NGUYỄN THẾ VINH
Lạ quen nút buộc... Giản lược như buộc gói đồ, bó hoa, tết quai thao, thắt nơ, băng vết thương, buộc dây giầy... nhìn dễ, làm khó. Khi gió bão thì cột nhà, giữ cây. Ở rừng kéo gỗ, bắt voi... ngoài biển buộc neo, kéo buồm, thắt lưỡi câu... nút buộc cứu người khi hiểm họa, nhà du hành vũ trụ an toàn ra ngoài không gian... Việc nào dây nút ấy và lạ kỳ trong nghệ thuật trang trí... Với tác phẩm văn học, thắt nút, mở nút, thể hiện tài năng của tác giả...
Trong thường nhật, cuộc sống quanh ta có những việc không mấy ai để ý. Từ làm ngôi nhà cổ xưa, đến chế các vật dụng, công cụ làm ăn, vũ khí đánh giặc... nếu thiếu nó vạn sự khó thành, đó là chuyện các nút buộc...
Từ đơn kỳ, cầu kỳ, đến ảo kỳ, nút buộc là nghệ thuật dân gian độc đáo, di sản văn hóa, hiện hữu trí thông minh, sáng tạo, đúc kết từ thực tế cuộc sống. Cái khó không bó cái khôn, gương vỡ lại lành, lạt mềm buộc chặt... là phương chí của lối sống Việt, mà nút buộc là cách thể hiện tài tình, qua hoa tay của người nghệ nhân.
Dây buộc dễ kiếm từ nguồn thảo mộc vườn nhà đến dây rừng. Nào chuối, gai, đay, lanh, dừa, song, mây, tre, giang, đến chất thép, đồng, nhôm, kẽm... rồi các loại giấy, cao su, ni lông... Thứ nào việc ấy, mỗi cái một công hiệu.
Thời trước, khi đi đâu xa thường không mang theo gậy mà quấn ngang bụng sợi dây chừng đôi mét. Đắc dụng khi cắm trại, kéo cờ, trèo núi, leo cây, cần kíp làm vũ khí.
Thông dụng là thừng chão, người ta trồng đay, gai, chế thành sợi se lại, tùy công dụng mà kết dây to, dây nhỏ. Mua thừng kén loại dây số lẻ (dương 3, 5, 7), không chọn số âm (chẵn 2, 4, 6). Lại tránh mua loại có lõi, khi ẩm lâu khô dễ mục, lõi giữa không hợp lực với sợi se ngoài.
Dây thừng nước Việt, có mặt trong lễ tiếp sứ thần, sang nước ta điếu tế quốc vương nhà Lê (Chính Hòa) năm (1688), triều đình cử năm chiếc thuyền binh sang sông Cái đón sứ Thị lang bộ Lễ nhà Thanh, sứ thần làm thơ tức sự, dịch: “Vừng đông vừa tỏa Phú Lương giang Thanh tước, Hoàng long đã sắp hàng Trai khoe giáp vàng chèo mạnh khỏe/ Chão hồng giây gấm kéo nghênh ngang...(1)

“Đất quang dây thì Tây cũng sợ”... Câu ca lưu truyền ở làng Sơn Dương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nơi có nghề làm thừng nổi tiếng. Quang dây cũng góp phần phục vụ cách mạng.
Thủ công truyền thống nước nhà cỡ hàng trăm nghề, (bách nghệ). Riêng mỹ nghệ kể năm chục làng danh tiếng, sản phẩm phải dùng đến nút buộc. Dệt (vải, lụa), dệt chiếu, thảm, may mặc, thêu ren, khâu nón, quạt giấy, làm trống, giầy dép, đồ chơi, con rối, mây tre đan... trang phục sân khấu, nhạc cụ, vũ khí (cung nỏ)... Nghệ nhân dân gian đã sáng tạo, giữ lại cho hậu thế hàng trăm kiểu cách độc đáo, bí quyết chủ yếu trao truyền không có văn tự miêu tả.
Nút buộc ngấm vào ta lúc nào không hay. Thuở ấu thơ theo lời ru cái cò, cái vạc bay vờn cánh võng. Hóa cánh bướm tay mẹ chải đầu buộc tóc, tiếng sáo tre theo cánh diều lượn ráng mây chiều... Cái nùn rơm ủ ngọn khói, nơi ba ông vua bếp canh giữ, châm hạt lửa ấm cả không gian...
Việc đồng ruộng thời trước nặng nhọc nhất là đi cày và tát nước. Nông gia không thể thiếu cái cày. Chỉ cần nút buộc bằng sợi mây, khi nhấc cày đảo luống nhẹ nhàng, đỡ giọt mồ hôi. Trước sau ngày làm lụng lại biến thành cái gánh, trông tòng teng như gánh cả “giang sơn” ra đồng...
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, quê tôi nhớ ơn cụ Phạm Sinh, gọi là Quận Mèo người chế ra dụng cụ chống hạn: “Thứ nhất gầu giai/ Thứ hai gầu sòng/ Chỗ thấp thì tát gầu giai/ Chỗ cao thì phải tát hai gầu sòng...”
Gầu nối hai đầu dây để ngoài nội cỏ, không phải lội bùn những ngày đông nứt xót gót chân. Còn trong nhà thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Chiếc gầu mang tên nơi sinh ra làng Giai Lạng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nên gọi gầu Giai, được chế tác từ cây tre Việt Nam, (cây tre có nơi gọi là cây pheo).
Sóng gió sông Hồng kể mãi giai thoại. Một năm trời làm bão lũ, có người đàn bà từ đâu được sóng rước vào bãi sú cửa Hồng. Thân quá khổ, không chiếu cói nào bó vừa. Dân làng chài hạ mấy bụi tre đan tấm đắp. Họ chọn ba cây tre nhất đẳng, buộc kiểu chữ tam, vắt ngang từ vai qua bụng xuống chân (biểu hiện thiên, địa, nhân), còn người nằm tựa nét xổ, tay như dấu phẩy, tượng hình chữ sinh (生), mong được tái hồi theo triết lý nhà Phật, yên giấc thiên thu `hướng chân sóng ngọn nguồn. Dân làm nghề sông bể, người quanh vùng, khi khấn vía gọi Bà Lạt, quen dần là Ba Lạt.
Đất Chung Lý, xã Bắc Lý, Lý Nhân (Hà Nam) có nghề làm thuyền nan chưa nơi nào khéo bằng. Con thuyền ví như ngôi nhà thứ hai, phương tiện vận chuyển cổ sơ nhất, đem lại sự bằng an cho số phận trước thiên tai. Đan bằng tre nên gọi thuyền nan (trước khi có chất liệu gỗ, sắt thép, xi măng). Thuyền chở lúa, đánh cá, đăng tôm, chở cát, hái sen, rước nước, hát trống quân ngày hội làng. Nao nức ra quân đắp đê chống lụt, vận tải lương thực, vũ khí, nối đôi bờ cho bộ đội hành quân, xe cơ giới vượt sông ra trận...
Trong mưu sinh, thời Trần, như ngày nay, đánh cá cũng là để bảo vệ cương thổ: “Mười hai cửa bể/ Anh đã cắm đăng/ Cửa nào lắm cá/ Anh quăng chài vào...”.
Tương truyền kho lương Trần Thương, nay xã Trần Hưng Đạo, huyện Lý Nhân, Hà Nam được các nhà quân sự thời Trần ngày ấy dùng thuyền nan chứa lương thảo, bảo vật triều đình từ Thăng Long, Thiên Trường đưa về châu Lợi Nhân cất giữ, chờ thời cơ phản công giành chiến thắng: “Mật truyền vẻ dưới vầng trên/ Quân lương xăm xắp kết thuyền Đức Ông/ Muôn vàn trảy hội Diên Hồng/ Hùng binh cưỡi sóng rửa sông Bạch Đằng/ Bấy giờ, kho lẫm thuyền giăng/ Bây giờ, đền phủ hoa đăng lòng người...” (Thuyền Vương - Nguyễn Thế Vinh)
Làm thuyền đầu tiên phải biết chọn tre. Xem cây nào đốt đầu xòe hai lá cân đối là tre cái để trồng. Tre đan thuyền lựa cây già, có hoa càng quý. Ngạn ngữ “Tre đầu may, khoai đầu luống, gái giữa làng”. Tre đầu may - đầu bụi dẻo dai chống gió bão.
Nghệ nhân đan thuyền dùng thước mắt, lựa dóng chẻ nan. Luật bất thành văn, đan sao các mắt so le, không để quay lên trời hay chĩa xuống mặt bùn. Thuyền không ngấm nước, vượt gió bão, còn bởi xảm bằng keo giã từ vỏ cây sắn, nhuyễn hơn củ nâu mọc quanh ao làng.
Dụng cụ đánh bắt chiêm mùa không sao kể hết. Làng nào cũng có người hoa tay đan lát giỏi. Thành ngữ, “Chồng như giỏ, vợ như hom”, bảo vệ thành quả lao động.
Tơ lụa Việt Nam, thịnh hành vào thời Lý, danh giá thời Lê. Trưng Nữ Vương, trước khi làm tướng, làm vua là gái đảm làng tằm. Kén tằm xếp hai loại, dày là kén trắc, mỏng kén nhì. Sinh đôi thục nữ, Lạc tướng họ Trưng đặt tên cho con, chị Trưng Trắc, em Trưng Nhì, sử truyền là Trưng Nhị.
Mỗi khung lụa dàn 4500 sợi dọc, (tạo màu chìm), muôn sợi ngang, (tạo màu nổi). Nếu không có bàn tay lành nghề nối gỡ, khó mà hoàn mỹ, mà tôn sùng vẻ đẹp phụ nữ Việt: “Quay tơ ra mắc, ra mành/ Mắc thì sợi dọc, mành thì sợi ngang/ Mốt soi thì dệt đầu hàng/ Mốt cục thì đánh go ngang cho bền...” (Câu ca truyền nghề làng lụa)

Hành trình của nút thăng hoa thích dụng vào các lĩnh vực khoa học công nghệ đương đại... Đường dây điện cao thế, vòng xuyến giao thông đô thị, máy bay biểu diễn thể thao, kỹ nghệ điện tử bán dẫn, gương lồi chỉ đường, xiếc ảo thuật, đến quỹ đạo của các hành tinh... có ai nghĩ không liên quan đến nghệ thuật nút… “Nàng ngồi tính trước khung thêu/ Bao nhiêu hồng tía, bấy nhiêu tơ lòng…”
Vương mối tơ tình sao khó gỡ, khó nói, phải mượn gió, hỏi trăng, vin hoa, vấn cây... Tình yêu lứa đôi, hạnh phúc gia đình phong dao giãi bày khúc nhôi tốn bao giấy mực. “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre xanh đủ lá đan sàng nên chăng/ Đan sàng thiếp cũng xin vâng/ Tre xanh đủ lá được chăng hỡi chàng?”
Cao cả hơn hết là truyền thống đoàn kết, dựng nước và giữ nước từ thời vua Hùng, đến thời đại Hồ Chí Minh dân giàu, nước thịnh. “Nơi truyền cho nghề thuốc/ Nơi dạy đúc tên đồng/ Ngược xuôi bền lạt buộc/ Vuông bánh nền lá dong...” (Nguyễn Thế Vinh)
Tấm gương soi của các bậc tiền nhân, danh nhân, phúc thần tỏa sáng. Lại còn luật tục, hương ước, lời nguyền khắc vào đá, vào chuông... đâu đã giải hết. Trong gia đình, nguồn tộc, dòng máu hồng, gen di truyền đời trước nối đời sau, mà con cái, cháu chắt là tài sản vô giá hơn cha là nhà có phúc...Lại còn “nút buộc” nghĩa nặng ơn sâu, tình thầy trò, bầu bạn, đồng hương, đồng ngũ, cùng hội, cùng thuyền...
Muôn cách buộc, níu, (giữ) được lòng người mới khó hơn cả, làm nên sức mạnh tinh thần như sóng triều dâng để mỗi người, muôn nhà vượt qua thử thách trong hoạn nạn, thiên tai, địch họa, dịch họa...
Câu Tử - Đọi Sơn, xuân 2022
Chú thích:
(1) Phú Lương (sông Hồng), Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn.
(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)