này, chiến trường Quảng Trị như một cái máy nghiền, hàng vạn chàng trai trẻ tuổi mười tám, đôi mươi, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thoáng chốc bỗng trở về cát bụi! Kết thúc chiến tranh, Quảng Trị phải gồng mình gánh hai nghĩa trang qúa lớn, chỉ riêng nghĩa trang Trường Sơn đã có hơn mười nghìn ngôi mộ - Đau thương!

Với Nguyễn Trọng Thắng, phải chăng đôi mắt to tròn của anh đã khiến bom đạn quân thù phải bay đi, hay trí thông minh lanh lẹn đã giúp anh “biến hóa!”. Từ thành tích chiến đấu mưu trí, dũng cảm nên chỉ trong một năm ở chiến trường Quảng Trị, từ tháng 2/1972 đến tháng 2/1973, ba lần anh được phong quân hàm, trong đó một lần vượt cấp. Có thể nói, việc phong quân hàm của anh là đặc biệt nhanh. Những trận đánh dồn dập, ken dầy ở chiến trường Quảng Trị lúc bấy giờ đã chứng minh điều đó. Trong chiến tranh, không ai xếp đặt được điều gì. Vòng xoáy của bão táp chiến  tranh cuốn hút, rồi thả anh xuống nơi nào mà anh cần gánh vác. Những trận đánh mịt mùng khói lửa cũng chính là chiếc sàng thưa sàng lọc con người. Sự mưu trí, dũng cảm, không ngại hy sinh là tư chất của Nguyễn Trọng Thắng nên khi gặp điều kiện là khí chất của người chiến sĩ cộng sản thể hiện tức thời. Dẫu chỉ còn một mình một trận địa, anh cũng luôn kiên định, vững vàng. Nếu như ngày 26/10/1966, anh được kết nạp Đoàn ngay bên cạnh hố bom nổ chậm ở địa phương thì ngày 24/5/1970, Nguyễn Trọng Thắng được kết nạp Đảng ngay tại trận địa Phu Nha Thầu, Bom Lọng ở chiến trường Lào. Đây là lớp đảng viên Hồ Chí Minh đầu tiên sau khi Bác mất. Ngày 6/6/1970, với cương vị là Trung đội trưởng, Thắng cùng hai đồng chí phòng ngự tại Pha Thèn trên điểm cao 1790 đánh bại một đại đội lính Thái Lan, diệt 30 tên địch, giữ vững trận địa. Anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng Ba, được bầu là chiến sĩ thi đua của Trung đoàn 141 (Trận đánh này anh đã viết trong tạp chí “Lịch sử và nhân chứng” năm 2012). Trong chiến dịch ngày 16/3/1972, với cương vị là Trung đội trưởng, lần đầu tiên Thắng chỉ huy Trung đội đảm nhiệm một mũi tiến công độc lập. Nhiệm vụ rất nặng nề nhưng với quyết tâm cao, Thắng đã chỉ huy trung đội chiếm lĩnh xong trận địa trước giờ cửa mở vào điểm cao 1468. Thắng cùng anh Nhượng (quê xã Xuân Khê, huyện Lý Nhân) vào sát cửa mở đặt hai giá mìn định hướng ĐH 10. Làm xong trời đã gần sáng. Đúng 5 giờ, hướng chủ yếu có mìn ĐH 20 mở cửa có hỏa lực chi viện, Thắng và anh Nhượng kết nối ba kíp mìn điểm hỏa nhưng mìn không nổ. Không kịp “thót tim”. Nếu mất bình tĩnh, buông xuôi, hỏng việc. Bình tĩnh và nhanh trí, Thắng và anh Nhượng chạy lên lấy kíp dự bị và giá mìn dưới làn hỏa lực địch dày đặc. Lắp xong, các anh chạy về phía sau, điểm hỏa. Chạy được khoảng 20 mét thì mìn nổ. Cửa mở thông. Thắng chỉ huy trung đội dùng hỏa lực chi viện, xung phong tiêu diệt địch, cùng hướng chủ yếu giành thắng lợi ngay lúc 7 giờ sáng ngày 7/3/1972. Chiến thắng này đã góp phần cùng Tiểu đoàn và Trung đoàn giải phóng Sảm Thông.

 Sau chiến dịch này, đơn vị Thắng lại nhận lệnh vào chiến trường Quảng Trị. Lúc này anh là Đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 141. Có thể nói, chiến trường Quảng Trị là nơi ác liệt nhất trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam. Ngày 9/9/1972, Thắng đã chỉ huy đơn vị đánh vào Tích Tường phía Bắc Quảng Trị bằng hai mũi, trong đó Thắng chỉ huy mũi chủ yếu.. Trong trận đánh này, đơn vị đã tiêu diệt 47 tên địch, nhưng toàn bộ mũi tiến công của Thắng có 18 người đều bị thương vong, chỉ còn một mình Thắng vừa bị thương vừa chiến đấu, bảo vệ thương binh. Mãi đến 21 giờ Thắng mới rời trận địa và ba ngày sau anh mới về đến đơn vị… Tiểu đoàn đã làm giấy báo tử cho anh! Khi Thắng trở về, cả đại đội và Chỉ huy tiểu đoàn vui mừng khôn xiết. Sau đó Thắng đi điều trị vết thương. Khi ra viện, Thắng lại vào Quảng Trị chiến đấu. Ngay lập tức, Thắng được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141 (Bỏ qua giai đoạn làm Tiểu đoàn phó). Tiểu đoàn được giao nhiệm vụ tiến công động Ông Do, điểm cao 275. Đúng 18 giờ ngày 25/11/1972, Thắng đã chỉ huy Tiểu đoàn tiến công hai mũi vào động Ông Do. Chỉ sau hai giờ chiến đấu, đơn vị đã làm chủ trận địa. Từ 20 giờ ngày 25/ 11/ 1972 đến 2 giờ ngày 26/ 11/1972, địch đã tổ chức phản công 6 lần. Thắng trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn phòng ngự, đẩy lùi cả 6 lần phản công, tiêu diệt 57 tên địch, giữ vững trận địa và Thắng cũng bị thương. Kết thúc trận đánh, Tiểu đoàn được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Thắng lại đi viện do bị thương lần thứ hai (trận đánh này đã ghi vào lịch sử Trung đoàn 141). Ra viện, anh lại cùng đơn vị hành quân vào Quảng Trị chiến đấu.

 “Con chim lửa” hay trái tim rực lửa luôn vút bay đi bay lại giữa chiến trường Quảng Trị rực lửa căm thù!

Ngày 28/1/1973, Việt Nam ký Hiệp định Pari. Ngay trong những ngày đầu tháng 2/ 1973, Nguyễn Trọng Thắng được cử đi học lớp đào tạo cán bộ cấp trung đoàn tại Học viện Quân sự. Ra trường, anh lại tiếp tục chiến đấu, học tập, công tác và nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 từ năm 1981 - 1983. Sau đó anh được cử đi học văn hóa và đào tạo chỉ huy Tham mưu chiến dịch, chiến lược tại Học viện Quân sự cấp cao.

Tháng 7/1987, anh ra trường, nhận chức Sư đoàn phó Sư đoàn 312 và được thăng quân hàm Đại tá. Ngay sau đó, anh cùng Sư đoàn lên Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên chiến đấu, phòng ngự, đối đầu với giặc phương Bắc lúc nào cũng lăm le xâm lược nước ta. “Người bạn láng giềng” vô cùng xảo quyệt. “Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn!”. Nguyễn Trọng Thắng cùng Ban chỉ huy Sư đoàn chỉ huy đơn vị chiến đấu, giữ vững trận địa, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đơn vị đã được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Từ Vị Xuyên trở về, đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Nguyễn Trọng Thắng với cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 tổ chức xây dựng điểm làm Trung đoàn vững mạnh toàn diện cho toàn quân. Sư đoàn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Tháng 9/1991, Nguyễn Trọng Thắng được điều về làm Hiệu trưởng trường Quân sự Quân khu 1, xây dựng trường là lá cờ đầu trong phong trào thi đua Quyết thắng Quân đoàn 1. Từ tháng 9/1996 đến tháng 11/2002, ông về nhận chức Phó Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân 1, trực tiếp làm công tác đào tạo, góp phần cùng nhà trường nâng cao chất lượng dạy học. Từ tháng 12/2002 đến tháng 6/2003, ông được cử làm Cục trưởng Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu. Ở cương vị này, ông đã tham mưu giúp Bộ Tổng - Bộ Quốc phòng đưa các học viện trong toàn quân nâng cao chất lượng dạy học. Tham mưu đề xuất giúp Quân ủy Trung ương xây dựng Nghị quyết 86 về đổi mới công tác Giáo dục Đào tạo trong các nhà trường quân đội. Đổi mới chương trình, qui trình, qui hoạch hệ thống nhà trường trong quân đội, các học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề và các chế độ chính sách cho bộ đội xuất ngũ được học nghề. Chế độ chính sách cho nhà giáo, phụ cấp cho tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư… Tham mưu đề xuất giúp nước bạn Lào, Campuchia đào tạo học viên quốc tế, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, bạn bè quốc tế khen ngợi.

Tháng 10/ 2011, ông nghỉ hưu ở tuổi 62.

Trải qua 44 năm chiến đấu, công tác trong quân đội, có 22 năm ở đơn vị chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Nguyễn Trọng Thắng đã tham gia 5 chiến dịch, trực tiếp chiến đấu và chỉ huy 20 trận đánh, tiêu diệt nhiều tên địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Gần 22 năm trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục - đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thắng đã góp phần cùng toàn quân đưa các học viện, nhà trường nâng cao chất lượng dạy học. Với chiến công và thành tích trong chiến đấu, giáo dục và đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thắng đã được tặng thưởng các Huy chương “Vì Thế hệ trẻ”, “Vì sự nghiệp tổ chức, xây dựng Đảng”. Các kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Khoa học - Công nghệ”, “Vì sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo”, “Vì sự nghiệp dân vận”. Ông còn được tặng hai Huân chương Chiến công hạng Ba, hai Huân chương Chiến công hạng Nhì, hai Huân chương Chiến công hạng Nhất và Huân chương Quân công hạng Ba, hai danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” cấp 1, cấp 2. Chiến sĩ thi đua về thành tích chiến đấu năm 1970 và Huân chương Hữu nghị do Chính phủ Campuchia trao tặng về thành tích Giáo dục - Đào tạo.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng ngày 21/12/2004, Trung tướng ngày 17/ 9/ 2008.

Quê hương Lý Nhân của ông gần với quê hương Trần Hưng Đạo - Vị tướng lừng danh của dân tộc Việt Nam anh hùng, niềm tự hào với truyền thông quê hương trước bốn biển năm châu. Năm 2004, khi sang Lầu Năm Góc làm việc với Cục Đào tạo - Bộ Quốc phòng Mỹ, ông đã đưa ra kinh nghiệm chiến đấu của bản thân và tấm gương sáng của vị tướng kiệt xuất Trần Hưng Đạo đối chất với tướng Alanh Sia của Mỹ làm cho vị này vội hạ giọng kẻ cả của ông ta, không dám kiêu căng như lúc ban đầu nữa.

Những bài học về truyền thống anh hùng của quê hương dạy cho con cháu vẫn còn nguyên giá trị. Ông cũng mong các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, luôn ghi nhớ về lịch sử đất nước, công ơn đối với ông cha đã đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam anh hùng! Thành quả cách mạng này, cả dân tộc Việt Nam gìn giữ.

                                                                                   C.T.P.L

(Nguồn: TC VNNB số 315 - 01/2026)

Múa rồng                                                                                                                                                                      Ảnh: VŨ THỊ MINH CHÂU

Bài viết khác