Trích hồi ký của THANH THẢN
Ngày 30/4/1975 đơn vị tôi, QYV K50, thuộc Cục Hậu cần Miền, về tiếp quản khu đồn điền cao su Suối Tre, Long Khánh, cách thị xã Xuân Lộc hơn ba cây số. Anh em chiến sỹ háo hức lắm, vui lắm. Sáng hôm sau ai cũng muốn về thăm Sài Gòn, cách đó khoảng 80 km. Rồi mọi người lên báo cáo thủ trưởng. Thủ trưởng dặn dò kỹ càng và đồng ý luôn.
Nhóm tôi có ba người. Sáng sớm 1/5 chúng tôi đã ra đứng bên đường, dưới chân đèo Mẹ Bồng Con bắt xe đi Sài Gòn. Ngày ấy bộ đội bắt xe thật dễ. Nhà xe nào có bộ đội giải phóng ngồi đó là cũng vui và tự hào nữa. Đi xe thì cũng chả mất tiền nong gì. Do đó cứ hễ thấy bộ đội giơ tay là xe nào cũng dừng lại ngay và rất lịch sự, niềm nở mời lên xe.
Chúng tôi lên một chuyến xe đò (xe khách). Xe đã khá chật. Vậy mà thấy chúng tôi lên, ai cũng ngồi dồn lại nhường chỗ. Bộ đội giải phóng còn xa lạ đối với họ, còn là một thần tượng. Xe đang ồn ào nói chuyện mà khi có mặt chúng tôi, mọi người đều im bặt. Ai cũng chỉ thỉnh thoảng ý tứ liếc nhìn chúng tôi. Chắc chắn trong đầu mỗi người đã nảy ra bao nhiêu suy nghĩ, nhận xét. May chúng tôi đã đóng bộ tươm tất. Quần áo, mũ có ngôi sao, dép bốn quai mới phát, sơ vin đàng hoàng, ra dáng tư thế người trong đoàn quân chiến thắng. Chỉ có điều làn da tái mét, hậu quả của những trận sốt rừng và người còn gầy khô, chưa kịp “vỗ béo” thì không giấu đi đâu được...

Xe chạy vun vút. Hai bên đường vẫn tấp nập người đi ngược, về xuôi. Đó là những đoàn người đi di tản, nay yên hàn mới lục tục hồi hương. Trong đó có nhiều người là ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn cũ. Họ đều cởi trần trùng trục, chỉ mặc độc chiếc quần xà lỏn (quần đùi), vì tư trang, súng đạn họ đã trút bỏ lại hết bên đường. Chốc chốc lại thấy bên vệ đường có những đống quần áo nghi ngút cháy và những chiếc xe tăng, thiết giáp nằm gục chỏng chơ. Phố xá xơ xác, điêu tàn, ảo não. Nhiều bức tường sụp đổ, long lở. Nhiều đồn bốt địch bỏ không, dây thép gai bùng nhùng, không một bóng người. Chỉ có cờ là nhiều. Cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ, nửa xanh của Mặt trận giải phóng còn tung bay phấp phới trên nóc nhà, trên những ngọn cây và biểu ngữ “Hoan hô Quân giải phóng”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” rực rỡ chăng đầy phố xá. Thỉnh thoảng lại có những tốp chiến sỹ quân quản, quần áo chỉnh tề, vai khoác súng hiên ngang rầm rập đi trên đường phố.
Tiếng súng, tiếng bom, tiếng máy bay thì đã im bặt. Chỉ có tiếng đài, tiếng loa vang vang, vui rộn. Bầu trời trong xanh, gió lồng lộng thổi, mây trắng nhởn nhơ bay... Ngày hòa bình đầu tiên đẹp lạ. Ai như cũng muốn cười, muốn hát. Không khí trên xe vẫn im lặng, nặng nề. Có lẽ bà con còn e dè chưa biết mở đầu câu chuyện để tiếp xúc với bộ đội như thế nào.
Tôi ngồi cùng ghế với hai cô gái trẻ dáng sinh viên, khá xinh xắn... Xe chạy đã lâu, một cô gái đăm đăm nhìn lá cờ Mặt trận rồi quay khẽ hỏi tôi. Cô nói đặc giọng Bắc:
- Chú ơi... sao lá cờ “bên các chú” lại nửa màu đỏ, nửa màu xanh thế ạ? Cũng may, hồi đó anh em chiến sỹ hầu hết đều đã biết, đã thuộc nhiều đoạn trong bài thơ “Nước non ngàn dặm” của nhà thơ Tố Hữu. Được dịp bắt chuyện, tôi vui hẳn lên. Tôi giải thích về lá cờ xong liền đọc luôn đoạn thơ: “Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh/ Màu đỏ của đất, màu xanh của trời/ Ngôi sao chân lý sáng ngời/ Việt Nam vàng của lòng người hôm nay/ Càng nhìn, ta lại càng say/ Biển Đông lồng lộng gió lay ngọn cờ...”.
Tôi vừa dứt lời thì gần như cả xe đều ồ lên đầy vẻ thích thú. Rồi ai cũng đánh mặt nhìn ngọn cờ, đầu gật gù, thán phục, mến yêu...
Từ đấy các cô nói chuyện với chúng tôi nhiều hơn, tự nhiên hơn. Tôi lại càng vui khi biết cô là đồng hương và là sinh viên Văn khoa. Cô kia thì đã học xong tú tài toàn phần. Cô kể gia đình cô cũng ở gần Nhà thờ đá, di cư vào Nam năm 1954. Chuyện trò lâu lâu, cô như ngẫm nghĩ điều gì đó rồi mạnh dạn lại quay hỏi tôi:
- Chú ơi... thế các chú ở ngoài có được học hành gì không?
Ba chúng tôi nhìn nhau muốn phá lên cười. Một câu hỏi nghe tức cười, ngớ ngẩn, nhưng không xa lạ. Bởi vì từ lâu chúng tôi đã biết, trong này họ thường bưng bít, xuyên tạc, nhất là về những chiến sỹ ở rừng chúng tôi. Nào là không được học hành gì. Nào là như người rừng, lại có đuôi (!?). Người nào cũng gầy đét, đến nỗi bảy người đu một tầu đu đủ không gãy... Họ oang oang trên đài Sài Gòn như thế. Họ bảo điều không đúng, nhưng cứ nói đi, nói lại đến hàng trăm, hàng nghìn lần thì rồi cũng có người tin! Nhưng cũng được may có dịp để chúng tôi nói lên sự thật. Và sự thật thì chính ba chúng tôi đã sờ sờ trước mặt mọi người đây rồi. Chúng tôi cũng có đến nỗi nào đâu, hai anh bạn tôi còn phương phi tuấn tú là đằng khác. Chỉ phải cái hơi gầy thôi... Rồi tôi thong thả chỉ vào mình nói với cô gái:
- Chú đây ở ngoài là một thầy giáo dạy Văn, Sử, Địa sáu năm rồi mới đi bộ đội... Chú kia thì đang là một sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Văn, năm thứ tư... mà trong này gọi là Đại học Văn khoa ấy... cũng xung phong đi bộ đội... Còn chú kia thì đang học Đại học Y Hà Nội, sắp ra trường, sắp thành bác sỹ rồi… cũng “xếp bút nghiên theo việc binh đao” đấy...
Tôi vừa dứt lời thì cô gái ngồi trong đọc luôn: “Chín lần gươm báu trao tay/ Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh”.
Tôi thực sự ngỡ ngàng liền tươi cười khen:
- Cô cũng thuộc “Chinh phụ ngâm” đấy nhỉ?... Cô gái cười lớn lên, khoái chí ra mặt. Tôi tiếp - Nhưng không phải chín lần đâu. Chỉ một lần xung phong là “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” luôn đấy... Cậu ấy còn đã từng cắt máu tay viết đơn tình nguyện nhập ngũ đấy... Mọi người trên xe lại ồ lên vui vẻ. Người nào cũng gật gù thán phục. Có người còn khẽ nói:
- Vậy ra bộ đội giải phóng các chú cũng đều là trí thức cả... Chứ chả như lính ông Diệm, ông Thiệu, toàn tạp nham, ô hợp...
Có người khác thở dài đế theo:
- Thì lúc nào cũng lùng sục đôn quân bắt lính mà... Rồi thì còn lính Mỹ, lính Pắc Chung Hy... một đội quân đánh thuê, chả có lý tưởng gì... không trách thua là phải...
Mọi người trên xe từ đấy nhìn chúng tôi với một con mắt khác. Sự xa lạ, khinh khi, cao đạo không còn nữa. Ai cũng thân thiện hơn, cảm phục hơn… Chuyện trò một lúc, cô gái ngồi bên lại khẽ hỏi:
- Chú là thầy giáo dạy Văn... vậy cháu lại xin hỏi!
Tôi gật đầu:
- Ừ, cứ hỏi!
- Thế chú ơi... mấy “Ông Tiếng thu”, “Ông Điêu tàn”, “Ông Lỡ bước sang ngang”, “Ông thi sỹ ru với gió...” giờ còn không?
Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:
- Sao cháu lại hỏi thế?
Cô gái lúng túng:
- Dạ... dạ... Là vì trong này họ nói từ ngày theo chế độ mới các ổng “chết” hết cả rồi.
Tôi muốn phì cười và hiểu ra cái nghĩa bóng của từ “chết” kia. Nghĩa là họ không còn làm được thơ nữa. Tôi lại cười xòa và nói:
- Các ổng không những không chết, mà còn làm được nhiều thơ hơn, hay hơn đấy. Chẳng hạn ông Lưu Trọng Lư vào tuyến lửa có ngay “Người con gái sông Gianh”. Ông Chế Lan Viên cũng viết được nhiều lắm, cả thơ, cả lý luận phê bình, ông đã có nhiều bài mới rất hay, tiêu biểu như “Người đi tìm hình của Nước”, rồi “Đất nước có bao giờ đẹp như thế này chăng”... Ông Nguyễn Bính thì vẫn công tác ở Ty văn hóa Nam Định, cũng có nhiều bài rất hay, như “Đêm sao sáng”, “Người vợ miền Nam”... Còn thi sỹ tình yêu Xuân Diệu thì cũng có nhiều bài thơ mới thật lay động lòng người, như “Ngói mới” và nhiều bài thơ tình làm cho lớp lớp già trẻ say như điếu đổ. Ông còn rất hăng hái đi nói chuyện thơ, bình thơ ở khắp nơi, vào cả tuyến lửa, cứ như cái thuở hoa niên vậy...
Mọi người im lặng, chăm chú nghe. Cô gái thì lại thốt lên:
- Ôi, thật là tuyệt... Vậy mà chúng cháu chả biết gì... Trong này họ bưng bít ghê thật đấy...
Chúng tôi còn muốn nói chuyện dài dài về văn thơ. Tôi còn đang muốn hỏi các cô về những Phạm Duy, Vũ Hoàng Chương vào trong này thế nào... thì anh lái xe đã lên tiếng:
- Xe đã đến Hố Nai... Nơi đây có rất nhiều bà con vùng Bùi Chu, Phát Diệm sinh sống. Sau Xuân Lộc, thì Hố Nai là cửa ngõ Sài Gòn mà quân đội Việt Nam cộng hòa quyết "Tử thủ" để giữ Sài Gòn. Nhưng giữ sao nổi... Quân giải phóng các chú đánh kinh thật đấy... Mỹ có còn thì nhất định Mỹ cũng phải thua thôi...
Xe đi một đoạn, anh xế lại giới thiệu tiếp:
- Đây là xa lộ Biên Hòa... kia là Tam Hiệp... và kia là Tổng kho Long Bình. Long Bình là một tổng kho lớn nhất của Mỹ tại Đông Dương và Nam Việt... Tưởng rằng Mỹ sẽ nuôi được quân cộng hòa mãi, nào ngờ đến Mỹ cũng phải thua Cộng sản... à ... à thua Quân giải phóng... Hì! Hì!
Mọi người lại nhìn ra, ngắm nhìn quang cảnh phố xá, làng mạc. Đâu đâu cũng thấy cờ băng, biểu ngữ rực rỡ, rợp trời, người xe tấp nập. Dấu ấn chiến tranh chỉ còn thấy rõ là những đống xe pháo, Hon đa chất đầy bên đường. Chỗ thì chỏng chơ, chỗ thì đang nghi ngút bốc khói...
Thoắt cái xe lại dừng. Anh xế lại lên tiếng:
- Đã đến Thảo Cầm Viên (Vườn bách thú) xin chia tay với bà con. Xe tôi phải dừng ở đây rồi...
Mọi người lục tục xuống xe. Bấy giờ bà con mới ríu rít nhoài ra bắt tay chúng tôi hết sức thân mật và cũng tỏ ra nuối tiếc phải chia tay. Nhiều người dúi cho chúng tôi những túi hoa quả, nào là chôm chôm, xoài, cam, mãng cầu... chúng tôi không làm sao nhận hết được.
Chúng tôi xuống xe, say mê ngắm cảnh Sài Gòn. Sài Gòn to tát quá, mênh mông, hoa lệ quá. Đường phố vẫn tấp nập. Cờ quạt vẫn rợp trời. Thỉnh thoảng lại có những đoàn quân cảnh, ăn mặc chỉnh tề, súng ống hiên ngang rầm rập đi trên đường. Lại có cả từng tốp ngụy quân, ngụy quyền kéo nhau đi trình diện chính quyền cách mạng. Nét mặt người nào cũng tỏ ra bớt lo sợ.
Chúng tôi còn đang lơ ngơ bên đường chờ bắt tiếp xe thì một chiếc xe con màu trắng đục lướt tới. Tôi vừa giơ tay thì chiếc xe đã dừng ngay tức khắc. Một người cao dong dỏng, chạc ngoài năm mươi, áo bốn túi, đầu đội mũ phớt, dáng một công chức chính quyền cũ, hay như một ký giả... mở cửa xe bước ra. Ông ta khúm núm, nhỏ nhẹ có vẻ như sợ kiểm tra, hay bắt đi trình diện:
- Dạ... thưa ba ông cần gì ạ? (Mặc dù chúng tôi chỉ tuổi con, cháu ông. Thái độ ông thế làm chúng tôi thấy e ngại). Chúng tôi cùng cười vui:
Ông có vô Bến Thành...Chúng tôi muốn nhờ ông cho quá giang một đoạn...
Ông ta khẽ thở phào, vui lên, lại cúi người:
- Dạ... mời ba ông lên xe ạ....
Đi được một đoạn thì thấy xe dừng. Ông ta mở cửa rồi lâu lâu không thấy lên. Chúng tôi nghi hoặc liền bước xuống thì thấy ông đang nằm ngửa dưới gầm xe, hì hục sửa chữa cái gì đó. Tôi cúi xuống gằn từng tiếng, nói với ông ta:
- Hôm nay đã là ngày giải phóng. Sài Sòn đã thuộc về chúng tôi... Ông không thấy từng đoàn quân cảnh chúng tôi trên đường phố kia sao... Ông giở trò gì là không yên với chúng tôi đâu...
Ông ta liền chui ra khỏi gầm xe, vừa phủi quần áo vừa gắng gượng cười:
- Dạ... dạ... không có chuyện gì đâu ạ... Xe bị hư chút xíu... tui đã sửa xong rồi ạ... Mời các ông tiếp tục lên xe ạ...
Chúng tôi lên xe. Xe tiếp tục bon bon chuyển bánh. Từ lúc ấy ông ta có vẻ tự nhiên hơn. Ông ta giơ tay chỉ giới thiệu với chúng tôi:
- Kia là Đại sứ quán Mỹ, trên nóc nhà, máy bay trực thăng đỗ xuống được... xa xa trước mặt kia là dinh Độc Lập, tức Phủ Tổng thống... Có ai ngờ dưới dinh ấy lại còn có một hầm vũ khí của cách mạng đã từ lâu đấy... Rẽ trái là ra chợ Bến Thành... Rồi có dịp các ông sẽ đi thăm hết cảnh Sài Gòn...
Xe đến chợ Bến Thành thì chúng tôi chia tay ông. Chúng tôi thật vui vì được nhờ xe ông đến tận nơi. Còn ông, chắc chắn cũng vui vì được chở “Bộ đội giải phóng”....
Hôm ấy chúng tôi lang thang đi thăm nhiều nơi của Sài Gòn, cứ như “Ba chàng Ngự lâm trên đường phố lạ...”. Đến đâu bà con cũng níu kéo mời vào chiêu đãi hủ tiếu (phở) nhưng chả ai dám ăn vì thủ trưởng đã dặn phải cảnh giác. Chúng tôi chỉ mua những bọc trà đá uống và ăn trái cây thôi. Chiều về ai cũng đói meo mà vẫn thấy thật vui. Lúc nào cũng muốn cất lời ca “Sài Gòn ơi... ta đã về đây...”.
T.T
(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)