LTS: Vương Duy (699 - 759) tự là Ma Cật, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ vương Lý Phạm mến tài, đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại nhạc thừa rồi bị giáng làm Tham quân ở Tế Châu. Ông giỏi văn nghệ, ưa tiêu dao, nên tuy làm việc với triều đình nhưng vẫn thích nơi có cảnh quan yên tĩnh. Ông được gần vua, các cận thần và được quý trọng vì am hiểu văn chương nghệ thuật. Song trong lòng đã sẵn hướng về thiên nhiên nên thơ ông tả nhiều thú điền viên sơn thuỷ. Ngoài ra, Vương Duy có địa vị cao trong Nam phái thiền tông. Người đời sau gọi ông là Thi Phật.
VƯƠNG DUY
Tân di ổ
Mộc mạt phù dung hoa,
Sơn trung phát hồng ngạc.
Giản hộ tịch vô nhân,
Phân phân khai thả lạc.
Dịch thơ
Đoá đoá hoa phù dung,
Nảy hồng trong hốc động.
Bên khe nhà vắng người,
Cứ nở ra rồi rụng.
(Khương Hữu Dụng dịch)
VƯƠNG DUY
Ban tiệp dư kỳ 3
Quái lai trang các bế,
Triều há bất tương nghinh.
Tổng hướng xuân viên lý,
Hoa gian tiếu ngữ thanh.
Dịch thơ
Lạ sao cứ khép cửa lầu
Tan chầu không tới đón chào trước sân
Nghĩ cùng ai đến vườn xuân
Trong hoa cười nói ganh phần làm chi.
(Trần Trọng Kim dịch)
Sứ chí tái thượng
Đơn xa dục vấn biên,
Thuộc quốc quá cư duyên.
Chinh bồng xuất Hán tái,
Quy nhạn nhập Hồ thiên.
Đại mạc cô yên trực,
Trường hà lạc nhật viên.
Tiêu quan phùng hậu kỵ,
Đô hộ tại Yên Nhiên.
Dịch thơ
Xe hướng về biên cương
Qua thuộc quốc Cự Duyên
Cỏ bồng dời đất Hán
Chim nhạn về trời Hồ
Khói buồn cao đại mạc
Ráng chiều phơi trường hà
Tiêu quan gặp binh mã
Bình định đất Yến Nhiên.
(Vũ Thế Ngọc dịch)
VƯƠNG DUY
Sơn cư thu minh
Không sơn tân vũ hậu,
Thiên khí vãn lai thu.
Minh nguyệt tùng gian chiếu,
Thanh tuyền thạch thượng lưu.
Trúc huyên quy hoán nữ,
Liên động há ngư chu.
Tuỳ ý xuân phương yết,
Vương tôn tự khả lưu.
Dịch thơ
Mưa tạnh trời thanh núi hiện ra
Chiều buông thu đến bóng dương tà
Rừng thông trăng tỏ lung linh sáng
Ghềnh đá suối trong chảy lững lờ
Khóm trúc xôn xao lời gái giặt
Hồ sen lay động chiếc thuyền xa
Cỏ thơm vừa héo xuân tàn tạ
Công tử lân la đứng thẫn thờ.
(Hải Đà dịch)

Thanh minh thượng hà đồ Tranh: Trương Trạch Đoan
(Bức tranh này mô tả sự thịnh vượng của Phủ Khai Phong thời Bắc Tống - top 10 những bức tranh thủy mặc nổi tiếng nhất Trung Quốc)
(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)